ĐẶT VẤN ĐỀ Chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng đã và đang phát triển cả về qui mô và tính chuyên hóa. Thành tựu chăn nuôi đã khẳng định vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế cũng như đảm bảo an sinh xã hội ở nước ta. Theo số liệu thống kê của Cục chăn nuôi, tổng số đầu lợn ở nước ta trong những năm gần đây giao động trong khoảng từ 27 đến 29 triệu (Cục chăn nuôi, 2017), trong đó tổng đàn lợn nái hơn 4 triệu con (chiếm 14. Hàng năm tăng trưởng số đầu nái đạt ở mức khoảng 4-5%, mục tiêu trong vòng 20 năm tới Việt Nam sẽ là nước đứng thứ 2 thế giới về chăn nuôi lợn.
Tuy nhiên, nếu nhìn nhận về số đầu nái so với tổng đàn của chúng ta là chiếm tỷ lệ quá cao so với thế giới (Đan Mạch qui mô đầu lợn là 30 triệu con, nái trên 1 triệu con chiếm trên 3% tổng đàn (Theo báo Tiền Phong, ngày 06/9/2018) điều này buộc chúng ta phải thừa nhận một thực tế là chất lượng và năng suất sinh sản của chúng ta là quá thấp. Hiện nay người chăn nuôi ở cả quy mô trang trại và quy mô nông hộ chủ yếu sử dụng con giống ngoại và con lai có năng suất cao, tập trung chủ yếu là giống lai giữa Landrace và Yorkshire. Tuy nhiên, mỗi trại có một cách quản lý và cách chăm sóc khác nhau nên năng suất của đàn lợn nái cũng rất khác nhau. Trong số các nhân tố ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của đàn nái cơ bản, khẩu phần ăn cho lợn nái nuôi con đóng một vai trò rất quan trọng, không chỉ ảnh hưởng đến năng suất của đàn lợn con mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất của chính con nái ở các lứa sau.
Chính vì vậy, chăm sóc nuôi dưỡng và quản lý đàn lợn nái nuôi con cần được coi trọng. Tuy đã có nhiều công trình nghiên cứu về việc nuôi dưỡng lợn nái nuôi con nhưng vẫn còn nhiều tranh luận về khẩu phần ăn phù hợp, đặc biệt trong điều kiện chăn nuôi, khí hậu khác nhau vẫn chưa có nghiên cứu và khuyến cáo trong thực tiễn sản xuất ở Việt Nam. Xuất phát từ thực tiễn đó, việc tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu khẩu phần ăn phù hợp cho lợn nái lai giữa Landrace và Yorkshire ở giai đoạn nuôi con trong điều kiện chuồng kín và chuồng hở” là rất cần thiết. 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI - Xác định tỷ lệ Lysine tiêu hoá/ME phù hợp trong khẩu phần ăn cho lợn nái lai giữa Landrace và Yorkshire ở giai đoạn nuôi con trong điều kiện chuồng kín và chuồng hở. 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. TÌNH HÌNH CHĂN NUÔI LỢN NÁI NGOẠI Ở VIỆT NAM Việt Nam là nước có truyền thống lâu đời về chăn nuôi lợn và nằm trong số 10 nước có số đầu lợn lớn nhất thế giới.
Kết quả công bố của Tổng cục Thống kê cho thấy số lượng đàn lợn từ năm 2014 đến năm 2017 có sự tăng trưởng hằng năm nhưng không nhiều dao động trong khoảng từ 26,76 - 29,07 triệu con. Như vậy, có thể thấy rằng đàn lợn Việt Nam đang có xu hướng duy trì ổn định về mặt số lượng. Số lượng lợn và sản lượng thịt lợn hơi của Việt Nam giai đoạn 2014 - 2017 Chỉ tiêu ĐVT Năm 2014 Năm 2015 Năm 2016 Năm 2017 Số lượng lợn nghìn con 26.406,7 Sản lượng thịt nghìn tấn 3.733,3 lợn hơi Nguồn: Tổng cục Thống kê (2017) Nhìn tổng thể, số lượng đàn nái có xu hướng giảm dần qua các năm từ 4,338 triệu con năm 2006 giảm xuống còn 3,989 triệu con năm 2017. Tuy nhiên, tỷ lệ đàn nái ngoại trong tổng đàn có xu hướng tăng lên từ 10,2% năm 2006 tăng lên 21,7% năm 2014.
Đây là những giống lợn đóng vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao năng suất, chất lượng đàn lợn. Việc nhập nội các nguồn gen có năng suất cao giúp cải thiện rất nhiều đến năng suất, chất lượng chung của đàn lợn. Đàn nái lai đang có xu hướng giảm dần từ 77,2% năm 2006 giảm xuống còn 66,0% năm 2014. Hiện nay, trên cả nước có 4.293 trang trại chăn nuôi lợn, sản lượng thịt từ các trang trại đạt khoảng 40 – 45% tổng sản lượng thịt hơi trên thị trường.
Chăn nuôi lợn trang trại đang ngày một phát triển, dần thể hiện vai trò của chăn nuôi hiện đại. Rất nhiều trang trại lớn với quy mô hàng ngàn nái hiện đã và đang xuất hiện ngày một nhiều. Chăn nuôi trang trại chính là loại hình then chốt giúp thúc đẩy nâng cao năng suất và hiệu quả chăn nuôi lợn do được đầu tư lớn về chuồng trại, con giống, kỹ thuật. Chăn nuôi nông hộ còn khoảng 4 triệu hộ.
Cùng với sự phát triển chăn nuôi nông hộ có xu hướng giảm dần. 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Cơ cấu đàn nái trong tổng đàn giai đoạn 2006 - 2014 Nái ngoại Nái lai Nái nội Tổng Số Số Số Tỷ lệ Tỷ lệ Tỷ lệ số con lượng lượng lượng Năm trong trong trong (1000 con con con tổng đàn tổng đàn tổng đàn con) (1000 (1000 (1000 (%) (%) (%) con) con) con) 2006 4338,0 442,5 10,2 3348,1 77,2 547,5 12,6 2007 3801,6 425,8 11,2 2881,6 75,8 494,2 13,0 2008 3950,1 484,3 12,3 2968,3 75,1 497,5 12,6 2009 4169,5 550,2 13,2 3102,1 74,4 517,2 12,4 2010 4158,8 620,2 14,9 3020,1 72,6 518,5 12,5 2011 4047,1 667,8 16,5 2873,4 71,0 505,9 12,5 2012 4025,6 700,4 17,4 2826,0 70,2 499,2 12,4 2013 3916,0 776,0 19,8 2670,1 68,2 469,9 12,0 2014 3913,9 850,0 21,7 2582,9 66,0 481,0 12,3 Nguồn: Tổng cục Thống kê (2015) Trong chăn nuôi lợn, việc sử dụng thức ăn chăn nuôi đã được cân bằng dinh dưỡng như năng lượng/protein, cân bằng axit-amin, vitamin, khoáng đa lượng, vi lượng và áp dụng chuồng nuôi kín đã làm tăng trưởng khối lượng giết thịt của lợn trong 5 năm gần đây cao hơn 13%. Tiêu tốn thức ăn/ Kg tang khối lượng giảm từ 2,7 - 2,8 kg xuống 2,2 - 2,3 kg thức ăn/kg tăng khối lượng cơ thể.
Theo định hướng Đề án tái cơ cấu ngành chăn nuôi đến năm 2020 đã được Bộ Nông nghiệp và PTNT phê duyệt, chăn nuôi nông hộ phát triển theo hướng chăn nuôi công nghiệp, có kiểm soát, áp dụng tiến bộ kỹ thuật, an toàn sinh học, giảm thiểu môi trường. Đóng góp của phương thức chăn nuôi trang trại năm 2020 là đối với lợn số lượng đầu con có xu hướng tăng từ 30% đến 52%, sản lượng thịt từ 40% tăng lên 60%. Chăn nuôi lợn chuyển dịch theo hướng tăng trưởng nóng sang hướng nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm và hiệu quả chăn nuôi. Theo dự kiến kế hoạch những năm tới, cơ cấu đàn giống, tỷ lệ nái ngoại chiếm 19,8% năm 2013 tăng lên khoảng 30% năm 2020.
NHU CẦU NĂNG LƯỢNG VÀ PROTEIN CỦA LỢN 2. Nhu cầu năng lượng * Nhu cầu năng lượng của lợn con Sinh trưởng của lợn con chủ yếu là sinh trưởng mô nạc. Nhu cầu dinh 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com dưỡng của lợn con được quyết định bởi tốc độ sinh trưởng mô nạc. Hai yếu tố quan trọng hàng đầu ảnh hưởng đến tốc độ sinh trưởng của lợn con là năng lượng và protein (axit amin) (Bùi Quang Tuấn và Đặng Thúy Nhung, 2002).
Để có cơ sở bổ sung năng lượng cho lợn con cần căn cứ vào mức năng lượng được cung cấp từ sữa mẹ và nhu cầu của lợn con, từ đó quyết định mức bổ sung cho lợn con. Theo tác giả Lucac (1982) thì mức năng lượng cần bổ sung qua các giai đoạn cho lợn con như sau: Bảng 2. Mức năng lượng cần bổ sung cho lợn con Tuần Năng lượng tiêu hóa hàng ngày của mỗi lợn (Kcal) Khối lượng tuổi Nhu cầu Sữa mẹ cung cấp Nhu cầu bổ sung 1 2,7 965 965 0 2 4,1 1225 1255 0 3 5,9 1625 1430 195 4 7,7 2000 1240 760 5 10,0 2375 1240 1135 6 12,7 2750 1135 1615 7 15,9 3125 918 2210 8 19,0 3500 805 2695 Như vậy bắt đầu từ tuần tuổi thứ 3 lợn con bắt đầu có nhu cầu cần bổ sung năng lượng và mức này ngày càng cao do sữa mẹ cung cấp ngày càng giảm. Lợn con đang bú sữa có thể xác định lượng thức ăn thu nhận theo phương trình sau (NRC, 1998): DE ăn vào (Kcal/ngày) = - 151,7 + (11,2 x ngày tuổi); R2 = 0,72.
Lợn con sau cai sữa với khối lượng khoảng từ 5 – 15 kg, lượng thức ăn thu nhận được xác định như sau (NRC, 1998): DE ăn vào (Kcal/ngày) = - 1,531 + (455,5 x BW) + (11,2 x BW2); R2 = 0,92. Nguyễn Thị Lương Hồng và cs. (2003) khi nghiên cứu về mức năng lượng và protein thích hợp cho lợn con sau cai sữa cho biết, đàn lợn con ngoại thuần ở giai đoạn sau cai sữa có tốc độ sinh trưởng cao nhất khi ăn khẩu phần có mức năng lượng 3300 và 3400 Kcal ME/kg (14 MJ DE/kg); tốc độ sinh trưởng của lợn đạt cao khi khẩu phần có mức năng lượng 14 MJ DE/kg. * Nhu cầu năng lượng của lợn đang sinh trưởng Năng lượng cung cấp cho lợn đang sinh trưởng bao gồm cho sự duy trì cơ 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thể, cho sự tăng trọng hàng ngày và dùng để duy trì thân nhiệt trong môi trường lạnh.
Để tính toán nhu cầu năng lượng thì chúng ta thừa nhận một số thông số sau: - Năng lượng trao đổi (ME) = 95% năng lượng tiêu hóa (DE) (Lê Hồng Mận và Bùi Đức Lũng, 2003) - Mô cơ có 77% nước - Mô mỡ có 10% nước Nhu cầu năng lượng trao đổi để duy trì (MEm) bao gồm cả năng lượng cần thiết cho các chức năng của cơ thể và những hoạt động thiết yếu. Những nhu cầu này thường được biểu thị trên cơ sở khối lượng trao đổi của cơ thể khối lượng này được quy ước là khối lượng cơ thể mũ 0,75 (BW0,75). Các lũy thừa khác được đề nghị là 0,67 (Heusner 1982); 0,60 (Noblet et al., 1989b); 0,42 (Noblet et al. Các tính toán nhu cầu về năng lượng duy trì/kg BW0,75 là mức từ 92 đến 160 Kcal/ngày, phổ biến nhất là từ 100 đến 125 Kcal/ngày.
Số liệu trung bình ước tính cho MEm là 106 Kcal ME/kg BW0,75 (Whittemore 1976; Bohme et al., 1980; Wenk et al., 1980; ARC, 1981; Noblet and Le Dividich, 1982; Campbell and Denkin, 1983; Close and Stanier, 1984; Mc Nutt and Ewan, 1984, Gadeken et al., 1985; Noblet et al., 1985), số này tương đương với 110 Kcal DE/kg. Whittemore (1983) đưa ra mô hình có thể tính chính xác hơn: MEm (Kcal/ngày) = 442 x Pt0,78 với Pt là tổng lượng protein của cơ thể tính bằng kg.