Chương 1 TỔNG QUAN 1. Lịch sử nghiên cứu về lưỡng cư, bò sát ở Lào Các loài LC, BS của Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào được biết đến muộn hơn so với các nước khác ở Đông Nam Á. Từ năm 1933 đến 1944, Bourret R. đã viết các chuyên khảo về LC, BS Đông Dương (Việt Nam, Lào và Campuchia), Les Tortues de l’Indochine (1941) mô tả 6 loài rùa ở Lào [66].
Trong cuốn Les Batraciens de l’Indochine (1942) mô tả 14 loài lưỡng cư ở Lào [67]. Đây được coi là những tài liệu đầy đủ nhất về LC, BS ở giai đoạn trước 1954 của Đông Dương. Deuve trong cuốn Serpentes du Lao mô tả 94 loài rắn, trong đó có 64 loài được xác định ở Lào [69]. Stuart công bố loài mới Paramesotriton laoensis, đây là loài thuộc họ Paramesotriton đầu tiên của Lào được công bố.
Mẫu vật của loài này được thu ở phía Bắc của Lào [49]. Năm 2003, trong báo cáo Săn bắt và sử dụng động vật hoang dã ở Khu bảo tồn quốc gia Nậm Hà, CHDCND Lào, thống kê cho thấy nhiều loại động vật bị săn bắt và sử dụng làm thực phẩm và thuốc chữa bệnh. Trong đó 97% là người dân ở tỉnh Luang Namtha, 31% là người ngoài đến làng của họ để mua động vật hoang dã [20]. Năm 2004, bắt đầu có nhiều nghiên cứu về lưỡng cư, bò sát được công bố từ Lào.
Annemarie Ohler công bố Một loài mới Leptobrachium buchardi, mẫu vật được thu từ Ban Sepian, Huyện Paksong, Cao nguyên Boloven, Tỉnh Champasak, Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào [4]. Stuart đã công bố loài mới là Philautus petilus. Khu bảo tồn đa dạng sinh học quốc gia Phou Dendin ở phía đông tỉnh Phongsaly, Bắc Lào, gần khu vực ba biên giới của Lào, Việt Nam và Trung Quốc [52]. Cũng trong năm này, Stuart và cs đã đưa thông tin chi tiết về 19 loài rùa nước ngọt, rùa cạn và rùa biển được thu thập trên thực địa 3 hoặc thu được từ những người thợ săn, hoặc chợ ở Lào, Campuchia và Việt Nam [53].
Teynie công bố 25 loài bò sát ở tỉnh Phongsaly bao gồm 13 loài thằn lằn và 12 loài rắn. Qua nghiên cứu này tác giả cũng đưa ra thực trạng các loài bò sát đang bị săn bắt rất nhiều, đặc biệt là các loài thuộc giống Ptyas, các loài này sau khi thu bắt sẽ chuyển sang Trung Quốc và Việt Nam [57]. Năm 2005, Maasafumi Masui và cs đã khảo sát mối quan hệ phát sinh bằng sinh học phân tử, sử dụng chuỗi mtDNA 12s và 16S rRNA và gen cyt-b để kiểm tra mối quan hệ phân loại giữa các quần thể của loài Microhyla ornata, từ Ấn Độ, Bangladesh, Thái Lan, Lào, Trung Quốc, Đài Loan và Quần đảo Ryukyu của Nhật Bản. Kết quả loài cho thấy loài này được tách thành hai nhánh và có sự khác biệt về di truyền [28].
Stuart có 4 công bố về LC, BS ở Lào, cụ thể là công bố loài Rana khalam tại khu bảo tồn thiên nhiên Xe Sap, huyện Kaleum, tỉnh Xe Kong, Lào và 44 loài lưỡng cư thuộc giống Ranidae ở Lào và Việt Nam [46]. Các nghiên cứu từ tháng 2 năm 1998 và tháng 12 năm 2000 đã công bố 46 loài lưỡng cư được ghi nhận ở Lào vào bổ sung những thông tin về sự phân bố của chúng. Đây là công bố đầy đủ nhất cho lưỡng cư của Lào đến năm này [47]. Tháng 12 Stuart và cs đã công bố 3 loài ếch mới, một loài mới được thu thập từ cao nguyên Bolaven của miền nam Lào là Rana bolavensis, loài thứ hai từ miền trung Lào và miền Trung Việt Nam là Rana orba và miền bắc Lào là Rana heatwolei [48].
Bain và cs đã ghi nhận 3 loài mới ở Lào và Việt Nam là Rana cucae mẫu thu tại núi thường xanh, thuộc Nam Tha, Rana vitrea mẫu thu tại Khu bảo tồn đa dạng sinh học quốc gia Phou Dendin, huyện Phongsaly, tỉnh Phongsaly và Rana compotrix mẫu thu tại Khu bảo tồn đa dạng sinh học quốc gia Nakai-Nam Theun, tỉnh Khammouan [8]. Stuart và cs đã ghi nhận loài Rana nigrotympanica ở phía bắc Lào, gần Vân Nam, Trung Quốc. Đây là báo cáo đầu tiên của R. nigrotympanica bên ngoài Trung Quốc [50].
4 Năm 2007 Keomany đã mô tả bệnh nhân phát bệnh nặng sau khi ăn da và trứng của một con cóc, có thể là Bufo melanostictus, ở đông nam Lào. Nghiên cứu này cũng đã khảo sát tình hình ngộ độc thịt cóc và chỉ ra rằng 6/16 bệnh viện cấp tỉnh vẫn ghi nhận có trường hợp bị ngộ độc do ăn thịt cóc [22]. Ohler đã so sánh các cặp loài được mô tả ở biên giới Trung Quốc - Việt Nam - Lào và đề xuất lại tên của 6 loài lưỡng cư qua các từ đồng nghĩa như: Rana daorum là một từ đồng nghĩa của Amolops mengyangensis và đề xuất tên hợp lệ của loài là Amolops mengyangensis; Rana hmongorum là một từ đồng nghĩa của Rana jingdongensis và đề xuất tên hợp lệ của loài là Odorrana jingdongensis [37]. Teynié công bố ghi nhận phân bố mới loài Naja siamensis (Laurenti, 1768) ở Khu bảo tồn đa dạng sinh học quốc gia Xépian, tỉnh Champasak, miền nam Lào và nâng tổng số 37 loài rắn ở khu vực này [58].
Năm 2009 David, P và cs đã cập nhận danh sách 143 loài thằn lằn của 3 nước Việt Nam, Lào, Campuchia so với 54 loài đã được mô tả từ năm 1945 bởi Bourret [11]. Orlov đã công bố một loài lưỡng cư mới thuộc giống Rhacophorus, được mô tả trên cơ sở nghiên cứu hình thái của tài liệu thu thập được ở Huyện Thakhek, tỉnh Khammouane, miền Trung nước Lào [39]. Năm 2010 có 4 loài LC, BS được công bố tại Lào là Leptolalax aereus được thu thập tại suối trong rừng thường xanh, ở độ cao 284-511 m trong khu khai thác mỏ Sepon, huyện Vilabouly, tỉnh Savannakhet bởi Jodi và cs [19]. Hai loài thuộc giống Cyrtodactylus được công bố mới trong năm 2010 là loài Cyrtodactylus lomyenensis được thu thập ở Gnommalath Huyện, Kham Muội, miền nam Lào và công bố bởi Ngô Văn Trí và cs [32]; Cyrtodactylus wayakonei, dựa trên bốn mẫu vật từ Hang Kao Rao, gần Ban Nam Eng, Huyện Vieng Phoukha, Tỉnh Luang Nam Tha, miền bắc Lào được công bố bởi Nguyễn Quảng Trường và cs [35].
Nhóm tác giả Stuart đã công bố 2 bài báo trong năm 2010 là loài Tylototriton notialis được thu thập từ vách đá Phou Ak ở Khu bảo tồn Quốc gia Nakai-Nam Theun, tỉnh Kham Muội kết quả cho thấy loài mới này đại diện 5 cho ghi nhận đầu tiên của giống Tylototriton ở Lào [51]. Một phân tích sinh học phân tử về phát sinh loài, được thực hiện bằng cách sử dụng ba gen ti thể và hai gen nhân được giải trình tự từ tám trong số 12 thành viên giả định của nhóm Amolop monticola. Kết quả cho thấy một quần thể mới được phát hiện ở Tây Bắc Lào được mô tả là một loài mới Amolops akhaorum dựa trên đặc điểm hình thái và phân tử của nó [54]. Năm 2011 Cota và cs đã chi nhận loài Lygosoma angeli, cho danh lục lưỡng cư, bò sát của Thái Lan, đồng thời cung cấp dữ liệu địa lý và hình thái học mới về các mẫu L.
angeli của Lào [10]. Trong năm nay 2 loài thuộc giống Cyrtodactylus được ghi nhận mới ở Lào. Schneider và cs công bố loài Cyrtodactylus pageli Tây Bắc Lào, dựa trên một bộ sưu tập từ tỉnh Viêng Chăn [43]; David P và cs công bố loài Cyrtodactylus teyniei ở Borikhamxay, phát hiện này đã nâng tổng số loài thuộc giống Cyrtodactylus lên 7 loài ở Lào [13]. Bain, Raoul đã cho thấy 3 nước Lào, Campuchia và Việt Nam (Đông Dương) có hơn 600 loài lưỡng cư và bò sát, gần một phần tư trong số đó đã được mô tả trong vòng 15 năm qua và lập bản đồ về sự phong phú và đặc hữu của các loài, sự đóng góp của các loài động vật trong khu vực và đặc điểm sinh thái của các loài lưỡng cư ở Đông Dương [6].
Năm 2012 Phimmachak đã nghiên cứu về Phân bố, Lịch sử Tự nhiên và Bảo tồn Sa giông Lào (Laotriton laoensis) cho thấy đây là loài có phân bố hẹp, phạm vi địa lý của nó chỉ giới hạn trong một khu vực nhỏ ở Bắc Lào. Sinh cảnh sống hẹp, giao phối ở thời gian lạnh nhất trong năm. Loài này bị đe dọa do khai thác quá mức để làm thực phẩm, thuốc, đặc biệt là buôn bán vật nuôi quốc tế [40]. Cùng trong năm này, có 2 loài mới được công bố ở Lào là Oligodon nagao được thu mẫu ở Việt Nam, Trung Quốc và tỉnh Kham Muội, miền trung của Lào và được công bố bởi các tác giả Patrick David và cs [12]; loài thứ hai là Leptobrachium xanthops được thu thập tại Cao nguyên Dakchung, Núi Phou Ajol, Tỉnh Xe Kong Lào được thu thập bởi Stuart và cs [55].
6 Năm 2013 Bezuijen, Mark R khảo sát chuyên sâu đầu tiên về Crocodylus siamensis với dữ liệu thực địa mới về sinh thái và bảo tồn. Về mặt lịch sử, C. siamensis sống phổ biến ở các sinh cảnh ven sông và cửa sông ở vùng đất thấp của Lào, với hầu hết các ghi chép từ Trung và Nam Lào ở Đồng bằng sông Cửu Long. Những ghi chép này cũng cho thấy rằng sự suy giảm phạm vi nghiêm trọng đã xảy ra trong thế kỷ qua.
Crocodylus siamensisis hiện nay có lẽ đã bị khai thác khỏi sông Mekong của Lào và nhiều vùng đất ngập nước khác. siamensis còn sót lại ở Lào có tầm quan trọng toàn cầu [9]. Masafumi trên cơ sở bằng chứng phân tử và hình thái học đã công bố một loài mới của phân họ Vibrissaphora thuộc giống Leptobrachium được mô tả từ phía đông của Lào [29]. Lưu Quang Vinh và cs đã công bố bốn loài bò sát, được ghi nhận lần đầu tiên từ Lào: Cyrtodactylus phongnhakebangensis, Lycodon futsingensis, L.
ruhstrati, như từ các khu rừng đá vôi ở Kham muội và Cyrtodactylus pseudoquadrivirgatus từ rừng thường xanh trên đồi ở tỉnh Salavan. Những phát hiện của thằn lằn và rắn mang tổng số loài bò sát đến 189 tại Lào [23]. Năm 2014 có 5 loài mới thuộc giống Cytodactylus được công bố nâng tổng số 14 loài thuộc giống này tại Lào. Lưu Quang Vinh công bố loài mới là Cyrtodactylus jaegeri được thu thập tại tỉnh Khăm Muội, đây là loài thứ 9 thuộc giống Cyrtodactylus phát hiện từ Lào[24].
Nazarov và cs đã công bố mới 4 loài mới thuộc giống Cyrtodactylus dựa trên kết quả phân tích sinh học phân tử và mô tả hình thái của các mẫu thu từ các tỉnh Kham Muội là Cyrtodactylus khammouanensis; Cyrtodactylus darevskii; Cyrtodactylus multiporus. Loài Cyrtodactylus spelaeus được mô tả từ một hang động ở phía bắc của tỉnh Viêng Chăn của Lào [30]. Geissler và cs dựa trên các phân tích hình thái và phân tử đã công bố 3 loài Ichthyophis là I.cardamomensis từ miền tây Campuchia, I.