LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Hiện nay, quá trình toàn cầu hóa trên thế giới phát triển ngày càng mạnh mẽ, thúc đẩy sự hội nhập về kinh tế, văn hoá, chính trị, xã hội của các nước vào nền kinh tế thế giới và khu vực. Nó trở thành điều kiện bắt buộc cho sự phát triển kinh tế của các quốc gia. Đặc biệt, sau cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 2007 – 2008, các quốc gia luôn phải đối mặt với vấn đề làm thế nào để phục hồi nguồn vốn, và vấn đề được quan tâm nhất ở đây chính là nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI).
FDI là yếu tố quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế dài hạn nên hầu hết các quốc gia đều quan tâm đến thu hút dòng vốn này, trong đó có Việt Nam. Dòng chảy của FDI vào một quốc gia phụ thuộc vào quyết định lựa chọn của nhà đầu tư nước ngoài, do đó có rất nhiều nghiên cứu ra đời nhằm đưa ra những nhân tố tác động đến quyết định này. Tuy nhiên, tập hợp các yếu tố ảnh hưởng và tầm quan trọng của chúng tại mỗi quốc gia không giống nhau và luôn thay đổi do động cơ của nhà đầu tư nước ngoài thay đổi nên vấn đề thu hút FDI luôn là thách thức lớn đối với các nước sở tại do họ luôn phải đối mặt với khó khăn trong việc xác định các yếu tố tác động quan trọng. Vì thế để có thể hiểu được động cơ của nhà đầu tư nước ngoài và các nhân tố tác động đến FDI là một nỗ lực lớn đối với Việt Nam.
Từ năm 1986, nền kinh tế Việt Nam chuyển đổi từ kinh tế tập trung sang nền kinh tế thị trường, điều này thực sự thu hút sự đầu tư của nước ngoài. Dòng vốn FDI vào Việt Nam ngày càng tăng lên, thực tế chứng minh rằng, hơn 30 năm qua hoạt động FDI đã đạt được nhiều thành tựu nổi bật. Với tiềm năng kinh tế và thị trường lớn chưa được khai phá, Việt Nam nổi lên với với tốc độ tăng trưởng kinh tế khá cao và ổn định, vị trí thuận lợi, nguồn tài nguyên thiên nhiên đa dạng, nguồn lao động trẻ, dồi dào và có chi phí thấp, điều này đã thu hút sự chú ý của các nhà đầu tư nước ngoài. Dòng vốn FDI vào Việt Nam ngày càng tăng lên, thực tế chứng minh rằng, hơn 30 năm qua hoạt động FDI đã đạt được nhiều thành tựu nổi bật.
FDI vào Việt Nam giúp kích thích tăng trưởng kinh tế, kiềm chế lạm phát, tạo việc làm, nâng cao năng suất, tăng cường xuất khẩu. Tính đến ngày 20/10/2019, cả nước có 3.094 dự án mới được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, tăng 25,9% số dự 1 án so với cùng kỳ năm 2018. Tổng vốn đăng ký cấp mới 12,83 tỷ USD, bằng 85,4% so với cùng kỳ năm 2018. FDI vào Việt Nam giúp kiềm chế lạm phát, kích thích phát triển kinh tế, giải quyết vấn đề việc làm cho người lao động,… Vì vậy, cần một nghiên cứu thực nghiệm với mục đích lượng hóa và xác định các yếu tố tác động tới FDI vào nền kinh tế Việt Nam.
Do đó, đề tài này tập trung làm rõ các nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến dòng chảy FDI vào Việt Nam và đánh giá mối liên kết giữa FDI và các yếu tố tác động đến thu hút FDI nhằm đưa ra các nguyên tắc cụ thể trên cơ sở các tiêu chí rõ ràng dựa trên số liệu quan sát và thu thập trong 30 năm kể từ năm 1990 đến năm 2019. Nghiên cứu đưa ra nhóm các nhân tố quan trọng trong việc thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài bao gồm: GDP, FDI, tổng nợ (DEBT), lạm phát (INF), thương mại (TRADE), và cuối cùng là yếu tố lượng vốn nguồn nhân lực sẵn có tại nước sở tại (HR) nhằm nhận dạng và đo lường mức độ tác động của “Các nhân tố ảnh hưởng đến dòng FDI vào Việt Nam?” làm tiền đề cho chính sách thu hút FDI và trả lời câu hỏi “Làm thế nào để Việt Nam có thể thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài?” 2. Tổng quan các nghiên cứu 2. Tổng quan các nghiên cứu nước ngoài Amanuel Mekonnen Workneh (2014) đã đóng góp công trình nghiên cứu đáng chú ý: Factors Affecting FDI Flow in Ethiopia: An Empirical Investigation của Amanuel Mekonnen Workneh.
Nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy bội để ước tính các nhân tố ảnh hưởng đến dòng vốn FDI ở Ethiopia. Theo cách tiếp cận được sử dụng trong tài liệu FDI, biến phụ thuộc được sử dụng trong nghiên cứu này là dòng vốn FDI ròng tính theo phần trăm GDP. Dựa trên tính khả dụng của dữ liệu, các biến đã được chọn: quy mô thị trường, độ mở cửa thương mại, tỷ lệ lạm phát, CSHT và vốn nhân lực. Nghiên cứu này thực nghiệm điều tra các yếu tố ảnh hưởng đến vốn ĐTNN của Ethiopia trong giai đoạn 1990 – 2011, cho thấy độ mở thương mại và tỷ lệ lạm phát là những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến vốn đầu tư FDI vào Ethiopia trong giai đoạn 1990 – 2011, trong khi quy mô thị trường, CSHT và vốn nhân lực được coi là yếu tố không đáng kể về mặt thống kê đối với vốn đầu tư trực tiếp của Ethiopia trong năm 1990 – 2011.
Hệ số mở cửa thương 2 mại tích cực và có ý nghĩa biểu thị tầm quan trọng của việc thực hiện chiến lược tăng trưởng hướng ngoại hơn. Hệ số lạm phát tiêu cực và đáng kể cho thấy tầm quan trọng của môi trường chính sách kinh tế vĩ mô tập trung hơn, hỗ trợ nền kinh tế và tạo niềm tin cho các nhà đầu tư tiềm năng. Các bước cần thiết phải được thực hiện để kiềm chế lạm phát thông qua việc áp dụng các chính sách tài khóa hợp lý. Hạn chế của nghiên cứu này là chưa đánh giá một cách đa chiều về các nhân tố có tầm quan trọng không nhỏ, ảnh hưởng đến FDI như nhân lực, nguồn vốn, tài nguyên,… của nước nhận đầu tư FDI.
Steve Onyeiwu (2003) với nghiên cứu đáng chú ý khác: Analysis of FDI Flows to Developing Countries: Is the MENA Region Different? Tác giả đã chỉ ra rằng các quốc gia MENA khác với các nước đang phát triển khác liên quan đến dòng vốn FDI thông qua phương pháp hồi quy và mô hình OLS. Bên cạnh đó tác giả chỉ ra ngoài việc tính đến các biến theo thời gian và quốc gia cụ thể, hồi quy hiệu ứng cố định có sự phù hợp tốt hơn so với mô hình OLS gộp. Ngoài ra, kết quả từ các hồi quy xuyên quốc gia đơn lẻ có thể gây hiểu nhầm khi các tác động cụ thể của quốc gia không được quan sát và các vấn đề nội sinh bị bỏ qua. Kết luận cho thấy một số yếu tố quyết định dòng vốn FDI đến các nước đang phát triển không có ý nghĩa đối với dòng vốn FDI đến các quốc gia MENA.
Chúng bao gồm tỷ lệ lợi nhuận về đầu tư, CSHT và các nguyên tắc kinh tế cơ bản. Quan trọng hơn, nếu các giá trị của tất cả các yếu tố quyết định của dòng vốn FDI là như nhau đối với tất cả các nước đang phát triển, thì một quốc gia MENA có nhiều khả năng nhận được vốn FDI ít hơn đáng kể so với một quốc gia không thuộc MENA. Điều này sẽ đưa ra cho Việt Nam – quốc gia đang phát triển không nằm trong nhóm MENA sẽ nhận thấy rõ được những lợi thế và bất lợi của mình trên thị trường thu hút vốn đầu tư FDI. Hai yếu tố quan trọng giải thích tại sao các quốc gia MENA nhận được ít vốn FDI hơn các quốc gia khác: tham nhũng/quan liêu và mở cửa thương mại.
Kết luận này được hỗ trợ bởi Bartra và những cộng sự (2000), người cho rằng hai hạn chế hàng đầu mà các công ty nước ngoài gặp phải ở các nước MENA là bất ổn chính sách và tham nhũng. Do đó, các nước MENA cần thực hiện hai chính sách lớn để thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Đầu tiên, họ phải giảm quy mô của chính phủ qua việc thực hiện các chương trình tư nhân hóa sâu rộng. Tiếp đó thu hẹp phạm vi của chính phủ, tư nhân hóa làm giảm tham nhũng và 3 băng đỏ quan liêu.
Chính sách trên cũng mở ra cho các nhà đầu tư nước ngoài, các lĩnh vực của nền kinh tế đã bị nhà nước chi phối. Một chính sách quan trọng thứ hai là tự do hóa thương mại ở các nước MENA. Kết quả hồi quy cho thấy rằng mở cửa thương mại có tác động đáng kể và tích cực đến dòng vốn FDI đến các nước MENA. Điều này cho thấy các nước MENA nên sắp xếp các biện pháp chính sách của mình, bắt đầu bằng việc tập trung vào tư nhân hóa và tự do hóa thương mại, và sau đó chuyển sang cải thiện các nguyên tắc kinh tế cơ bản.
Pravakar Sahoo (2006) với công trình nghiên cứu Foreign Direct Investment in South Asia: Policy, Trends, Impact and Determinants. Tác giả đã chỉ ra và làm rõ các nhân tố tác động đến dòng chảy FDI tại các nước Nam Á, bao gồm Ấn Độ, Bangladesh, Srilanka, Pakistan, sử dụng bảng đồng liên kết và OLS tổng hợp (GLS) trong giai đoạn 1975 – 2003. Kết quả nghiên cứu chỉ ra các nhân tố như: quy mô thị trường, tốc độ tăng trưởng NNL, chỉ số CSHT và độ mở cửa nền kinh tế có tác động đến dòng FDI. Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng để thu hút ngày càng nhiều vốn FDI vào những nước này cần phải duy trì đà tăng trưởng để có thể cải thiện và phát triển quy mô thị trường, chính sách thương mại, chính sách tài khóa để sử dụng một cách hiệu quả nguồn lao động, giải quyết những vấn đề khó khăn về CSHT và khuyến khích các chính sách thương mại mềm dẻo.
Pravin Jadhav (2012) với công trình Determinants of foreign direct investment in BRICS economies: Analysis of economic, institutional and political factor. Xác định rõ các nhân tố tác động lên FDI từ năm 2000 – 2009 tại các nền kinh tế BRICS (Brazil, Nga, Ấn Độ, Trung Quốc, Nam Phi), bằng cách sử dụng kiểm định tính dừng (panel unit – root test) và hồi quy đa biến. Quy mô thị trường được đo lường bằng GDP thực có tương quan dương với FDI và có ý nghĩa thống kê, điều này chỉ ra rằng phần lớn các nhà đầu tư bị thúc đẩy bởi mục đích tìm kiếm thị trường. Phân tích thực nghiệm cũng chứng minh rằng hệ số của các biến độ mở thương mại, tài nguyên thiên nhiên, quy định của luật pháp và nhân quyền đều có ý nghĩa thống kê.