MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Tài nguyên thiên nhiên là nguồn lực tự nhiên cho sự phát triển và thịnh vƣợng của mỗi quốc gia. Việt Nam đƣợc công nhận là một trong những quốc gia có tính ĐDSH cao của thế giới, đƣợc Quỹ bảo tồn động vật hoang dã (WWF) công nhận là 1 trong 200 vùng sinh thái tiêu biểu toàn cầu. Hệ động vật Việt Nam không những giàu về thành phần loài mà còn mang nhiều nét đặc trƣng của vùng Đông Nam Á.
Những nghiên cứu trong thời gian gần đây đã bổ sung nhiều loài mới cho khu hệ LCBS Việt Nam, điều này chứng tỏ tiềm năng ĐDSH của nƣớc ta. Cùng với các nghiên cứu về thành phần loài cũng có một số nghiên cứu về sinh học, sinh thái của các loài Lƣỡng cƣ, Bò sát đã làm cơ sở khoa học cho việc bảo tồn, nhân nuôi một số loài góp phần phát triển kinh tế xã hội và bảo vệ đa dạng sinh học ở Việt Nam. Gần đây, cùng với sự phát triển kinh tế xã hội của đất nƣớc, kéo theo cơ sở hạ tầng phát triển làm thu hẹp môi trƣờng sống, sự sử dụng quá nhiều thuốc bảo vệ thực vật đã làm ô nhiễm môi trƣờng sống và cùng với sự biến đổi khí hậu,. làm cho các quần thể động vật nói chung và lƣỡng cƣ bò sát giảm sút nhanh chóng.
Các nghiên cứu về lƣỡng cƣ bò sát đã đƣợc nhiều tác giả thực hiện. Tuy nhiên chủ yếu là những nghiên cứu về khu hệ và thành phần loài ở các VQG và KBTTN, các nghiên cứu về sinh học, sinh thái cá thể chƣa nhiều. Các loài Lƣỡng cƣ nói chung và Chẫu Hylarana guentheri nói riêng là những loài có lợi cho con ngƣời. Chúng đƣợc dùng làm nguồn thức ăn cho ngƣời và vật nuôi, là động vật tiêu diệt sâu bọ phá hoại cây trồng, … Trong tự nhiên, Chẫu là mắt xích thức ăn quan trọng trong chuỗi và lƣới thức ăn góp phần giữ cân bằng sinh thái tự nhiên và bảo tồn đa dạng sinh học.
Do đó, nghiên cứu sinh học, sinh thái loài Chẫu trong điều kiện tự nhiên góp phần làm cơ sở khoa học cho việc xây dựng các biện pháp nhân nuôi thuần hoá các 2 loài có giá trị kinh tế, nâng cao đời sống ngƣời dân. Giảm áp lực lên việc khai thác các loài lƣỡng cƣ trong tự nhiên, góp phần bảo tồn các loài đang có nguy cơ suy giảm về số lƣợng và bị đe doạ tuyệt chủng nói chung và Chẫu nói riêng. Do đó chúng tôi chọn đề tài: “Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, sinh thái học của Chẫu Hylarana guentheri (Boulenger, 1882) ở xã Kiên Thọ, huyện Ngọc Lặc, Tỉnh Thanh Hóa". Mục tiêu nghiên cứu Nghiên cứu các đặc điểm sinh học, sinh thái loài Chẫu ở khu vực nghiên cứu làm cơ sở khoa học cho việc nghiên cứu nhân nuôi và bảo tồn.
Nội dung nghiên cứu - Nghiên cứu đặc điểm hình thái; - Nghiên cứu đặc điểm sinh thái: Môi trƣờng sống nơi ở, - Nghiên cứu thành phần thức ăn của Chẫu Hylarana guentheri (Boulenger, 1882) ở xã Kiên Thọ, huyện Ngọc Lặc, Tỉnh Thanh Hóa. Ý nghĩa của đề tài - Trên cơ sở một số đặc điểm sinh học, sinh thái của Chẫu Hylarana guentheri, góp phần xây dựng cơ sở khoa học cho các biện pháp kỹ thuật nuôi, bảo vệ và phát triển loài động vật có ích này. - Kết quả nghiên cứu của đề tài bổ sung tƣ liệu về đặc điểm sinh học, sinh thái các loài LCBS phục vụ cho các nghiên cứu tiếp theo. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Lƣợc sử nghiên cứu lƣỡng cƣ 1. Khái quát các nghiên cứu về lƣỡng cƣ ở Việt Nam Nghiên cứu lƣỡng cƣ, bò sát ở Việt Nam đã đƣợc tiến hành từ cuối thể kỷ XIX. Tuy nhiên đến sau năm 1954 công tác nghiên cứu bò sát, lƣỡng cƣ ở nƣớc ta mới tiếp tục đƣợc tiến hành. Cho đến nay đã có nhiều nghiên cứu đƣợc công bố.
Có thể khái quát kết quả nghiên cứu qua các thời kỳ nhƣ sau: Các tác giả Trần Kiên, Nguyễn Văn Sáng và Hồ Thu Cúc (1981) đã công bố kết quả điều tra cơ bản động vật miền Bắc Việt Nam, trong đó có 159 loài bò sát thuộc 72 giống, 19 họ, 2 bộ và 69 loài ếch nhái thuộc16 giống, 9 họ, 3 bộ (Trần Kiên, Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc, 1981) [8]. Năm 1985, Trần Kiên và cộng sự công bố danh sách ếch nhái, bò sát Việt Nam gồm 260 loài, trong đó đã đƣa vào danh sách 6 loài mới (Trần Kiên, Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc, 1985) [9]. Năm 1996, Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc đã công bố danh sách bò sát Việt Nam gồm 256 loài bò sát, 82 loài ếch nhái, chƣa kể 14 loài bò sát và 5 loài ếch nhái chƣa xếp vào danh lục (Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc, 1996) [16]. Đến năm 2009, Nguyen et al.
đã công bố danh lục cập nhật về ếch nhái bò sát Việt Nam gồm 444 loài (Nguyen Van Sang, Ho Thu Cuc, Nguyen Quang Truong, 2009) [34]. Nghiên cứu về lưỡng cư bò sát ở Thanh Hóa Hiện nay, nghiên cứu lƣỡng cƣ ở Thanh Hoá chƣa nhiều, mới chỉ có các công bố trên cơ sở các nghiên cứu tiền khả thi cho việc xây dựng các khu rừng đặc dụng. Năm 2007, Nguyễn Kim Tiến ghi nhận thành phần loài LCBS xã Cẩm Lƣơng huyện Cẩm Thủy có 47 loài, 12 họ, 3 bộ. Trong đó có 29 loài BS, 8 họ, 2 bộ và 18 loài LC, 4 họ, 1 bộ [19].
4 Theo Nguyen et al, 2009 [34] đã thống kê ở Thanh Hóa có 32 loài lƣỡng cƣ. Cũng trong năm đó, Nguyễn Kim Tiến thống kê thành phần loài LCBS ở VQG Bến En và các khu bảo tồn thiên Xuân Liên và Pù Luông tỉnh Thanh Hóa đã ghi nhận 121 loài (gồm 49 loài LC và 72 loài BS) [21]. Nguyễn Kim Tiến và cộng sự nghiên cứu ở KBTTN Pù Hu năm 2014 đã xác định có 82 loài, trong đó có 35 loài lƣỡng cƣ thuộc 8 họ, 2 bộ và 47 loài bò sát thuộc 15 họ, 2 bộ. Lần đầu tiên ghi nhận cho Thanh Hóa bộ lƣỡng cƣ không chân (Gymnophiona) [22].
Pham et al, 2016 đã ghi nhận Khu BTTN Xuân Liên có 50 loài lƣỡng cƣ [35]. Nghiên cứu sinh học sinh thái lƣỡng cƣ 1. Ở Việt Nam Các nghiên cứu về sinh học sinh thái lƣỡng cƣ ở Việt Nam cũng đã đƣợc thực hiện. Điển hình là hƣớng nghiên cứu sinh học, sinh thái lƣỡng cƣ ngoài tự nhiên: Đào Văn Tiến, Lê Vũ Khôi (1965) [25], [23] đã nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, sinh thái của ếch đồng (Holobarachus rugulosus) ngoài tự nhiên, tác giả đã thống kê thành phần thức ăn của ếch đồng có 21 loại (15 loài là thức ăn động vật, 5 loài là thức ăn thực vật và 01 loài thức ăn khác).
Tài liệu chuyên khảo về Đời sống ếch nhái của Trần Kiên, Nguyễn Văn Sáng, Nguyễn Quốc Thắng (1977) [10]. Năm 1997 Trần Kiên, Nguyễn Kim Tiến cũng đề cập tới đặc điểm và thời gian biến thái của ếch đồng trong điều kiện nuôi (Trần Kiên, Nguyễn Kim Tiến, 1997) [11]. Năm 2000, Nguyễn Kim Tiến nghiên cứu sâu các giai đoạn biến đổi đặc điểm sinh thái học ếch đồng (Rana rugulosa Wiegmann, 1835) trong điều kiện nuôi (Nguyễn Kim Tiến, 2000) [18]. 5 Năm 2002, Nguyễn Thị Bích Mẫu đã tiến hành nghiên cứu đa dạng sinh học ếch nhái, bò sát thiên địch trên hệ đồng ruộng ở Quỳnh Lƣu, Nghệ An phát hiện đƣợc trên sinh quần nông nghiệp Quỳnh Lƣu, Nghệ An có 10 loài ếch nhái thuộc 7 giống, 5 họ, 1 bộ và 16 loài bò sát thuộc 13 giống, 6 họ, 1 bộ (Nguyễn Thị Bích Mẫu, 2002) [13].
Năm 2002, Hoàng Xuân Quang, Trần Ngọc Lân, Cao Tiến Trung và cộng sự tiến hành nghiên cứu cơ sở phục hồi và phát triển một số động vật thiên địch nhóm bò sát, lƣỡng cƣ ở hệ sinh thái đồng ruộng khu vực Quỳnh Lƣu, Vinh, Thị xã Hồng Lĩnh và xã Cẩm Mỹ thuộc hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh đã xác định đƣợc 10 loài ếch nhái thuộc 5 họ, 1 bộ và 18 loài bò sát thuộc 6 họ, 1 bộ. Bên cạnh đó các tác giả đã nghiên cứu mối tƣơng quan giữa mật độ các loài thiên địch - sâu hại và đánh giá vai trò của thiên địch lƣỡng cƣ bò sát trong việc phòng trừ tổng hợp dịch hại trên hệ sinh thái nông nghiệp, đề xuất các biện pháp bảo vệ và phục hồi đa dạng thiên địch ếch nhái, bò sát (Hoàng Xuân Quang và cs. Năm 2004, Nguyễn Thị Thanh Hà khi tiến hành nghiên cứu ếch nhái thiên địch trên đồng ruộng Hà Huy Tập, Vinh, Nghệ An đã phát hiện có 12 loài ếch nhái thuộc 5 họ, 1 bộ (Nguyễn Thị Thanh Hà, 2004) [5]. Tác giả đã nghiên cứu sự phân bố của các loài theo sinh cảnh kết quả: khu vực ven dân cƣ có độ đa dạng cao nhất chiếm 67,7 %, tiếp đến là bờ ruộng, ruộng nƣớc và ao hồ; nghiên cứu thành phần thức ăn của một số loài ếch nhái thì thấy đƣợc thành phần thức ăn của Ngóe là cao nhất với 7 bộ côn trùng, 1 thuộc lớp chân bụng, 1 đại diện lớp giáp xác; đồng thời nghiên cứu mối tƣơng quan giữa mật độ các loài thiên địch - sâu hại ở các vụ mùa khác nhau thấy đƣợc vụ Đông Xuân 2003, 2004 (R = - 0.35) chúng quan hệ không chặt ngƣợc chiều, vụ mùa 2003 có quan hệ chặt cùng chiều (R = 0.
Năm 2009, Ngô Văn Bình, Trần Thị Thùy Nhơn, Trần Công Tiến, Nghiên cứu về đặc điểm dinh dƣỡng và sinh sản của Ngóe (Fejervarya 6 limnocharis), ch gai sần (Quasipaa verrucospinosa), Chẫu chuộc (Hylarana guentheri) [3]; Các loại thức ăn xuất hiện với tần suất cao bao gồm: bộ Coleoptera (38,55%), bộ Orthoptera (42,42%), bộ Decapoda (43,04%), bộ Mesogastropoda (27,92%), ấu trùng Insecta larvae (19,22%), bộ Hymenoptera (16,76%), lá cây và gỗ mục (20,24%). Phạm Văn Anh và Lê Nguyên Ngật ( 2012) [1] đã chỉ ra nhóm thức ăn ƣa thích của 5 loài lƣỡng cƣ (Quasipaa verrucospinosa, Limnonestes kuhlii, Hylarana maosonensis, H. nigrovittata và Odorana nasica ) dựa trên tần suất bắt gặp con mồi trong dạ dày của mẫu vật thu thập đƣợc. Nghiên cứu của Hoàng Ngọc Thảo và cs (2013) [26] ở Nhái bầu hoa Microhyla fissipes tại xã Châu Bính, huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An cho thấy, thức ăn của Nhái bầu hoa gồm 6 bộ, trong đó các loại thức ăn phổ biến là kiến (bộ Cánh màng Hymenoptera), bộ Cánh cứng (Coleoptera) là các loài có kích thƣớc cơ thể bé, mối non (bộ Cánh đều Isoptera), dế (bộ Cánh thẳng Orthoptera), muỗi (bộ Hai cánh Diptera), bộ Nhện (Araneae).
Phổ thức ăn của Nhái bầu hoa khá hẹp, loại thức ăn phổ biến thuộc bộ Cánh màng (Hymenoptera) và bộ Cánh cứng (Coleoptera).