Tổng quan nghiên cứu

Khu Dự trữ sinh quyển quần đảo Cát Bà được UNESCO chính thức công nhận vào ngày 02/12/2004, sở hữu tổng diện tích quy hoạch 26.041 ha bao gồm phần đảo và 9.200 ha mặt nước biển. Vùng đất này lưu giữ hệ sinh thái rừng mưa nhiệt đới trên núi đá vôi vô cùng độc đáo với 3.156 loài động thực vật, trong đó có 1.563 loài thực vật bậc cao và hơn 661 loài cây có giá trị làm dược liệu. Tuy nhiên, nguồn tài nguyên lâm sản ngoài gỗ quý giá như Phong lan, Lộc vừng, Sâm rừng, Dây thuốc máu, Ba kích và Kim ngân đang chịu áp lực khai thác mang tính tận diệt. Hoạt động khai thác tự phát này đe dọa trực tiếp tính toàn vẹn của 8.500 ha phân khu bảo vệ nghiêm ngặt thuộc vùng lõi.

Vấn đề nghiên cứu then chốt xuất phát từ mâu thuẫn gay gắt giữa bảo tồn đa dạng sinh học và nhu cầu sinh kế trước mắt của 16.566 nhân khẩu sinh sống tại 6 xã trên đảo Cát Bà. Mục tiêu tổng quát của luận văn là phân tích toàn diện thực trạng khai thác, thương mại hóa cây lâm sản ngoài gỗ, từ đó thiết lập căn cứ khoa học nhằm đề xuất hệ thống giải pháp quản lý bền vững gắn liền với nâng cao thu nhập cộng đồng.

Nghiên cứu được triển khai trên toàn bộ 6 xã vùng đảo gồm Gia Luận, Phù Long, Hiền Hào, Xuân Đám, Trân Châu và Việt Hải trong khung thời gian 06 tháng. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở dữ liệu định lượng chuẩn xác, góp phần hiện thực hóa định hướng Chiến lược phát triển Lâm nghiệp quốc gia nhằm nâng tỷ trọng thu nhập từ lâm sản ngoài gỗ đạt mức 15% đến 20% trong kinh tế hộ gia đình nông thôn.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng khung định nghĩa chuẩn hóa của Tổ chức Lương Nông Liên Hiệp Quốc ban hành năm 1999 và tiếp cận của De Beer năm 1996, xác định lâm sản ngoài gỗ là các sản phẩm có nguồn gốc sinh vật, khác gỗ, được khai thác từ hệ sinh thái rừng tự nhiên phục vụ con người. Nghiên cứu phân loại tài nguyên thực vật thành 6 nhóm công dụng chính, bao gồm nhóm cây có sợi, cây làm thực phẩm, cây thuốc và mỹ phẩm, cây chiết xuất tinh dầu, cây cảnh và các nhóm phụ trợ khác.

Khung phân tích sinh kế bền vững kết hợp lý thuyết quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng được sử dụng làm nền tảng đánh giá tương tác giữa nguồn vốn tự nhiên và nguồn vốn tài chính của hộ gia đình. Tác giả vận dụng mô hình thương mại hóa lâm sản của Arnold và Mahapatra nhằm nhận diện các mắt xích trong chuỗi giá trị từ người thu hái đến kênh phân phối trung gian. Đồng thời, các nguyên tắc bảo tồn nguyên vị tại sinh cảnh tự nhiên và bảo tồn chuyển vị thông qua mô hình gây trồng nhân tạo được tích hợp để giải quyết bài toán suy thoái tài nguyên thực vật quý hiếm.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu áp dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng dựa trên danh sách 823 hộ dân có hoạt động liên quan trực tiếp đến lâm sản ngoài gỗ tại 6 xã vùng đảo. Cỡ mẫu khảo sát chính thức gồm 120 hộ gia đình, tương ứng với tỷ lệ chọn mẫu đạt 14,58% tổng số hộ liên quan. Phương pháp phân bổ mẫu phản ánh chính xác mức độ phụ thuộc tài nguyên của từng địa bàn: xã Gia Luận phỏng vấn 30 hộ trên 158 hộ liên quan, xã Trân Châu 30 hộ trên 307 hộ, xã Hiền Hào 20 hộ trên 97 hộ, xã Việt Hải 20 hộ trên 91 hộ, xã Phù Long 10 hộ trên 254 hộ và xã Xuân Đám 10 hộ trên 103 hộ.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích định lượng kết hợp định tính thông qua bảng hỏi bán cấu trúc và công cụ đánh giá nông thôn có sự tham gia nhằm lượng hóa chính xác sản lượng, giá trị kinh tế và dòng lưu chuyển sản phẩm trên thị trường. Nghiên cứu thực hiện phỏng vấn sâu các nghệ nhân bản địa, thầy lang và cán bộ kiểm lâm quản lý địa bàn. Bên cạnh đó, các đợt khảo sát thực địa sinh học theo tuyến mòn tiêu biểu trong rừng tự nhiên được tiến hành nhằm đối chiếu danh lục loài, định danh tên khoa học và đánh giá khả năng tái sinh của quần thể thực vật dưới tán rừng.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực địa ghi nhận hệ thực vật lâm sản ngoài gỗ tại Cát Bà vô cùng đa dạng với hơn 661 loài cây thuốc, phân bố tập trung tại các đai rừng mưa nhiệt đới trên núi đá vôi. Tỷ lệ hộ dân phụ thuộc vào việc khai thác lâm sản ngoài gỗ đạt mức rất cao tại các khu vực tiếp giáp vùng lõi: xã Việt Hải chiếm 84,2% (91 hộ trên tổng số 108 hộ), xã Gia Luận đạt 80,2% (158 hộ trên 197 hộ) và xã Hiền Hào đạt 78,2% (97 hộ trên 124 hộ). Ngược lại, các xã phát triển mạnh kinh tế dịch vụ hoặc nuôi trồng thủy sản như Phù Long và Xuân Đám có tỷ lệ tham gia thấp hơn, lần lượt là 46,9% và 41,4%.

Áp lực khai thác thương mại tập trung chủ yếu vào nhóm cây dược liệu quý và cây cảnh có giá trị thị trường cao như Sâm rừng, Ba kích, Dây thuốc máu, Kim ngân và Phong lan. Hoạt động thu hái mang tính tận thu triệt để cả thân, rễ và củ khiến tốc độ tái sinh tự nhiên suy giảm nghiêm trọng. Hơn 90% sản lượng lâm sản ngoài gỗ tiêu thụ trên thị trường bắt nguồn từ khai thác rừng tự nhiên, trong khi diện tích nhân giống gây trồng có kiểm soát tại vườn đồi chỉ chiếm dưới 10%. Mặc dù chính quyền địa phương đã thực hiện giao 3.375 ha đất lâm nghiệp cho người dân quản lý (gồm 3.243 ha rừng trồng và 132 ha rừng tự nhiên), mô hình kinh tế dưới tán rừng vẫn chưa phát huy hiệu quả thương mại tương xứng.

Thảo luận kết quả

Thực trạng khai thác cạn kiệt bắt nguồn từ cơ cấu kinh tế địa phương còn nhiều bất cập, khi ngành sản xuất nông nghiệp toàn huyện Cát Hải chỉ chiếm 1,5% tổng giá trị sản xuất và đóng góp 2,3% GDP toàn huyện. Đời sống của một bộ phận lớn cư dân vùng sâu vẫn phụ thuộc trực tiếp vào nguồn thu hái lâm sản tự nhiên khi mùa màng giáp hạt. Kết quả này tương đồng với các nghiên cứu lâm nghiệp quốc tế khi chỉ ra rằng việc thương mại hóa tự do thiếu quy chuẩn kỹ thuật sẽ dẫn đến suy thoái nhanh chóng nguồn gen thực vật bản địa.

Dữ liệu nghiên cứu phản ánh cấu trúc chuỗi giá trị lâm sản thông qua bảng ma trận phân phối lợi nhuận và biểu đồ cơ cấu thu nhập hộ. Người thu hái trực tiếp ở địa phương phải bỏ ra hơn 80% công sức lao động nặng nhọc nhưng chỉ nhận về khoảng 25% đến 30% giá trị gia tăng cuối cùng của sản phẩm. Ngược lại, các thương lái trung gian kiểm soát khâu tiêu thụ và phân phối ra thị trường đất liền chiếm giữ hơn 70% tỷ suất lợi nhuận ròng. Bên cạnh đó, sự thiếu hụt cơ chế chia sẻ lợi ích minh bạch giữa Vườn Quốc gia Cát Bà và cộng đồng dân cư vùng đệm tạo nên rào cản lớn đối với công tác tuần tra kiểm soát tài nguyên.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện cơ chế đồng quản lý và chia sẻ lợi ích kinh tế trong việc bảo vệ và sử dụng bền vững lâm sản ngoài gỗ. Mục tiêu cụ thể là chuyển giao quyền quản lý gắn với trách nhiệm bảo vệ 100% diện tích 7.741 ha vùng đệm cho các tổ chức cộng đồng tự quản trong khung thời gian 12 đến 18 tháng. Chủ thể thực hiện do Ủy ban nhân dân huyện Cát Hải chủ trì, phối hợp chặt chẽ với Ban quản lý Vườn Quốc gia Cát Bà và Ủy ban nhân dân 6 xã.

Thứ hai, triển khai xây dựng các mô hình trình diễn kỹ thuật nhân giống và gây trồng bán tự nhiên các loài dược liệu bản địa có giá trị thương phẩm cao như Ba kích, Sâm rừng, Kim ngân và Phong lan dưới tán 3.243 ha rừng trồng được giao khoán. Đặt mục tiêu nâng tỷ trọng thu nhập từ lâm sản ngoài gỗ gây trồng đạt 20% đến 25% tổng thu nhập bình quân của mỗi hộ gia đình trong giai đoạn 2014 đến 2016. Đơn vị chủ trì là Trung tâm Khuyến nông Khuyến lâm Hải Phòng phối hợp cùng các hộ nhận khoán đất lâm nghiệp.

Thứ ba, thiết lập chuỗi liên kết tiêu thụ sản phẩm và xây dựng thương hiệu chứng nhận xuất xứ lâm sản ngoài gỗ Cát Bà. Mục tiêu nhằm gia tăng giá trị thương phẩm tại chỗ, nâng mức chi trả trực tiếp cho người thu hái lên tối thiểu 40% trong vòng 24 tháng. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hải Phòng cùng Chi cục Kiểm lâm giữ vai trò kết nối các doanh nghiệp dược phẩm và hợp tác xã địa phương.

Thứ tư, đổi mới chương trình truyền thông giáo dục pháp luật lâm nghiệp và tăng cường tuần tra phối hợp. Thiết lập các chốt kiểm soát lưu động nhằm giảm thiểu 80% số vụ xâm nhập khai thác trái phép tại 8.500 ha phân khu bảo vệ nghiêm ngặt thuộc vùng lõi. Hạt Kiểm lâm Vườn Quốc gia Cát Bà định kỳ hàng quý tổ chức tập huấn nâng cao năng lực cho lực lượng bảo vệ rừng cơ sở tại 6 xã.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm cơ quan quản lý nhà nước, Ban quản lý Vườn Quốc gia Cát Bà và Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hải Phòng là đối tượng ứng dụng trực tiếp các phát hiện nghiên cứu. Đơn vị có thể sử dụng hệ thống số liệu về phân bổ hộ dân phụ thuộc tài nguyên tại 6 xã để quy hoạch phân khu chức năng, xây dựng chính sách giao khoán rừng và thiết lập quy chế chia sẻ lợi ích bền vững.

Nhóm các nhà khoa học, chuyên gia sinh thái và giảng viên chuyên ngành Lâm sinh, Quản lý tài nguyên rừng có thể kế thừa bộ cơ sở dữ liệu danh lục 661 loài cây thuốc và phương pháp luận khảo sát đánh giá nhanh nông thôn. Tài liệu đóng vai trò tài nguyên tham khảo quan trọng phục vụ các nghiên cứu chuyên sâu về thực vật học đảo đá vôi và bảo tồn nguồn gen nguy cấp.

Nhóm các tổ chức phi chính phủ, đơn vị phát triển nông thôn và hợp tác xã địa phương tìm thấy trong luận văn mô hình chuỗi giá trị và giải pháp sinh kế thực tế. Dữ liệu khảo sát từ 120 hộ gia đình cung cấp căn cứ xác đáng để thiết kế các dự án viện trợ sinh kế, hỗ trợ nông dân xây dựng mô hình nông lâm kết hợp dưới tán rừng trồng.

Nhóm sinh viên và học viên cao học thuộc khối ngành Lâm nghiệp, Nông nghiệp và Khoa học Môi trường có thể sử dụng công trình như một biểu mẫu chuẩn mực về phương pháp chọn mẫu phân tầng, thiết kế công cụ điều tra xã hội học lâm nghiệp và quy trình phân tích chuỗi cung ứng sản phẩm sinh thái.

Câu hỏi thường gặp

Khu Dự trữ sinh quyển Cát Bà sở hữu những giá trị nổi bật nào về lâm sản ngoài gỗ? Khu dự trữ sinh quyển quy tụ 3.156 loài động thực vật, trong đó có 1.563 loài thực vật bậc cao và hơn 661 loài có công dụng làm dược liệu. Địa hình núi đá vôi hình thành môi trường sống đặc thù cho các loài thực vật có giá trị kinh tế và y dược vượt trội như Ba kích, Sâm rừng, Dây thuốc máu, Kim ngân và các loài Phong lan quý hiếm.

Mức độ phụ thuộc vào việc khai thác cây lâm sản ngoài gỗ tại các xã vùng đệm diễn ra như thế nào? Mức độ phụ thuộc phân hóa rõ rệt theo vị trí địa lý và điều kiện sinh kế. Khảo sát 120 hộ gia đình cho thấy các xã nằm sâu gần vùng lõi có tỷ lệ hộ tham gia thu hái rất cao, dẫn đầu là xã Việt Hải với 84,2% và xã Gia Luận với 80,2%, trong khi các xã ven biển có điều kiện phát triển thủy sản như Phù Long chỉ chiếm 46,9%.

Phương pháp thu thập dữ liệu nào đảm bảo độ tin cậy khoa học của luận văn? Tác giả áp dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng phỏng vấn 120 hộ từ danh sách 823 hộ liên quan tại 6 xã. Quá trình thu thập kết hợp công cụ đánh giá nhanh có sự tham gia của người dân, phỏng vấn sâu các thầy lang bản địa và khảo sát thực địa sinh học trực tiếp theo tuyến mòn trong rừng tự nhiên.

Tại sao hoạt động khai thác tự nhiên hiện nay lại đe dọa nghiêm trọng hệ sinh thái Cát Bà? Hơn 90% sản lượng lâm sản ngoài gỗ được thu hái tự phát từ rừng tự nhiên với phương thức tận thu triệt để thân, rễ và củ. Hoạt động này làm suy kiệt khả năng tái sinh tự nhiên của các loài quý hiếm, gây xáo trộn tầng thảm tươi và xâm hại trực tiếp đến 8.500 ha phân khu bảo vệ nghiêm ngặt của Vườn Quốc gia.

Giải pháp nào mang tính đột phá để cân bằng giữa bảo tồn và cải thiện sinh kế? Giải pháp then chốt là xây dựng mô hình nhân giống và trồng bán tự nhiên các loài cây thuốc dưới tán 3.243 ha rừng trồng đã giao khoán. Mô hình này giúp chuyển dịch từ khai thác hái lượm tự nhiên sang sản xuất hàng hóa có kiểm soát, mục tiêu nâng tỷ trọng đóng góp của lâm sản ngoài gỗ lên 20% đến 25% trong thu nhập hộ.

Kết luận

  • Luận văn đánh giá toàn diện hiện trạng khai thác và sử dụng lâm sản ngoài gỗ tại 6 xã thuộc Khu Dự trữ sinh quyển quần đảo Cát Bà, ghi nhận tiềm năng lớn từ 661 loài cây thuốc bản địa.
  • Phân tích định lượng từ 120 phiếu điều tra hộ gia đình chỉ ra mức độ phụ thuộc tài nguyên rừng lên tới 84,2% tại các xã vùng đệm, đồng thời nhận diện áp lực suy thoái nguồn tài nguyên do phương thức thu hái tận diệt.
  • Công trình đóng góp hệ thống giải pháp đồng bộ kết hợp giữa phân cấp đồng quản lý 7.741 ha vùng đệm và phát triển kinh tế gây trồng dược liệu dưới tán 3.243 ha rừng trồng.
  • Lộ trình triển khai các mô hình sinh kế nông lâm kết hợp và liên kết chuỗi giá trị cần được tập trung thực hiện trong khung thời gian từ 12 đến 24 tháng nhằm đạt mục tiêu tăng trưởng thu nhập hộ từ 20% đến 25%.
  • Các cấp quản lý lâm nghiệp và chính quyền địa phương cần nhanh chóng thể chế hóa các khuyến nghị khoa học của luận văn vào quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học và kế hoạch phát triển kinh tế xã hội huyện Cát Hải.