Đặt vấn đề Rừng tự nhiên là nơi lưu giữ nhiều nguồn gen và đa dạng sinh học phong phú cung cấp nguồn dược liệu tiềm năng để con người nghiên cứu khám phá phục vụ cuộc sống hàng ngày. Trong lịch sử loài người thì rừng là nơi cung cấp nguồn dược liệu quan trọng và đa dạng đối với con người từ xa xưa và trong điều kiện hiện nay thì dược liệu được xem như một lĩnh vực kinh tế với nhiều hấp dẫn về cơ hội phát triển. Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nóng ẩm, có địa hình đa dạng kéo dài từ Bắc vào Nam, khí hậu chia 4 mùa rõ rệt thuận lợi cho nhiều loại cây dược liệu phát triển. Hiện theo thống kê của Viện Dược liệu, Việt Nam có trên 3.000 cây dược liệu đã được phát hiện và truyền thống lâu đời, cộng đồng người Việt đã sử dụng dược liệu để chữa bệnh, Đông dược Việt Nam có nền tảng dựa trên y học cổ truyền.
Do đó, dược liệu đóng vai trò rất quan trọng trong lĩnh vực y tế Việt Nam và là một lĩnh vực kinh tế mang lại niều lợi ích lớn cho người dân địa phương. Tuy nhiên, hiện nay tài nguyên rừng của Việt Nam đang bị suy giảm nghiêm trọng, đặc biệt là diện tích rừng tự nhiên trên cả nước ngày càng bị thu hẹp lại, hệ quả là suy giảm về đa dạng sinh học trong đó có cả những cây thuốc bản địa có giá trị, chưa được nghiên cứu cũng đang bị mất dần, việc nghiên cứu phát hiện và bảo tồn tiến đến sử dụng bền vững tài nguyên cây thuốc bản địa là một vấn đề rất cần thiết trong giai đoạn hiện nay. Trong quá trình đang diễn ra đó cây Mã tiền lông có tên khoa học là (Strychnos ignatii Berg) hay ở Việt Nam còn được gọi là Đậu gió, Dây gió, một loài cây dược liệu có giá trị y học cao được người dân sử dụng từ lâu đời tuy nhiên hiện nay số lượng và khu vực phân bố đang bị suy giảm dần và đã được ghi trong (Sách Đỏ Việt Nam 2007) với cấp đánh giá "bị đe doạ" (Bậc T). 2 Trên thế giới, loài cây này được tìm thấy ở Trung Quốc, Thái Lan, Lào, Campuchia, Malaixia, Philippin, Indonesia.
Tại Việt Nam, Mã tiền lông được tìm thấy ở các tỉnh Thái Nguyên, Tuyên Quang, Bắc Giang, Phú Thọ, Hà Tây, Thanh Hoá, Quảng Trị, Khánh Hoà, Bình Dương, Đồng Nai. Mặc dù loài có khu phân bố tương đối rộng nhưng bị chia cắt, nơi cư trú bị xâm hại do nạn phá rừng; hạt bị khai thác làm thuốc, nên ngày càng hiếm. Đây là loài cây dược liệu có giá trị, hạt có chứa 2 ancaloit chính là bruxin và stricin, được khai thác làm nguyên liệu chiết xuất bruxin. Hạt của cây Mã tiền lông (S.) và các loài khác thuộc chi Strychnos, họ Mã tiền (Longaniaceae) được sử dụng làm dược liệu để trị các bệnh như: phong thấp, tê, bại liệt, đau khớp dạng phong thấp, nhức mỏi chân tay, đau dây thần kinh, sưng đau do sang chấn, nhọt độc sưng đau (Bộ y tế, 2017).
Với những giá trị lớn về mặt dược liệu và tình trạng đang bị đe dọa do khai thác quá mức cũng như môi trường phân bố của loài Mã tiền lông đang bị thu hẹp thì rất cần có những mở rộng điều tra về phân bố của loài, cũng như những nghiên cứu chi tiết về các đặc điểm sinh thái, tái sinh loài. Từ thực tiễn nêu trên và qua tìm hiểu về khu vực phân bố của loài Mã từ lông thì hiện nay trên địa bàn của huyện Định Hóa của tỉnh Thái Nguyên là khu vực cây Mã tiền lông có phân bố và người dân tại phương vẫn còn lưu giữ các bài thuốc và sử dụng cây Mã từ lông để chữa bệnh trong cuộc sống hàng ngày, do đó tôi chọn đề tài: “Nghiên cứu thực trạng phân bố cây Mã tiền lông (Strychnos ignatii) làm cơ sở bảo tồn và phát triển loài tại huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên” nhằm góp phần nâng cao hiểu biết, đề xuất những hướng bảo tồn và phát triển loài cây có triển vọng và hiếm này tại tại huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2. Mục tiêu chung Nhằm cung cấp thông tin về đặc điểm sinh học, sinh thái học cơ bản của loài Mã tiền lông tại huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên làm cơ sở đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát triển loài cây này ở khu vực nghiên cứu.
Mục tiêu cụ thể - Xác định được những đặc điểm cơ bản về đặc điểm sinh vật học của Mã tiền lông tại huyện Định Hóa. - Xác định được một số đặc điểm sinh thái: phân bố và sinh cảnh của loài Mã tiền lông tại khu vực nghiên cứu. - Tư liệu hóa được các kiến thức sinh thái địa phương về loài cây của các cộng đồng người dân sống ở gần nơi phân bố của cây Mã tiền lông. - Bước đầu đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát triển loài cây này ở Định Hóa.
Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học Qua việc thực hiện đề tài sẽ giúp học viên làm quen với việc nghiên cứu khoa học, củng cố kiến thức đã học, vận dụng lý thuyết vào thực tế; biết cách thu thập, phân tích và xử lý thông tin cũng như kỹ năng tiếp cận và làm việc với cộng đồng thôn bản và người dân. Ý nghĩa trong thực tiễn Cơ sở để thực hiện nghiên cứu loài Mã tiền lông (Strychnos ignatii) làm cơ sở đề xuất hướng bảo tồn loài và về việc sử dụng thực vật, lâm sản ngoài gỗ để làm thuốc nhằm bảo tồn nguồn tri thức địa phương. 4 PHẦN 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Tình hình nghiên cứu trên thế giới 1. Nghiên cứu liên quan đến chi Mã tiền (Strychnos) trên thế giới Theo Jiri Patocka (2009), chi Strychnos (họ Loganiaceae) là một chi bao gồm các cây gỗ và cây bụi leo. Chi này có 196 loài khác nhau và phân bố khắp các vùng nhiệt đới của Châu Á (58 loài), Châu Mỹ (64 loài) và Châu Phi (75 loài). Các cây thuộc chi Strychnos có lá mọc đối và mang những bông hoa màu trắng hoặc vàng, có đài hoa bốn thùy hoặc năm thùy, tràng hoa bốn phần hoặc năm phần, năm nhị hoa, và một nhụy đơn độc, và kết trái trong hình thức của một quả mọng.
Hạt và vỏ của nhiều loại cây trong chi này có chứa chất độc cực mạnh strychnine. Strychnine được thu nhận từ hạt của cây Mã tiền lông/Đậu Saint Ignatius (Strychnos ignatii) và từ cây Mã tiền (Strychnos nux- vomica)., là chi lớn nhất của họ Mã tiền - Loganiaceae với khoảng 200 loài. Các loài thuộc chi Strychnos bao gồm từ cây bụi hoặc dây leo (chiều cao 1,5–45 m × dài 4–120 m, lên đến 50 cm khi diam), cây bụi hoặc cây bụi (cao 0,3–2 m) và cây gỗ (chiều cao 2–40 m, lên đến 100 cm trong môi trường sống), với một số loài có nhiều hơn một dạng sống phát triển tùy theo môi trường sống xung quanh (Leeuwenberg, 1969; Krukoff, 1972). Orwa và cs.
(2009), đã xây dựng cơ sở dữ liệu cho loài Strychnos spinosa, theo đó tác giả đã cung cấp thông tin về tên địa phương của loài, mô tả đặc điểm phân loại. Đã cung cấp thông tin về khu vực phân bố: Phân bố trong các khu rừng thảo nguyên trên khắp khu vực nhiệt đới châu Phi và phát triển trong rừng thưa và ven sông. Ở độ cao từ 0 - 1500m, trên đất cát ven 5 sông. Là loài cây bản địa của Ethiopia, Kenya, Madagascar, Mali, Mauritius, Seychelles, Sudan, Tanzania, Uganda, Zambia.
Có gặp với vai trò là cây di cư ở Nam Phi, Mỹ. Sueli Rodrigues và cs. (2018), nghiên cứu về các loài Cam khỉ. Theo đó, Cam khỉ là một loại cây nhỏ.
Ba loài chính là Strychnos cocculoides Backer; Strychnos spinosa Lam.; và Strychnos pungens Solereder thuộc họ Mã tiền (Loganiaceae). Cây có nguồn gốc từ Nam Phi. Cái tên cam khỉ xuất phát từ thực tế là loại trái cây này được ăn bởi những con khỉ. Lá cây cũng được ăn bởi động vật ăn cỏ như voi.
Cây nhỏ, cao 1–7 m, có quả hình tròn, có thể ăn được, đường kính 6–12 cm, giống quả cam. Quả chưa chín có vỏ hóa gỗ màu xanh lục sáng (dày 3–4 mm), khi chín sẽ chuyển sang màu vàng nâu. Quả có cùi chua ngọt, có thể ăn được, màu nâu nhạt và chứa nhiều hạt cứng (1–3 cm) màu nâu. Hạt có thể có độc.
Trái cây hầu như không được biết đến ở thế giới phương Tây, nhưng ở châu Phi, trái cây thường được ăn tươi. Tên thường gọi của các loài này là Spiny Monkey Orange / Green Monkey Orange (bằng tiếng Anh), Doringklapper (ở châu Phi), Morapa (North-Sotho), Muramba (Venda), um Kwakwa (Swaziland), Nsala (Tswana), Mutamba (Shona ), và Maboque (tiếng Bồ Đào Nha). Theo National Medicinal Plants Board (2014) loài Strychnos potatorum Linn (họ Mã tiền - Loganiaceae) là một loại cây ở miền nam và miền trung của Ấn Độ, Sri Lanka và Miến Điện. Trong hệ thống y học cổ truyền, hạt được sử dụng để điều trị bệnh lậu, bệnh bạch cầu, bệnh dạ dày, viêm phế quản, tiêu chảy mãn tính, kiết lỵ, sỏi thận và mụn nước, tiểu đường, viêm kết mạc, viêm màng cứng, loét và các bệnh về mắt khác.
Nghiên cứu về cây Mã tiền lông trên Thế giới Theo Wu & Raven (1996) loài Mã tiền lông (Strychnos ignatii) là loài dây leo dài 20m, phân bố tại rừng thưa trên đá vôi, trảng cây cây bụi, đôi khi 6 dọc theo bờ sông; độ cao so với mặt nước biển từ 400 - 800 m. Có ở Quảng Đông, Quảng Tây, Hải Nam, Vân Nam của Trung Quốc, Indonesia, Malaysia, Philippines, Thái Lan và Việt Nam. Cây được sử dụng làm thuốc. Theo Bisset (1974) một bản mô tả của loài Strychnos ignatii đã được xuất bản trên Hooker`s Incones, t.
2212, tháng 4 năm 1892, dựa trên mẫu vật được thu thập bởi Boxall vào năm 1891 tại Samar và Mindanao, quần đảo Philippine. Theo Steenis và Van (1962), Mã tiền lông là loài dây leo lớn (ở Borneo đôi khi là cây bụi hoặc cây thân gỗ); cành cây sáng bóng; cành màu nâu xám, ít nhiều có vảy. Lá hình trứng hoặc hình elip đến hình mũi mác. Hạt trong thương mại gọi là đậu Saint Ignatius, một trong những nguồn cung cấp strychnine.
Vỏ cây và hạt được sử dụng làm thức ăn gia súc ở Philippines. Ở bán đảo Mã Lai, Java và Borneo, rễ được sử dụng để làm mũi tên độc. Tình hình nghiên cứu trong nước 1. Những nghiên cứu về chi Mã tiền ở Việt Nam Các loài thuộc chi Strychnos đã được một số nhà khoa học nghiên cứu.
Trong công trình nghiên cứu của Trần Công Khánh và cs.