Chương 1: Một số van dé lý luận và thực tiễn về Dau tư trực tiếp nước ngoài Chương 2: Thực trạng đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Hải Phòng giai đoạn 2006-2010 Chương 3: Các giải pháp đây mạnh hoạt động Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Hải Phòng trong thời gian tới CHUONG 1 MOT SO VAN DE LY LUAN VA THUC TIEN VE DAU TU TRUC TIEP NUOC NGOAI 1. Lý luận chung về dau tư quốc tế va dau tư trực tiếp nước ngoài 1. Khái niệm, bản chất, đặc điểm và các hình thức của đầu tư trực tiếp nước ngoài 1. Khái niệm Đầu tư trực tiếp nước ngoài Ngày nay, đầu tư trực tiếp nước ngoài đã trở thành một hình thức đầu tư phố biến và chiếm vị trí quan trọng trong các hoạt động đầu tư quốc tế và đã được các tô chức kinh tế quốc tế, luật pháp các quốc gia định nghĩa theo nhiều cách khác nhau: Theo Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), FDI là: “mét khoản dau tư với những quan hệ lâu dài, theo đó, một tổ chức trong một nên kinh tế (nhà đầu tư trực tiến) thu được lợi ích lâu dai từ một doanh nghiệp đặt tại một nên kinh tế khác.
Mục đích của nhà dau tư trực tiếp là muốn có nhiều ảnh hưởng trong việc quan lý doanh nghiệp đặt tại nên kinh tế khác đó”.31] FDI là một loại hình đầu tư quốc tẾ, trong đó chủ đầu tư của một nền kinh tế đóng góp một số vốn hoặc tài sản đủ lớn vào một nền kinh tế khác dé sở hữu hoặc năm quyền điều hành đối tượng (thường là các doanh nghiệp) mà họ đã bỏ vốn đầu tư nhằm mục đích thu lợi nhuận hoặc các lợi ích kinh tế khác. FDI là sự di chuyền von, tai sản, công nghệ hoặc bắt kỳ một tài sản nào từ nước đi đầu tư sang nước nhận đầu tư để thành lập hoặc kiểm soát một doanh nghiệp nhăm mục đích kinh doanh có lãi. Luật Đầu tư 2005 của Việt Nam cũng định nghĩa về FDI như sau: Đầu tư nước ngoài là việc nhà đầu tư đưa vào Việt Nam vốn bang tiền hoặc bat kỳ tài sản nào dé tiến hành các hoạt động đầu tư. Dau tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia hoạt động quản lý đầu tư.
FDI khác với đầu tư gián tiếp nước ngoài, đồng thời FDI cũng là các hoạt động đầu tư thuộc kênh tư nhân, nó khác với đầu tư tài trợ (ODA) của các Chính phủ hoặc các tổ chức quốc tế. Như vậy, mặc dù có rất nhiều các quan điểm khác nhau về FDI nhưng khái quát lai, ta có thé định nghĩa: Đầu tw trực tiếp nước ngoài là sự di chuyển vốn quốc tế thông qua việc nhà dau tư của một nước dua vốn vào một nước khác dé dau tư. Nhà dau tư này trực tiếp tham gia quản lý, tổ chức điều hành sản xuất, tận dụng các ưu thé về von, trình độ công nghệ, kinh nghiệm quản lý tiên tiễn của mình và tận dụng các lợi thé của nước đến đâu tư để kinh doanh nhằm mục dich thu lợi nhuận. Bản chất của Dau tư trực tiếp nước ngoài Theo quan niệm của các nhà kinh tế chính trị theo chủ nghĩa Max thì hoạt động đầu tư nước ngoài được coi là hình thức xuất khẩu “tư bản thừa” (V.Lênin) và chịu tác động, chi phối của các quy luật kinh tế.
Do đó, đầu tư nước ngoài là hoạt động kinh tế mang tính chất khách quan, khi quá trình tích tụ và tập trung tư bản sản xuất tới một mức độ và trình độ nhất định, khi lực lượng sản xuất đã phát triển vượt ra khỏi biên giới của một quốc gia.Lênin, việc xuất khâu tư bản là một đặc điểm cơ bản của chủ nghĩa tư bản độc quyền bởi việc tích tụ và tập trung tư bản sẽ dẫn tới sự “tư bản thừa” là một tất yếu. Tuy nhiên, “tư bản thừa” ở đây mang tinh chất tương đối, nghĩa là “thừa” khi lợi nhuận thu được ở trong nước sẽ thấp hơn so với nêu đầu tư ra nước ngoài. “Néu CNTB chú ý tới phát triển nông nghiệp, dẫn tới việc nâng cao mức sống của nhân dân. thì không thể có hiện tượng tư bản thừa; chừng nào CNTB van còn là CNTB thì số tư bản thừa vẫn còn chuyên dùng không phải để nâng cao mức sống của quân chúng trong một nước nhất định, vì như thể sẽ di đến kết quả làm giảm bót lợi nhuận của bon tư bản.mà là dé tăng thêm lợi nhuận đó bằng cách xuất khẩu tư bản ra nước ngoài, vào những nước lạc hậu.
Tại các nước này, lợi nhuận thường cao, vì tư bản còn it, giá dat dai thấp, tiền công ha, nguyên liệu rể”.Lênin cũng đã dé cập tới hai hình thức của xuất khâu tư bản là: xuất khẩu tư bản cho vay (chính phủ cho vay dé thu lợi tức) và xuất khẩu tư bản hoạt động (xuất 10 khẩu tư bản để xây dựng các nhà máy, xí nghiệp mới, hoặc mua lại những xí nghiệp đang hoạt động ở nước nhận đầu tư để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích thu lợi nhuận cao). Do đó, Người cho rằng xuất khẩu tư bản có tác dụng tích cực vả tiêu cực đối với cả nước xuất khẩu và nhập khâu tư bản. Xuất khẩu tư bản cùng với buôn bán là những đặc điểm cơ ban của thương mại quốc tế trong thời đại tư bản độc quyên. Dưới sự thong tri của tư bản tai chính, xuất khẩu tư ban trở thành một công cụ bảnh trướng và thực hiện sự phân chia thị trường thế giới giữa các tô chức tư bản độc quyên.
Từ các phân tích trên, có thể khái quát bản chất của đầu tư trực tiếp nước ngoài là sự gặp gỡ nhau về nhu cau và lợi ích của một bên là nhà đầu tư nước ngoài và một bên là nước nhận dau tw. Đặc điểm của Đầu tư trực tiêp nước ngoài Trong giai đoạn hiện nay, dau tư trực tiêp nước ngoài có một sô các đặc diém chính sau: > Về vốn góp của nhà DTNN: Nhà dau tư phải đóng góp một lượng vốn tối thiêu theo quy định của từng nước, qua đó họ có quyền được trực tiếp tham gia điều hành đối tượng đầu tư. Ở Việt Nam, chỉ có một số lĩnh vực như ngân hàng, bảo hiểm. mới có quy định tối thiêu này.
> Quyền điều hành, quản lý doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phụ thuộc vào mức vốn góp. Nếu nhà đầu tư góp vốn 100% thì họ có toàn quyền điều hành, hoặc trực tiếp, hoặc thuê người quản lý. > Lợi nhuận của nhà DTNN nhận được tùy thuộc vào kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Lãi, lỗ được phân chia theo tỷ lệ vốn góp trong vốn pháp định sau khi đã trừ đi các chi phí hợp pháp, bao gồm cả thuế lợi tức và các khoản đóng góp cho nước chủ nhà.
> Có nhiều các hình thức đầu tư mới linh hoạt, thuận tiện và phù hợp với trình độ phát triển kinh tế hiện đại, tạo điều kiện, cơ hội và sự lựa chọn cho các chủ thé tham gia hoạt động dau tư trực tiếp nước ngoài. Xu hướng vận động của Đầu tư trực tiếp nước ngoài hiện nay Hoạt động đầu tư nước ngoài phát triển cùng với sự phát triển của nền kinh tế và thương mại thế giới. Toàn cầu hóa kinh tế ngày càng thúc đây sự phát triển của các luồng vốn đầu tư FDI, nhằm tối đa hóa lợi nhuận của vốn thông qua di chuyền sản xuất, kinh doanh đến những địa điểm có lợi nhất về thị trường và chỉ phí. Vai trò của các công ty xuyên quốc gia ngày càng quan trọng trong quá trình phân bô và di chuyên của các dòng vốn FDI trên thế giới.
Trong thời đại ngày nay, sự vận động của FDI có các xu hướng sau: s* Trong quá trình toàn câu hóa kinh tế thé giới, vốn dau tư trực tiếp nước ngoài đã phát triển nhanh và FDI trở thành một hình thức quan trọng trong hoạt động dau tư của các quốc gia trên thể giới. Theo báo cáo của UNCTAD về đầu tư thế giới, tổng vốn lưu chuyển quốc tế trong mấy thập kỷ vừa qua tăng mạnh với mức tăng bình quân khoảng 20- 30%/năm. Những năm 1970, vốn FDI toàn thế giới ở mức khoảng 25 tỷ USD, đến thời kỳ 1980-1985 đã tăng gấp đôi; đến năm 1995 là 235 tỷ USD. Năm 2000, cùng với đà phục hôi kinh tế sau cuộc khủng hoảng tài chính-tiền tệ Châu A (1997-1999), vốn FDI đạt mức kỷ lục, khoảng 1.200 tỷ USD, trong đó có phần tăng mạnh do xu hướng sáp nhập và mua lại các công ty, từ đó hình thành nên các công ty, các tập đoàn không lồ chưa từng có trước đây.
Các năm tiếp theo, FDI có chiều hướng suy giảm, năm 2001 là 760 tỷ USD, năm 2002 còn 543 tỷ USD do trào lưu mua lại-sáp nhập công ty đã giảm xuống và do ảnh hưởng của tình trạng trì trệ, suy thoái của nên kinh tế thế giới, sự phục hồi chậm chạp của các nền kinh tế lớn như Mỹ, Nhật Bản, EU. Năm 2009, vốn FDI toàn cầu đạt 1.040 tỷ USD, giảm 38% so với năm 2008, đến năm 2010 có tăng nhẹ trở lại với khoảng 1.[42] Nhìn chung, luồng vốn FDI đã có khối lượng lớn, chiếm ty trọng đáng ké và trở thành một bộ phận quan trong trong tổng vốn dau tư và tài chính quốc tế. Sự tiến bộ nhanh chóng của khoa học kỹ thuật, công nghệ thông tin, công nghệ viễn thông đã tạo ra những khả năng mới cho hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài diễn ra thuận 12 lợi hơn, nhanh chóng hơn - đó chính là cơ sở của sự gia tăng quy mô, tính đa chiều, đa dạng của các hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài. Trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế đang trở thành một xu thé khách quan tất yếu, tác động to lớn tới sự phát triển của đất nước, việc Việt Nam mở cửa thu hút vốn FDI đang trở thành một đòi hỏi cấp thiết dé tăng cường tiềm lực kinh tế, nâng cao trình độ khoa học, công nghệ, quản lý.
góp phần mở rộng thị trường, day nhanh quá trình CNH-HĐH đất nước. s* Sự phân bổ dòng vốn FDI không đông đều, phan lón tập trung ở các nước công nghiệp phát triển, tuy nhiên dòng vốn FDI chảy vào các nước đang phát triển đang có chiều hướng tăng lên Trong nhiều năm trở lại đây, khoảng 80% lượng vốn FDI toàn cầu được đầu tư giữa các nước công nghiệp với nhau, các nước đang phát triển chỉ tiếp nhận được khoảng 20% lượng vốn còn lại.