CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ KHUYẾN KHÍCH ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO KHOA HỌC CÔNG NGHỆ 1. Khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài vào khoa học công nghệ 1. Đầu tư trực tiếp nước ngoài và đầu tư trực tiếp nước ngoài vào khoa học công nghệ 1. Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài Foreign Direct Investment - FDI không còn là một thuật ngữ mới mẻ.
Tuy nhiên, với mỗi quốc gia, cơ quan, tổ chức, cá nhân, khái niệm FDI có thể hiểu ở nhiều khía cạnh khác nhau. Quỹ Tiền tệ quốc tế (“IMF”) đã sớm đưa ra khái niệm về FDI là: “Một loại hình đầu tư mang tính quốc tế. Trong đó, chủ thể thuộc một nền kinh tế sẽ thu được lợi ích lâu dài từ một chủ thể khác”.28 Lợi ích lâu dài cũng là thuật ngữ được Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (“OECD”) sử dụng khi đề cập đến khái niệm về FDI. Lợi ích lâu dài phản ảnh quan hệ mang tính chất dài hạn giữa NĐT và quốc gia sở tại hoặc doanh nghiệp tại nước sở tại chịu tác động bởi hoạt động đầu tư đó.29 Còn theo WTO “Đầu tư trực tiếp nước ngoài xảy ra khi một NĐT từ một nước (được hiểu là nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (được hiểu là nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó”.30 Việc đề cập đến thuật ngữ FDI cũng thể hiện thông qua các nghiên cứu trong nước.
“FDI là loại hình đầu tư, trong đó chủ đầu tư nước ngoài tham gia đóng góp một số vốn đủ lớn vào việc sản xuất hoặc cung cấp dịch vụ và cho phép họ trực tiếp tham gia quản lý, điều hành đối tượng đầu tư nhằm mục đích thu được lợi nhuận cao hơn qua việc triển khai hoạt động sản xuất kinh doanh ở nước ngoài”.31 Hoặc FDI cũng được hiểu là việc NĐT nước ngoài “Bỏ vốn thực hiện hoạt động kinh doanh 28 IMF (1977), Balance of Payment Mannual, International Monetary Funds, 4th ed, USA, page 136. 30 WTO (1996), “Trade and Foreign Direct Investment”, WTO News, Press/57. 31 Nguyễn Tiến Dũng (2018), tlđd (9), tr. 15 như thành lập tổ chức kinh tế, góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp của các tổ chức kinh tế để nắm giữ quyền điều hành tổ chức kinh tế đó hoặc đầu tư theo hình thức hợp đồng, dự án”.32 Tại Việt Nam, khái niệm FDI được đề cập trước giai đoạn thực hiện công cuộc đổi mới33 và tiếp tục phát triển khái niệm này qua từng giai đoạn của pháp luật đầu tư năm 1987, năm 1992, năm 1996, năm 2005, 2014 và gần đây nhất là Luật Đầu tư năm 2020.
Pháp luật hiện hành không còn quy định định nghĩa rõ về đầu tư trực tiếp hay gián tiếp nước ngoài. Thuật ngữ được sử dụng chung là “đầu tư kinh doanh” để đề cập đến việc “Bỏ vốn để thực hiện hoạt động kinh doanh” của NĐT nước ngoài34. Điểm chung của các khái niệm trên là đều xem xét FDI dưới dạng một khoản đầu tư của NĐT từ một quốc gia khác đến quốc gia sở tại, trực tiếp quản lý với mục đích kinh doanh nhằm tìm kiếm lợi nhuận. Từ đó, tác giả rút ra khái niệm FDI là việc bỏ vốn thực hiện hoạt động đầu tư, trực tiếp tham gia quản lý tại một quốc gia sở tại của các cá nhân mang quốc tịch nước ngoài hoặc tổ chức được thành lập theo pháp luật nước ngoài (Gọi chung là các NĐT) nhằm mục đích lợi nhuận.
Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài Pháp luật về đầu tư hiện nay quy định 05 hình thức đầu tư tại Việt Nam gồm: “Đầu tư thành lập tổ chức kinh tế; Đầu tư góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp; Thực hiện dự án đầu tư; Đầu tư theo hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh (“BCC”); Các hình thức đầu tư, loại hình tổ chức kinh tế mới theo quy định của Chính phủ”.35 Các loại hình thức đầu tư nói trên bao hàm cả đầu tư trực tiếp và gián tiếp. Trước đây, pháp luật Việt Nam phân định khá rõ 02 nội dung này tại Luật Đầu tư năm 2005. Theo đó, “Đầu tư trực tiếp là hình thức mà NĐT bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư đó”. Trong khi đó, đầu tư gián tiếp lại là NĐT thông 32 Lê Như Quỳnh (2022), “Chính sách thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt Nam đến năm 2030” (Luận án tiến sĩ, Trường Đại học Thương mại).
33 Nghị định số 115-CP của Hội đồng Chính phủ ban hành Điều lệ về đầu tư của nước ngoài ở nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. 34 Khoản 22 Điều 3 Luật Đầu tư năm 2020. 35 Điều 21 Luật Đầu tư năm 2020. 16 qua việc “Mua cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu, giấy tờ có giá khác, quỹ đầu tư chứng khoán hoặc định chế tài chính trung gian khác mà không trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư”.
36 Hiện nay, pháp luật đã không còn sự phân định giữa đầu tư trực tiếp và gián tiếp mà chỉ ghi nhận dưới khái niệm chung là “Đầu tư kinh doanh”.37 Tuy nhiên, tính đến hiện tại, khái niệm FDI vẫn thường xuyên được sử dụng. Khác biệt giữa đầu tư trực tiếp và gián tiếp là sự tham gia của NĐT nước ngoài trong việc quản lý hoạt động đầu tư. Với đầu tư trực tiếp, việc tham gia quản lý hoạt động đầu tư được thực hiện trực tiếp bởi các NĐT nước ngoài. Pháp luật đầu tư hiện hành không nêu rõ hình thức đầu tư nào sẽ có NĐT nước ngoài quản lý trực tiếp hoạt động đầu tư này.
Đầu tư gián tiếp lại là hình thức đầu tư với sự tham gia không trực tiếp từ NĐT nước ngoài trong việc kiểm soát, quản lý hoạt động đầu tư. Việc kiểm soát và quản lý này sẽ thông qua bên thứ ba. Từ góc độ cách hiểu này, FDI có thể hiểu là hoạt động đầu tư thông qua việc thành lập tổ chức kinh tế 100% vốn đầu tư nước ngoài; BCC; thực hiện dự án đầu tư. Trong khi với đầu tư gián tiếp, NĐT nước ngoài chỉ thực hiện dưới hình thức góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp; mua cổ phiếu, trái phiếu, giấy tờ có giá khác; quỹ đầu tư chứng khoán hoặc đầu tư thông qua các định chế tài chính trung gian mà không tham gia quản lý, điều hành quá trình sử dụng nguồn vốn đầu tư.
Đối với hình thức FDI thông qua BCC, các NĐT sẽ tham gia vào thị trường quốc gia sở tại bằng ký kết hợp đồng hợp tác liên quan đến hoạt động kinh doanh và việc phân chia lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh tại quốc gia đó. Quyền, nghĩa vụ các bên, trách nhiệm khác trong quá trình hợp tác kinh doanh sẽ được các bên thỏa thuận trong hợp đồng. Hình thức đầu tư này góp phần giúp các quốc gia sở tại tiếp nhận nguồn vốn mới, công nghệ hiện đại, lĩnh vực đầu tư mới. Ngược lại, các quốc gia ký kết hợp đồng với NĐT nước ngoài thể hiện thiện chí hợp tác thông qua việc 36 Khoản 2, 3 Điều 3 Luật Đầu tư năm 2005.
37 Khoản 8 Điều 3 Luật Đầu tư năm 2020. 17 cho phép, cung cấp các ưu đãi, điều kiện thuận lợi trong quá trình đầu tư hoặc đóng góp phần nhỏ nhân lực vận hành, vốn đầu tư dự án. Hình thức nhận được nhiều sự quan tâm và thường xuyên được thực hiện bởi các NĐT nước ngoài là thành lập tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Hình thức này cho phép các NĐT được thành lập doanh nghiệp.
NĐT được quyền trực tiếp tổ chức, quản lý, điều hành doanh nghiệp hoạt động theo đúng định hướng mong muốn. Tuy nhiên, hình thức này đòi hỏi pháp luật của quốc gia sở tại liên quan đến khuyến khích FDI cần được đảm bảo. Việc thể hiện tính khuyến khích FDI thông qua việc tạo lập các quy định tạo thuận lợi cho NĐT thực hiện thủ tục thành lập cũng như trong suốt quá trình đầu tư cần được đặc biệt quan tâm, xây dựng. Khác với 02 hình thức nêu trên, thực hiện dự án đầu tư là việc NĐT thực hiện một dự án nhất định đã được lựa chọn hoặc thông qua.
So với 02 hình thức trên, việc thực hiện dự án đầu tư thể hiện tính chuyên môn hóa của NĐT thông qua việc thực hiện một dự án cụ thể đã được lựa chọn. Tuỳ vào từng quốc gia, vấn đề lựa chọn NĐT nước ngoài thực hiện dự án đầu tư sẽ được thực hiện bằng nhiều hình thức khác nhau. Các hình thức lựa chọn này đều nhằm mục đích chọn lọc các NĐT có đủ năng lực chuyên môn, tài chính, kỹ thuật, công nghệ,… và mục tiêu rõ ràng trong việc triển khai thực hiện hiệu quả các dự án được phân công. Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài vào khoa học công nghệ Toàn cầu hóa và sự phát triển liên tục các thành tựu từ các cuộc cách mạng công nghiệp, các quốc gia dần quan tâm đến việc can thiệp, điều chỉnh bằng chính sách, pháp luật liên quan đến việc thúc đẩy khoa học công nghệ.
Với tính khách quan và nội hàm rộng, khái niệm khoa học công nghệ được ghi nhận tại rất nhiều tài liệu, nghiên cứu. Tuy nhiên, việc định nghĩa này thường không xem xét khoa học công nghệ cùng một khái niệm mà tách bạch cụm từ này thành 02 khái niệm. Theo đó, “Khoa học bao gồm việc nghiên cứu một cách có hệ thống về cấu trúc, hành vi của thế giới vật chất và tự nhiên thông qua quan sát và thí nghiệm”, 18 “Công nghệ là ứng dụng của kiến thức khoa học cho các mục đích thực tiễn” .38 Trong khi đó, một định nghĩ khác lại cho rằng công nghệ là kiến thức thông qua việc áp dụng trực tiếp các nguyên lý, khái niệm khoa học lại mang tính hệ thống về quy trình, kỹ thuật trong việc chế biến vật liệu, thông tin. Khoa học lại là thể hiện các quy luật khách quan khách quan của các hiện tượng tự nhiên, tập trung vào kiến thức và nguyên nhân của việc xuất hiện kiến thức đó.39 Theo pháp luật Việt Nam, “Khoa học là hệ thống tri thức về bản chất, quy luật tồn tại và phát triển của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy”, “Công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm theo hoặc không kèm theo công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm”.