Đặt vấn đề Cây đậu xanh là một cây công nghiệp ngắn ngày, cây thực phẩm có giá trị kinh tế cao và có khả năng cải tạo đất tốt. Đậu xanh đã được con người sử dụng làm lương thực, thực phẩm từ hàng nghìn năm nay. Trong hạt đậu xanh có chứa nhiều dinh dưỡng đặc biệt là Protein và Gluxit. Sau khi được coi là cây trồng giá trị thì sản xuất đậu xanh đã phát triển mạnh với quy mô và diện tích lớn, năng suất và chất lượng ngày càng cao.
Tuy nhiên thực tế mới có khoảng trên 30 nước trồng và sản xuất đậu xanh, tập trung chủ yếu ở vùng Viễn Đông như Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan. Hầu hết các giống đậu xanh thương phẩm đều mẫn cảm với chu kỳ ánh sáng, nó thuộc loại cây ngắn ngày (60-80 ngày). Hiện nay các nhà nghiên cứu đã và đang cố gắng phát triển những giống không phản ứng với độ dài ngày ở các vĩ độ từ 30° vĩ Bắc dến 40° vĩ Nam. Ngày nay việc trồng đậu xanh chủ yếu vẫn là sử dụng các giống có tính thích ứng với độ dài ngày, do đó cần phải chọn thời vụ như thế nào để cây sinh trưởng đầy đủ trong thời gian ngày dài và bắt đầu ra hoa trước thời gian ngày ngắn.
Vì vậy, việc chọn thời vụ thích hợp rất quan trọng và là một bước quyết định đến năng suất và chất lượng đậu xanh. Bộ phận quan trọng nhất của cây đậu xanh là hạt, trong hạt đậu xanh có hàm lượng Protein chiếm từ 22-28%. Tùy theo các giống khác nhau mà hàm lượng Protein cũng thay đổi theo. Theo sách cây Đậu xanh-Kỹ thuật trồng và chế biến sản phẩm NXB Nông Nghiệp Hà Nội năm 2002 cho thấy: Giống đậu mỡ có hàm lượng Protein thô là 25,8%, đậu hạt tiêu là 26,7%, đậu xanh vàng 21,7% và giống CES87 là 25.
n 2 Theo bảng phân tích thành phần hóa học của một số loại thức ăn ở Việt Nam (NXB Y học năm 1972) cho thấy: trong 100g đậu xanh chứa 23,8% Protein, 1,3-4% Lipit, 53% Gluxit và cung cấp 340 calo. Protein của đậu xanh có chứa đủ 8 loại axit amin không thay thế đó là: Lizin 4,3%, Leuxin 5,5%, Hirtidin 1,2%, Anylin 6,3%. đặc biệt là các axit amin chưa lưu huỳnh. Ngoài ra đậu xanh c ̣n ch ứa các Vitamin và các chất khoáng rất cần cho cơ thể con người như: Ca 64 mg, P 377 mg, Fe 4,8 mg Caroten 0,06 mg, vitamin B1 0,71 mg, vitamin B2 1,15 mg, vitamin PP 2,4 mg, vitamin C 4 mg.
Do thành phần các chất ding dưỡng trong hạt đậu xanh khá cao, nên từ xưa con người đã biết cách chế biến đậu xanh thành nhiều loại thực phẩm như: chè, xôi, bánh, kem. Hạt đậu xanh còn được ủ thành rau như: giá đỗ, hoặc chế biến thành bột dinh dưỡng, sữa đậu xanh, miến đậu xanh, mì chính. Đậu xanh còn là cây thuốc có tác dụng hạ nhiệt, giải độc, hạt đậu xanh có thể chữa bệnh tiểu đường. Vì vậy đậu xanh được coi là một vị thuốc quý trong y học, ngoài ra đậu xanh còn được chế biến thành bột dinh dưỡng chất lượng cao bồi dưỡng cho trẻ nhỏ, người già, người ốm yếu.
Bên cạnh những giá trị của hạt đậu xanh thì các bộ phận khác của cây còn là nguồn thức ăn phong phú cung cấp cho chăn nuôi, làm nguyên liệu cho các nhà máy chế biến. Protein trong thân lá đậu xanh chiếm khoảng 8-15%, có thể chế biến tươi hoặc nghiền khô làm thức ăn dự trữ, nhằm góp phần nâng cao giá trị cây đậu xanh và thúc đẩy cho chăn nuôi phát triển. Ngoài ra cây đậu xanh còn có giá trị cao về mặt sinh học trong việc cải tạo bồi dưỡng đất. Bản thân cây đậu xanh có khả năng cố định đạm tự do trong không khí thành dạng đạm dễ tiêu cung cấp cho cây, nhờ hệ vi sinh vật Rhizobium Vigna sống cộng sinh ở rễ.
Tuy nốt sần cây đậu xanh ít và bé hơn cây lạc, cây đậu tương, song hàng năm cây đậu xanh để lại cho đất một lượng n 3 đạm từ 30-50kg N/ha, tương đương 152 kg đạm Ure. Sau khi thu hoạch cây đậu xanh còn để lại cho đất từ 5-10 tấn phân xanh/ha/vụ. Do vậy đậu xanh được coi là cây cải tạo đất, tăng hệ vi sinh vật và lượng đạm trong đất. Đậu còn có ưu điểm là thời gian sinh trưởng ngắn (60-80 ngày) lại là cây ưa bóng, có thể trồng xen canh, luân canh, gối vụ trong cơ cấu cây trồng nhằm nâng cao thu nhập và tăng hệ số sử dụng đất.
Điều này có ý nghĩa to lớn trong việc phát triển nền nông nghiệp Việt Nam ngang tầm thế giới. Ở Việt Nam, đậu xanh là một trong những cây trồng cổ truyền, nhưng năng suất và sản lượng đậu xanh tăng rất chậm. Nguyên nhân chính là do trình độ thâm canh và áp dụng các biện pháp kỹ thuật còn thấp. Ngoài ra ta chưa có sự cải tiến về bộ giống, chủ yếu vẫn sử dụng giống cũ của địa phương có năng suất thấp.
Để đáp ứng được nhu cầu của sản suất và xuất khẩu, việc lựa chọn và tạo ra những giống đậu xanh có năng suất cao, chất lượng tốt, ổn định, chín tập trung, thời gian sinh trưởng ngắn, thích nghi với điều kiện ngoại cảnh là một vấn đề rất cần thiết. Đây không chỉ là vấn đề của các nhà khoa học mà còn là vấn đề chung của xã hội trên lĩnh vực khoa học nông nghiệp. Xuất phát từ nhu cầu thực tế đó chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu khả năng sinh trƣởng và phát triển của một số giống đậu xanh tại trƣờng ĐH Nông Lâm Thái Nguyên”. Mục đích của đề tài - Tìm được những giống đậu xanh có khả năng sinh trưởng, phát triển tốt, cho năng suất cao, phẩm chất tốt phù hợp với điều kiện sinh thái của địa phương.
- Đề xuất những giống đậu xanh có triển vọng trong nghiên cứu cho sản xuất. Yêu cầu của đề tài - Theo dõi quá trình sinh trưởng, phát triển của các giống đậu xanh thí nghiệm trong vụ Xuân 2015 tại trường ĐH Nông Lâm Thái Nguyên. - Đánh giá một số chỉ tiêu sinh lý, khả năng chống chịu sâu bệnh và ngoại cảnh của các giống đậu xanh thí nghiệm. - Xác định các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất các giống đậu xanh thí nghiệm.
n 5 PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Nguồn gốc lịch sử của cây đậu xanh Cây đậu xanh có tên khoa học là Vigna radiata (L) Wilczek. Có tên tiếng anh là Mung bean, Green bean. Cây đậu xanh có nguồn gốc từ trung Á và được trồng rộng rãi ở khắp các vùng của tiểu lục địa Ấn Độ cũng như thung lũng sông Nin (Ai Cập ) từ hàng ngàn năm trước.
Sau đó, đậu xanh được lan truyền dần sang các vùng khác của Châu Á, Châu Phi, Bắc Mỹ, Châu Mỹ latinh và Châu Úc. Với người Châu Âu, bằng chứng sớm nhất về đậu xanh đã đươc ghi lại bởi ông De La Laubeve, công sứ đặc mệnh nước Pháp tại Thái Lan vào năm 1867- 1868. Trong thời gian này ông ghi nhận một điều đáng chú ý rằng: “cây đậu (peas) chưa từng xuất hiện ở Pháp nhưng lại khá phát triển ở Thái Lan”. Từ “peas” được hiểu như đậu xanh.
Đậu xanh và vừng ở Thái Lan được dùng để biểu tượng cho sự thành đạt và thịnh vượng trong các nghi lễ trọng đại của Vương Quốc Thái suốt hàng nghìn năm qua (Peerasak Srinives,1991). Có lẽ điều này đã khiến Srinives và Yang (1988) đưa ra giả thiết rằng trong khu vực Đông Nam Á, cây đậu xanh rất có thể được trồng đầu tiên ở Thái Lan giữa những năm của thế kỷ thứ nhất và thứ ba trước công nguyên. Sự kiện này trùng hợp với các tài liệu kinh sử của đạo Phật hay đạo Hin-du của Ấn Độ giáo. Tuy vậy, bằng chứng mới nhất về khảo cổ học tại khu vực Thampec và Chostcave của tỉnh Machongson (Thái Lan) đã cho thấy đậu xanh được trồng ở đây 800-1000 năm nay.
Như vậy đậu xanh đã có lịch sử trồng trọt lâu đời ở Châu Á. Nhưng mãi đến năm 1972 khi đậu xanh đã được xác định là cây trồng chính của trung tâm nghiên cứu và phát triển rau đậu châu Á (AVRDC) n 6 thì đồng thời nhiều công trình nghiên cứu cấp nhà nước về cây này đã được xác lập ở các quốc gia khác nhau như Ấn Độ, Philippin, Thái Lan, Mỹ và Australia (AVRDC-1974). Lịch sử trồng đậu xanh ở Việt Nam đến nay chưa đủ nguồn gốc xác định, song theo “Vân Đài Loại Ngữ” của Lê Quý Đôn thì đậu xanh ở nước ta được trồng từ lâu đời. Ngoài mục đích làm thực phẩm và làm thuốc thì đậu xanh còn có ý nghĩa rất quan trọng trong cải tạo đất, chống sói mòn và làm phân xanh có giá trị cao.
Ngoài ra đậu xanh còn được dùng làm bánh trưng, loại bánh không thể thiếu trong tết cổ truyền của dân tộc Việt Nam, nên đậu xanh đã được nhân dân ta trồng từ rất lâu đời. Tình hình sản xuất và nghiên cứu đậu xanh trên thế giới 2. Tình hình sản xuất đậu xanh trên thế giới Đậu xanh là cây đậu đỗ quan trọng, trong nhóm cây đậu đỗ ăn hạt thì nó đứng hàng thứ ba sau cây đậu tương và lạc. Trong các nước nhiệt đới và á nhiệt đới, đậu xanh chiếm gần 10% diện tích và 5% sản lượng của các loại đỗ ăn hạt.
Do đậu xanh có nhiều ưu thế, với TGST ngắn (60-80 ngày), kỹ thuật canh tác đơn giản, dễ thâm canh tăng vụ, trồng xen, trồng gối. nên đậu xanh được phát triển mạnh ở các nước nhiệt đới, á nhiệt đới và đang trở thành cây trồng quan trọng trong hệ thống đa canh. Ở khu vực Đông Nam Á, cây đậu xanh được phát triển mạnh ở các nước Ấn Độ, Thái Lan, Philippin, Myanma, Inđônêxia và gần đây đậu xanh được phát triển ở một số vùng ôn đới như Châu Úc, lục địa Châu Mỹ. Theo kết quả điều tra của Trung tâm nghiên cứu và phát triển rau đậu Châu Á (AVRDC) năm 1986, hàng năm trên thế giới có khoảng 30 nước trồng đậu xanh.
Ngoài ra đậu xanh còn đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của con người và sự giao lưu kinh tế giữa các nước trên thế giới. n 7 Từ năm 2009, diện tích trồng đậu xanh của thế giới mới chỉ đạt 11,5 triệu ha, năng suất 6,069 tạ/ha và sản lượng là 10,4 triệu tấn. Cho đến nay diện tích trồng đậu xanh được mở rộng từ 40° vĩ Bắc đến 40° vĩ Nam, tập trung chủ yếu vùng nhiệt đới. Những năm gần đây cây đậu xanh được các nước quan tâm và phát triển mạnh mẽ.