chương 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu (28 trang); chương 2. Địa điểm, thời gian, tư liệu và phương pháp nghiên cứu (10 trang); chương 3. Kết quả và thảo luận (86 trang); Kết luận (2 trang); khuyến nghị (1 trang); danh mục các công trình công bố của tác giả (01 trang) bao gồm 6 công trình; tài liệu tham khảo (15 trang) bao gồm 171 tài liệu tham khảo; phần phụ lục bao gồm 12 phụ lục.
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Khái quát về tình hình nghiên cứu dơi trên thế giới Năm 1758, Carl Linnaeus, người sáng lập chuyên ngành Phân loại học hiện đại đã phân loại 7 loài dơi thuộc 1 giống Vespertilio thuộc bộ Linh trưởng – Primates [117]. Đó chính là những dẫn liệu đầu tiên và chính thức về các loài dơi trên thế giới. Có thể khái quát những công trình đã nghiên cứu về dơi thuộc 3 lĩnh vực chính dưới đây: Hệ thống phân loại: gồm những công trình nghiên cứu về nguồn gốc tiến hóa và phân loại học.
Những kết quả nghiên cứu về nguồn gốc tiến hóa đã cho thấy các loài dơi xuất hiện trên trái đất cách đây khoảng 52,5 triệu năm [89]. Cho đến nay, bộ Dơi (Chiroptera) bao gồm hơn 1200 loài hiện biết thuộc 204 giống, 18 họ, chiểm khoảng 20% tổng số loài thú trên thế giới và có thành phần loài đa dạng thứ hai trong lớp Thú (Ma mmalia), sau bộ Gậm nhấm (Rodentia) [89][124]. Đáng chú ý, vị trí phân loại của nhiều taxa thuộc bộ Dơi đã thay đổi trong những thập kỷ qua và số lượng taxa mới cho khoa học ngày càng tăng lên. Một số chuyên gia ước tính, đến năm 2025, Dơi sẽ ghi nhận về thành phần loài đa dạng và phong phú nhất trong lớp Thú.
Sinh thái học: Có thể nhận thấy rằng nghiên cứu về Sinh thái học được thực hiện trên cơ sở kết quả nghiên cứu về Phân loại học. Thực tế, có những công trình nghiên cứu riêng về Sinh thái học, có những công trình nghiên cứu bao gồm cả kết quả về Phân loại học và Sinh thái học. Những kết quả nghiên cứu về sinh thái học đã chỉ ra các loài dơi có đặc điểm sinh thái rất đa dạng; có vai trò quan trọng trong hệ sinh thái tự nhiên, bao gồm vai trò thụ phấn, phát tán thực vật, góp phần giữ cân bằng sinh thái qua mối quan hệ vật chủ-con mồi. Nhiều loài cây trồng, trong đó có Sầu riêng (Durio zibethinus) thích nghi đặc biệt với hình thức thụ phấn nhờ loài Dơi quả lưỡi dài (Eonycteris spelaea).
Nơi ở của các loài dơi có thể là hang động, dưới tán cây, trong thân cây, dưới mái những công trình xây dựng, v.v… Thức ăn của dơi bao gồm phấn hoa, mật hoa, quả, hạt, nhiều loại động vật như: côn trùng, cá, lưỡng cư và bò sát cỡ nhỏ, v.v… Mỗi năm, dơi chỉ đẻ một lứa, mỗi lứa một con; có một số trường hợp cá biệt đẻ sinh đôi hoặc sinh ba. Thời gian sinh sản của dơi được ghi 6 nhận quanh năm nhưng tập trung chủ yếu trong hai thời kỳ: từ khoảng tháng 3 đến tháng 5 và khoảng tháng 8 đến tháng 10. Âm sinh học: Cùng với khả năng bay lượn thực sự và tập tính hoạt động ban đêm, nhiều loài dơi còn phát ra tiếng kêu siêu âm. Theo Griffin (1958) [97], Lazzaro Spallanzani là người đầu tiên phát hiện tiếng kêu siêu âm của dơi vào năm 1790.
Tuy nhiên, những phát hiện của Lazzaro Spallanzani và nhiều nhà khoa học sau đó không được chứng minh cụ thể nên ít được chú ý. Năm 1944, sau nhiều năm nghiên cứu và công bố những kết quả thu được trên những tập san khoa học, Griffin đã đề xuất hai thuật ngữ mới trong tiếng Anh (“to echolocate” và “echolocation”) để diễn giải khả năng và quá trình xác định vật thể căn cứ vào thông tin từ tiếng vọng ở các loài dơi (Griffin, 1944) [96]. Đặc biệt, từ khi cuốn sách “Listening in the Dark” được Griffin xuất bản năm 1958 [97], những nghiên cứu về tiếng kêu siêu âm của dơi mới thực sự được quan tâm và số lượng công trình nghiên cứu về lĩnh vực này ngày càng tăng lên cả về quy mô và mức độ. Những kết quả nghiên cứu từ tiếng kêu siêu âm của dơi đã được vận dụng trong nhiều lĩnh vực của đời sống của con người: giám sát phương tiện giao thông, chế tạo thiết bị định vị bằng sóng siêu âm, v.v… Hiện nay, để đạt được kết quả chính xác và thuyết phục về vị trí phân loại dơi, những công trình nghiên cứu cần thực hiện phối kết hợp cả 3 lĩnh vực: hình thái học, tiếng kêu siêu âm và sinh học phân tử.
Những kết quả nghiên cứu tiếng kêu siêu âm của dơi có vai trò quan trọng trong nghiên cứu đặc điểm sinh thái và phân loại học, là cơ sở khoa học cần thiết đối với công tác giám sát và bảo tồn. Do vậy, những nội dung về đặc điểm tiếng kêu siêu âm của các loài dơi ngày càng được đề cập nhiều hơn trong những công trình khoa học và phương tiện truyền thông đại chúng. Lược sử nghiên cứu Dơi ở Việt Nam Trong lớp Thú, bộ Dơi (Chiroptera) có thành phần loài đa dạng và phong phú thứ hai (chỉ sau bộ Gặm nhấm - Rodentia) [80, 118, 124, 159]. Cho đến nay, đã có hơn 1.300 loài dơi thuộc 204 giống, 20 họ được phát hiện trên toàn thế giới [89][118, 124].
Ở Việt Nam, bộ Dơi có thành phần đa dạng và phong phú nhất trong lớp thú [7, 143]. Các loài thú lớn ở Việt Nam đã được nghiên cứu từ trước thế kỉ XVIII [15]. Tuy nhiên, những kết quả nghiên cứu có ghi nhận về các loài dơi ở Việt Nam mới chỉ được công bố từ năm 1869 [99, 120]. Căn cứ vào các phân chia lược 7 sử nghiên cứu thú ở Việt Nam [15], chúng tôi chia lược sử nghiên cứu dơi ở Việt Nam thành các giai đoạn sau.
Giai đoạn trước 1954 Trong giai đoạn này các nghiên cứu về dơi ở Việt Nam chưa thực sự được chú ý, chủ yếu do người nước ngoài thực hiện và được công bố chung trong các nghiên cứu về khu hệ động vật hay khu hệ thú. Dẫn liệu đầu tiên về dơi ở Việt Nam được công bố năm 1869 bởi Peters. Ông đã mô tả loài Pteropus hypomelanus condorensis ở Côn Đảo [120]. Sau đó, có nhiều tác giả công bố danh sách các loài dơi ở nước ta như: Morice (1875) [164], Dobson (1875) [85], Pousargues (1904) [165]; Bonhote (1907) [75], Kloss (1920) [106], Thomas (1925, 1927, 1928) [139-142], Ogood (1932) [119], Delacour (1940) [163].
Trong đó, đáng chú ý nhất có các công trình nghiên cứu của Thomas (1925, 1927, 1928), Ogood (1932), Sanborn (1939), Dorst (1954), các tác giả này đã mô tả chi tiết đặc điểm hình thái ngoài, kích thước sọ, đặc điểm răng của một số loài dơi ở Việt Nam. Tuy nhiên trong các nghiên cứu này, vẫn còn nhiều tổ hợp loài chưa định danh cụ thể như Rhinolophus sp. Mặt khác, hệ thống phân loại và danh pháp khoa học của nhiều loài dơi gần đây đã có nhiều thay đổi trên cơ sở nghiên cứu đặc điểm sinh học phân tử và tiếng kêu siêu âm của chúng. Vì vậy, một số tên khoa học như Pteropus minima, Pteropus edwardsi, Megadonna sparma, Vespertilio adversus, Nycticejus te mmincki, Vespertilio pictus, Cheiromeles torquatus [164]; Cynonycteris amplexicaudatus, Rhinolophus minor [165]; Pipistrellus sp.bicolor, Pipistrellus tralatitius, Pipistrellus coromandrus tramatus [141, 142]; Murina tubilaris [119];.
đã bị thay đổi hoặc cần tiếp tục nghiên cứu với ứng dụng kỹ thuật hiện đại để cung cấp cơ sở khoa học đầy đủ hơn.1 cho thấy, thành phần loài dơi ghi nhận ở nước ta thời kỳ trước năm 1954 bao gồm 47 loài thuộc 21 giống và 6 họ. Giai đoạn 1954 - 1975 Trong thời kỳ này, do chiến tranh nên nghiên cứu dơi ở nước ta ít được quan tâm. Các nghiên cứu chủ yếu là thống kê thành phần loài, được thực hiện chủ yếu 8 bởi các nhà khoa nước ngoài và là một phần trong các nghiên cứu về khu hệ thú ở Việt Nam (bảng 1. Thành phần loài dơi ghi nhận ở Việt Nam trước 1954 và từ 1954 - 1975 Nguồn tài liệu Stt Tên khoa học Tên việt Nam ≤ 1954 1954 - 1975 I Pteropodidae Họ Dơi quả [154, 155, 1.
Cynopterus brachyotis Dơi chó cánh ngắn [162] 157] [75, 119, 140- 2. Cynopterus sphinx Dơi chó ấn 142, 161, 163, 165] 3. Eonycteris spelaea Dơi quả lưỡi dài [119, 163] [154, 155] 4. Macroglossus minimus Dơi ăn mật hoa bé [154, 155] 5.
Macroglossus sobrinus Dơi ăn mật hoa lớn [164, 165] [154, 156] Dơi quả không đuôi 6. Megaerops niphanae [119, 140, 163] [154, 155] lớn 7. Pteropus hypomelanus Dơi ngựa bé [106, 120] [154-156] 8. Pteropus lylei Dơi ngựa ly-lei [154, 155] [119, 140-142, 9.
Pteropus vampyrus Dơi ngựa lớn 163-165] [154, 155] [119, 141, 161, [154, 155, 10. Rousettus leschenaulti Dơi cáo nâu 163] 157] 11. amplexicaudatus Dơi cáo xám [165] II Rhinolophidae Họ Dơi lá mũi [119, 141, 161- [131, 155, 12. Rhinolophus affinis Dơi lá đuôi 163, 165] 157] 13.
chaseni Dơi lá sa-đen [123, 165] [155, 156] 14. siamensis Dơi muỗi thái lan [119, 163] 15. macrotis Dơi lá tai dài [119, 163] [131] 16. pearsoni Dơi lá péc-xôn [119, 163] [168] [119, 142, 161, 19.
sinicus Dơi lá trung hoa [131] 21. thomasi Dơi lá tô-ma [155] 22. subbadius [119, 163] III Hipposideridae Họ Dơi nếp mũi 23. Aselliscus stoliczkanus Dơi nếp mũi ba lá [119, 162, 163] [131, 155] Dơi nếp mũi không 24.
Coelops frithii [119, 163] [131, 155] đuôi [119, 139, 141, 25. Hipposideros armiger Dơi nếp mũi quạ 161-163, 165] [155, 168] 26. alongensis Dơi nếp mũi nhỏ [161] [131] 27. cineraceus Dơi nếp mũi lông đen [119, 163] [131, 155] 28.
diadema Dơi nếp mũi vương miện [119, 163, 165] [155] 9 29. galeritus Dơi nếp mũi nâu [165] [119, 161, 163, [131, 155, 30. larvatus Dơi nếp mũi xám bé 165] 156] [119, 141, 161- 31. pomona Dơi nếp mũi xinh 163, 165] [131, 155] 32.
pratti Dơi nếp mũi Prat [119, 162, 163] [155] IV Megadermatidae Họ Dơi ma 33. Megaderma spasma Dơi ma nam [164, 165] [155, 156] V Emballonuridae Họ Dơi bao đuôi 34. Taphozous theobaldi Dơi bao đuôi đen [161] [155, 157] [85, 161, 162, [131, 155, 35. melanopogon Dơi bao đuôi nâu đen 165] 157] VI Molossidae 16.
Họ Dơi thò đuôi 36. Chaerephon plicatus Dơi thò đuôi [131] VI Vespertilionidae 17. Hypsugo pulveratus Dơi răng cửa lớn [165] 38. Ia io Dơi iô [130] 39.
Pipistrellus abramus Dơi muỗi sọ dẹt 165] [131] 41. ceylonicus Dơi muỗi xây lan [119, 163] 42. coromandra Dơi muỗi nâu [155, 166] 43. tenuis Dơi muỗi mắt 142, 161, 163] [155] 45.
Scotomanes ornatus Dơi đốm hoa [131] [131, 155, 46. Scotophilus heathii Dơi nghệ lớn [119, 163] 166, 167] [75, 119, 140, [131, 155, 47. kuhlii Dơi nghệ nhỏ 141, 161-164] 166, 167] [119, 139, 140, 48. Tylonycteris fulvida Dơi chân đệm thịt 163] [155] 49.
Myotis hasseltii Dơi tai hát-xen [131] 50. siligorensis Dơi tai sọ cao [119, 162, 163] [155] [131] 51.