Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài Để có đủ lương thực thực phẩm nuôi sống toàn cầu trong bối cảnh khí hậu và môi trường có nhiều biến đổi, con người phải tiến hành một nền nông nghiệp hiện đại. Nền sản xuất này dựa trên việc áp dụng một cách khoa học các yếu tố như giống, nước, phân bón… đồng thời bảo vệ được nguồn tài nguyên thiên nhiên, tránh ô nhiễm môi trường. Để đạt được mục đích này trong sản xuất cần chọn được giống tốt cho năng suất cao, phẩm chất tốt, phù hợp với điều kiện sinh thái của vùng.
Trong sản xuất nông nghiệp, giống là một yếu tố quan trọng hàng đầu, sử dụng giống tốt năng suất cây trồng được tăng lên, phẩm chất cây trồng được cải tiến. Tuy nhiên, muốn phát huy được hiệu quả của giống tốt cần phải sử dụng chúng phù hợp với điều kiện khí hậu đất đai và kinh tế - xã hội của vùng. Để đáp ứng được yêu cầu đó, trong sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất lúa nói riêng cần các giống mới ưu việt hơn, thay thế dần các giống cũ. Đặc biệt ở các tỉnh Trung du và miền núi với điều kiện khí hậu khắc nghiệt, kinh tế khó khăn, trình độ thâm canh thấp chính vì thế mà người nông dân ở đây rất cần có các giống lúa thuần chất lượng, năng suất cao, khả năng chống chịu tốt, nhằm mang lại hiệu quả trong canh tác, góp phần nâng cao thu nhập, đem lại hiệu quả kinh tế cho người sản xuất.
Tình hình sản xuất lúa trên thế giới và trong nước 1. Tình hình sản xuất lúa trên thế giới Hiện nay, trên thế giới có khoảng 114 quốc gia và vùng lãnh thổ trồng lúa với diện tích khoảng 163,25 triệu ha (FAOSTAT, 2014) [38]. Trong đó n 5 châu Á có diện tích trồng lúa chiếm tới trên 88,36% tổng diện tích trồng lúa trên thế giới, châu Mỹ chiếm 4,1%, châu Phi chiếm 7,1%, châu Âu 0,39% và châu Úc chiếm 0,05%. Tình hình sản xuất lúa trên thế giới giai đoạn 2010 - 2014 được trình bày ở bảng 1.1: Diện tích, năng suất và sản lượng lúa trên thế giới giai đoạn từ năm 2010 - 2014 Diện tích Năng suất Sản lượng Năm (triệu ha) (tạ/ha) (triệu tấn 2010 161,19 43,53 701,65 2011 162,48 44,40 721,45 2012 161,86 45,30 733,26 2013 164,09 44,98 738,09 2014 163,25 45,39 740,96 (Nguồn: FAOSTAT 9/ 2016) [38] Số liệu bảng 1.1 cho thấy diện tích trồng lúa trên toàn thế giới tăng dần trong 5 năm gần đây đạt cao nhất năm 2013 (164,09 triệu ha), năng suất tăng nhưng không đáng kể, dao động từ 43,53 - 45,39 tạ/ha và sản lượng lúa của thế giới tăng dần trong qua các năm đạt cao nhất năm 2014 (740,96 triệu tấn) Với việc áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, diện tích trồng lúa lai được mở rộng làm cho năng suất lúa ngày một nâng cao.
Mặc dù châu Á có diện tích và sản lượng lớn nhất thế giới nhưng năng suất lúa cao nhất lại tập trung ở các nước phát triển như Mỹ, Nhật bản … Năm 2014 nước có năng suất lúa cao nhất là Mỹ 84,87 tạ/ha, tiếp đến là Trung Quốc 67,46 tạ/ha, Nhật Bản 66,98 tạ/ha. Tình hình sản xuất lúa một số nước trên thế giới được trình bày ở bảng 1.2: Diện tích, năng suất và sản lượng lúa của một số nước trên thế giới năm 2014 Diện tích Năng suất Sản lượng Nước (triệu ha) (tạ/ha) (triệu tấn) Trung Quốc 30,87 67,46 208,2 Ấn Độ 43,40 36,22 157,2 Indonesia 13,80 51,35 70,85 Bangladesh 11,82 44,19 52,23 Việt Nam 7,82 57,54 44,97 Myanmar 6,79 38,92 26,42 Thái Lan 10,83 30,11 32,62 Philippines 4,74 40,02 18,97 Brazil 2,34 52,03 12,18 Mỹ 1,18 84,87 10,03 Nhật Bản 1,58 66,98 10,55 (Nguồn: FAOSTAT 9/ 2016) [38] Số liệu bảng 1.2 ta thấy trong những nước có sản lượng lớn nhất thế giới thì có tới 9 nước nằm ở khu vực châu Á và Mỹ và Brazil nằm ở châu Mỹ. Trong đó, Ấn Độ là nước có diện tích trồng lúa lớn nhất thế giới với diện tích 43,4 triệu ha, tiếp theo là Trung Quốc 30,87 triệu ha. Mỹ, Trung Quốc và Nhật Bản là 3 nước có năng suất lúa cao hơn hẳn các nước còn lại, vì Trung Quốc là nước đi đầu trong lĩnh vực lúa lai và có trình độ thâm canh cao.
Mỹ và Nhật Bản là nước đi sâu về chọn, tạo những giống lúa thuần có chất lượng cao cùng với trình độ khoa học kỹ thuật rất phát triển, áp dụng cơ giới hóa gần như toàn bộ từ những khâu nhỏ nhất tới thu hoạch và bảo quản nên năng suất cũng không ngừng tăng lên. Thái Lan và Việt Nam là 2 nước xuất khẩu gạo đứng đầu thế giới, nhưng về cơ bản năng suất lúa còn thấp. Năng suất lúa của Thái Lan đạt 30 n 7 tạ/ha. Tiêu chí chọn giống lúa của các nhà khoa học Thái Lan là các giống phải có thời gian sinh trưởng từ trung bình đến dài ngày (vì phần lớn lúa ở Thái Lan chỉ trồng 1 vụ/năm), hạt gạo dài, trong, ít dập gãy khi xay sát, có hương thơm, coi trọng chất lượng hơn là năng suất… Chính vì vậy giá gạo Thái Lan luôn cao hơn Việt Nam.
Theo dự báo của Ban nghiên cứu kinh tế - Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ, trong giai đoạn 2007 - 2017, các nước sản xuất gạo ở châu Á sẽ tiếp tục là nguồn xuất khẩu gạo chính của thế giới bao gồm Thái Lan, Việt Nam, Ấn Độ. Riêng xuất khẩu gạo của hai nước Thái Lan và Việt Nam sẽ chiếm khoảng 50% tổng sản lượng gạo xuất khẩu của thế giới. Trong “Báo cáo chiến lược về an ninh lương thực Quốc gia đến năm 2020 và tầm nhìn 2030” Bộ Nông nghiệp và PTNT năm 2008 đã dự báo tình hình sản xuất và tiêu thụ gạo trên thế giới đến năm 2020 như sau: - Trong 10 năm tới, sản xuất lúa gạo trên thế giới tăng chậm do hạn chế việc mở rộng diện tích gieo cấy, một số nước có diện tích trồng lúa lớn có xu hướng giảm và năng suất lúa kém ổn định khi phải chịu ảnh hưởng của thiên tai dịch bệnh. - Tiêu dùng gạo trên thế giới tiếp tục tăng do tăng dân số, đặc biệt ở châu Á, châu Phi là hai khu vực sử dụng nhiều lúa gạo.
Khu vực Tây bán cầu và Trung Đông tăng mức tiêu thụ gạo trên đầu người. - Nhiều quốc gia xuất khẩu gạo lớn giảm lượng gạo xuất khẩu, trong khi nhu cầu nhập khẩu gạo tăng, nguồn cung thị trường gạo sẽ thiếu hụt so với nhu cầu, giá gạo trên thị trường thế giới giữ ở mức cao. Theo Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ, thương mại gạo toàn cầu năm 2008 là 29,4 triệu tấn, giảm 1,3 triệu tấn so với năm 2007. Dự báo lượng gạo thương mại trên thế giới trong thập kỷ tới sẽ tăng bình quân 2,4% trên năm và sẽ đạt mức 35 triệu tấn vào năm 2017.
Tuy nhiên, trước nguy cơ dân số tăng nhanh như hiện nay, ước n 8 tính sẽ đạt 8 tỉ người vào năm 2030 và nguy cơ khủng hoảng lương thực toàn cầu, để đảm bảo an ninh lương thực trong nước, các nước như Trung Quốc, Ấn Độ, Pakistan, Hoa Kỳ…giảm lượng gạo xuất khẩu, trong khi nhiều nước tăng lượng nhập khẩu. Tình hình sản xuất lúa trong nước Việt Nam thuộc khu vực Đông Nam Á, nằm trong vành đai nhiệt đới gió mùa, rất thích hợp cho phát triển cây lúa. Sản xuất lúa là mục tiêu phát triển nông nghiệp của Việt Nam để đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia và xuất khẩu. Ở Việt Nam lúa được trồng từ Bắc vào Nam và có 3 vùng trồng lúa chủ yếu là đồng bằng Sông Hồng, đồng bằng Sông Cửu Long và vùng đồng bằng Duyên hải miền Trung.
Trong đó, đồng bằng Sông Cửu Long (2,1 triệu ha) và đồng bằng Sông Hồng (1,7 triệu ha) được coi là 2 vựa lúa chính của cả nước. Tình hình sản xuất lúa ở Việt Nam trong 5 năm gần đây được trình bày ở bảng 1.3: Diện tích, năng suất và sản lượng lúa của Việt Nam giai đoạn từ năm 2010 - 2014 Diện tích Năng suất Sản lượng Năm (triệu ha) (tạ/ha) (triệu tấn) 2010 7,49 53,42 40,00 2011 7,66 55,38 42,40 2012 7,76 56,35 43,74 2013 7,90 55,73 44,04 2014 7,82 57,54 44,97 (Nguồn: FAOSTAT 9/2016 [38] n 9 Số liệu bảng 1.3 cho thấy diện tích trồng lúa của Việt Nam trong 5 năm gần đây khá ổn định, dao động tự 7,49 - 7,90 triệu ha, năng suất tăng không đáng kể, biến động từ 53,42 - 57,54 tạ/ha và sản lượng đạt từ 40 - 44,97 triệu tấn. Về giá cả, theo Bộ công thương mặc dù bối cảnh chung thị trường xuất khẩu gạo gặp nhiều khó khăn, xuất khẩu gạo của Việt Nam những tháng đầu năm 2010 vẫn tăng mạnh về số lượng, lúa hàng hóa được tiêu thụ với mức giá tốt nhất, không ảnh hưởng tiêu cực đến chỉ số giá tiêu dùng (CPI). Dân số Việt Nam vẫn tăng nhanh, đạt 90 triệu người năm 2013 trong khi quỹ đất dành cho trồng lúa có hạn, năng suất lúa nhiều vùng, nhất là vùng đồng bằng sông Hồng gần như đã đạt ngưỡng tối đa, việc tăng thêm diện tích và năng suất là rất khó khăn.
Với tập quán sản xuất nhỏ, quy mô hộ gia đình, tự cung tự cấp, chạy theo năng suất xem nhẹ chất lượng gạo vẫn phổ biến trong hầu hết các hộ gia đình. Trình độ khoa học công nghệ, kiến thức thị trường của nông dân còn nhiều hạn chế. Đứng trước tình hình đó, chiến lược sản xuất lúa của Việt Nam trong thời gian tới là phấn đấu đạt và duy trì sản lượng lúa hàng năm là 40 triệu tấn, đẩy mạnh sản xuất các giống lúa có chất lượng cao, dành 1 triệu ha để sản xuất lúa phục vụ mục tiêu xuất khẩu, duy trì, chọn lọc, lai tạo và nhập khẩu các giống lúa có chất lượng cao phục vụ cho yêu cầu của sản xuất là một nhiệm vụ sống còn và phải đạt thành chương trình cấp quốc gia và phải huy động cả “4 nhà” (Nhà nước, nhà khoa học, nhà nông và nhà doanh nghiệp) cùng tham gia thì mới hy vọng đạt được kết quả như mong đợi. Cần tập trung phát triển sản xuất lương thực ở những vùng và tiểu vùng trọng điểm, phấn đấu tăng sản lượng lương thực bình quân đầu người trên 450 kg/người/năm, nâng cao chất lượng sản xuất và chế biến lương thực đáp ứng nhu cầu tiêu dung, dự trữ và xuất khẩu.
Tình hình sản xuất lúa tỉnh Yên Bái Mấy năm gần đây, thị trường lúa gạo trong nước nhất là các giống lúa thuần chất lượng có giá bán tương đối cao.