Luận văn thạc sĩ nghiên cứu khả năng sinh trưởng phát triển một số dòng giống dong riềng tại huyện tam đường tỉnh lai châu

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển các dòng giống dong riềng tại huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu, đánh giá tiềm năng nông nghiệp địa phương.

Trường đại học

Đại học Thái Nguyên

Chuyên ngành

Khoa học cây trồng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2015

111
4
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Khả năng sinh trưởng của giống dong riềng

Nghiên cứu tập trung vào khả năng sinh trưởng của các giống dong riềng tại Tam Đường, Lai Châu. Các giống dong riềng được đánh giá dựa trên tỷ lệ nảy mầm, thời gian sinh trưởng, và khả năng thích ứng với điều kiện địa phương. Kết quả cho thấy, các giống dong riềng có khả năng sinh trưởng mạnh, đặc biệt trong điều kiện đất đai và khí hậu của Tam Đường. Các giống này cũng thể hiện khả năng chống chịu tốt với các yếu tố bất lợi như hạn hán và sâu bệnh.

1.1. Tỷ lệ nảy mầm và thời gian sinh trưởng

Tỷ lệ nảy mầm của các giống dong riềng dao động từ 85% đến 95%, với thời gian sinh trưởng trung bình từ 6 đến 8 tháng. Các giống có thời gian sinh trưởng ngắn hơn thường cho năng suất cao hơn, phù hợp với chu kỳ canh tác của địa phương.

1.2. Khả năng chống chịu

Các giống dong riềng được nghiên cứu thể hiện khả năng chống chịu tốt với điều kiện khí hậu khắc nghiệt, đặc biệt là hạn hán. Điều này giúp giảm thiểu rủi ro trong sản xuất và đảm bảo năng suất ổn định.

II. Điều kiện sinh trưởng và phát triển cây trồng

Nghiên cứu đánh giá các điều kiện sinh trưởng cần thiết cho sự phát triển của giống dong riềng tại Tam Đường. Các yếu tố như nhiệt độ, ánh sáng, đất đai, và nguồn nước được phân tích kỹ lưỡng. Kết quả cho thấy, dong riềng phát triển tốt nhất trong điều kiện nhiệt độ từ 25-30°C, đất cát pha giàu mùn, và lượng mưa vừa phải.

2.1. Yêu cầu về nhiệt độ và ánh sáng

Dong riềng thích hợp với nhiệt độ ấm áp từ 25-30°C và không cần nhiều ánh sáng trực tiếp. Điều kiện này giúp cây phát triển thân củ mạnh mẽ và đạt năng suất cao.

2.2. Yêu cầu về đất và nước

Đất cát pha giàu mùn và thoát nước tốt là lý tưởng cho dong riềng. Cây không chịu được ngập úng, do đó, việc quản lý nước hợp lý là yếu tố quan trọng để đảm bảo sự phát triển của cây.

III. Kỹ thuật canh tác và đánh giá giống

Nghiên cứu đề xuất các kỹ thuật canh tác hiệu quả để tối ưu hóa năng suất và chất lượng của giống dong riềng. Các kỹ thuật bao gồm chọn giống, bón phân, và quản lý sâu bệnh. Đồng thời, nghiên cứu cũng đánh giá các giống dong riềng dựa trên năng suất, chất lượng củ, và khả năng chống chịu.

3.1. Kỹ thuật chọn giống và bón phân

Việc chọn giống phù hợp với điều kiện địa phương và bón phân cân đối giúp tăng năng suất và chất lượng củ. Các giống có năng suất cao và hàm lượng tinh bột lớn được ưu tiên.

3.2. Quản lý sâu bệnh

Các biện pháp phòng trừ sâu bệnh hiệu quả được áp dụng để giảm thiểu thiệt hại và đảm bảo năng suất ổn định. Các giống có khả năng chống chịu sâu bệnh tốt được đánh giá cao.

IV. Môi trường sinh thái và phát triển bền vững

Nghiên cứu nhấn mạnh tầm quan trọng của môi trường sinh thái trong việc phát triển bền vững cây dong riềng. Các giải pháp bảo vệ môi trường và sử dụng tài nguyên hiệu quả được đề xuất để đảm bảo sự phát triển lâu dài của cây trồng.

4.1. Bảo vệ môi trường

Các biện pháp bảo vệ môi trường như hạn chế sử dụng hóa chất và tăng cường sử dụng phân hữu cơ được khuyến khích để giảm thiểu tác động tiêu cực đến hệ sinh thái.

4.2. Sử dụng tài nguyên hiệu quả

Việc quản lý nước và đất đai hiệu quả giúp tối ưu hóa năng suất và giảm thiểu lãng phí tài nguyên, đảm bảo sự phát triển bền vững của cây dong riềng.

01/03/2025
Luận văn thạc sĩ nghiên cứu khả năng sinh trưởng phát triển một số dòng giống dong riềng tại huyện tam đường tỉnh lai châu

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Nguồn gốc, đặc điểm thực vật học và yêu cầu sinh thái của cây dong riềng 1. Nguồn gốc, phân loại và phân bố - Nguồn gốc: Cây Dong riềng có nguồn gốc ở Peru, Nam Mỹ. Được chế biến lấy bột để làm lương thực, thực phẩn là chính (Mai Thạch Hoành và cs, 2011) [13].

Hiện nay, người ta đã xác định được 7 loài dong riềng nguồn gốc phát sinh ở Nam Mỹ và Trung Quốc (Darlington và Janaki, 1945) [36] đó là: + Canna discolor ở Tây Ấn nhiệt đới, + C. Flauca ở Tây Ấn và Mêhico, + C. flaccida ở Nam Mỹ, + C. edulis ở châu Mỹ nhiệt đới, + C.

Indica ở châu Mỹ nhiệt đới, + C.humilis ở Trung Quốc. Ngày nay dong riềng được trồng rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới có khí hậu nhiệt đới và á nhiệt đới. Trong đó Nam Mỹ là trung tâm đa dạng di truyền nguồn gen dong riềng, ngoài ra dong riềng được trồng nhiều ở các nước châu Á, châu Phi, Châu Úc. - Phân loại cây dong riềng: Cây Dong riềng (Canna edulis Ker ) là cây thân thảo, họ dong riềng (Cannaceae).

Dựa vào tính chất củ, thân lá và hoa dong riềng, được chia ra 3 loại: Cây chuối hoa (Canna indica L.), cây dong đao (Canna sp), cây dong riềng (Canna Edulis Ker). Dong riềng có tên nhiều địa phương khác nhau như khoai chuối, khoai lào, dong tây, củ đao, khoai riềng, củ đót, chuối nước. 6 + Tên khoa học: Canna Edulis Ker; + Dong riềng thuộc họ chuối hoa Cannacea; + Bộ: Scitaminales Số lượng nhiễm sắc thể là 9, có 2 dạng nhị bội 2n = 2X = 18 và tam bội 3n = 3X = 27. - Phân bố và các giống dong riềng: Trên thế giới dong riềng được trồng ở quy mô thương mại tại các nước vùng nam Mỹ, châu Phi, và một số nước nam Thái Bình Dương.

Tại châu Á, dong riềng được trồng tại Thái Lan, Indonesia, Nam Trung Quốc, Úc và Đài Loan (Hermann, M. Đặc điểm thực vật học cây dong riềng - Thân: Thân của cây dong riềng gồm 2 loại là thân khí sinh và thân củ. Thân khí sinh trung bình cao từ 1,2m đến 1,5m có những giống có thể cao trên 2,5m. Thân cây thường có mầu xanh hoặc xen tím.

Thân gồm những lóng kéo dài, giữa các lóng là các đốt; Thân khí sinh được tính từ đốt tiếp phần củ. Giải phẫu thân khí sinh cho thấy bên ngoài thân được cấu tạo bởi lớp biểu bì gồm những tế bào dẹt, dưới biểu bì có những bó cương mô xếp thành những bó tròn có tác dụng chống đỡ cho cây, tiếp đến là những bó libe và mạch gỗ và trong cùng là nhu mô. - Củ: Củ cây dong riềng hình thành từ thân rễ phình to, những củ to có thể đạt chiều dài 60 cm. Thân rễ phân thành nhiều nhánh và chứa nhiều tinh bột, thân rễ nằm trong đất; thân rễ gồm nhiều đốt, mỗi đốt có một lá vảy, lúc mới ra lá vảy có hình chóp nhọn dần dần to ra sẽ bị rách và tiêu dần.

Trên mỗi đốt của thân củ có nhiều mầm có thể phát triển thành nhánh, nhánh có thể phân chia thành các nhánh cấp 1 hay đến cấp 3. Vỏ của thân có thể có màu trắng, vàng kem đến màu tía hồng. Kích thước củ biến động khá lớn phụ thuộc vào giống và điều kiện chăm bón. Giải phẫu thân rễ cho thấy phía ngoài cùng của củ là biểu bì gồm những tế bào dẹt, tiếp là nhu mô bên trong có 7 những bó cương mô và những bó mạch dẫn libe và gỗ, tiếp là lớp tế bào nhu mô chứa ít một số hạt tinh bột, vào trong nữa là lớp trụ bì rất rõ và trong cùng là nhu mô chứa nhiều hạt tinh bột.

So với thân khí sinh thân rễ có ít bó cương mô hơn. Năng suất cây dong riềng rất cao, nếu trồng ở nơi đất tốt, một khóm dong riềng có thể thu được 15 – 20 kg củ, trồng thâm canh trên diện tích lớn dong riềng cho năng suất 50 - 60 tấn/ha. - Lá: Lá dong riềng gồm phiến lá và cuống lá với bẹ lá ở phía gốc, lá của cây dong riềng thuôn dài, mặt trên của lá có màu xanh hoặc xanh lục xen tím, mặt dưới màu xanh hoặc màu tím. Lá dài khoảng 35 - 60 cm và có chiều rộng 22 - 25cm; Mép lá nguyên, xung quanh mép lá có viền một đường mỏng mầu tím đỏ hoặc màu trắng trong; Phiến lá có gân giữa to, gân phụ song song, có màu xanh hoặc tím đỏ; Cuống lá dạng bẹ ôm lấy thân có chiều dài khoảng 8 - 15 cm.

- Rễ: Bộ rễ cây dong riềng thuộc loại rễ chùm, rất phát triển; rễ mọc từ các đốt của thân củ, từ lớp tế bào trụ bì ở đốt thân củ phát triển ra thành rễ. Rễ của cây dong riềng phát triển liên tục phân thành rễ cấp 1, cấp 2 và cấp 3 (tùy thuộc vào giống), do củ phát triển theo chiều ngang nên rễ chỉ ăn sâu vào đất khoảng 20 - 30cm. - Hoa: Hoa dong riềng xếp thành cụm, cụm hoa dạng chùm, hoa mọc ở ngọn cây. Cây thường mang ít hoa lưỡng tính, không đều, cụm hoa được bao bởi một mo chung như hoa chuối; chùm hoa thiết diện hình tam giác, có từ 6 - 8 đốt, mỗi đốt có 2 hoa, đốt dưới cùng và trên cùng có 1 hoa.

Cấu tạo hoa gồm có 3 lá đài hình cánh rời nhau, 3 cánh hoa dài thon cuộn theo chiều dài. Hoa có 5 nhị đực, ngoài có 3 nhị thì 2 nhị biến thành bản hình cánh hoa, 1 nhị biến thành cánh môi cuộn lại phía trước. Vòng trong có 2 nhị, trong đó 1 nhị thì chỉ còn vết, nhị kia thì một nửa cánh mang 1 bao phấn, 8 nửa còn lại cũng biến thành hình cánh. Tất cả các nhị đều có màu sắc sặc sỡ, màu cánh biến động từ màu đỏ tươi đến màu vàng điểm đỏ.

Bầu hoa có 3 ô, mỗi ô có từ 6 - 8 noãn, phía trên bầu có tuyến tiết mùi. Thời gian từ nụ đến nở hoa từ 3 - 5 ngày, hoa nở theo thứ tự từ thấp đến cao, từ trong ra ngoài; Hoa nở vào buổi sáng, mỗi hoa nở từ 1 - 2 ngày. - Quả: Quả của cây dong riềng thuộc dạng qủa nang, hình trứng ngược, kích thước khoảng 3cm, trên quả nang có nhiều dai mềm. - Hạt: Hạt của cây dong riềng có màu đen, hình tròn đường kính 3,5 - 5 mm.

Khối lượng 1000 hạt khoảng 12 - 13g. Yêu cầu sinh thái của cây dong riềng - Yêu cầu về nhiệt độ: Cây dong riềng thích hợp từ 25-30oC, điều kiện ấm áp dong riềng sinh trưởng phát triển khỏe hơn, tốc độ đồng hóa cao và đẩy nhanh quá trình hình thành thân củ, thời tiết hanh và hơi lạnh đẩy nhanh quá trình vận chuyển tinh bột từ thân lá xuống củ và dong riềng chịu lạnh khá nên có khả năng trồng ở độ cao trên 2.500m so với mặt nước biển. - Yêu cầu ánh sáng: Dong riềng không cần nhiều ánh sáng, nên có thể trồng dưới tán cây ăn quả, cây sinh trưởng bình thường nơi cớm nắng. Ngày dài có ảnh hưởng lớn đến việc hình thành củ.

Điều kiện ngày ngắn, cường độ ánh sáng mạnh thúc đẩy sự hình thành phát triển củ, trong khi ngày dài lại thúc đẩy sự phát triển thân lá. - Yêu cầu đất trồng: Dong riềng là cây có yêu cầu về đất không khắt khe so với cây trồng khác, nên có thể trồng trên nhiều loại đất khác nhau. Tuy nhiên trồng trên đất cát pha, nhiều mùn, đủ ẩm là tốt nhất để cho năng suất cao. Dong riềng là loại cây chịu úng kém do vậy đất trồng dong riềng phải là nơi dễ thoát nước.

Đất đọng nước làm cho bộ rễ hô hấp kém có thể dẫn đến thối củ. - Yêu cầu nước: Dong riềng có đặc điểm chịu hạn tốt, có thể bố trí trên đất có độ dốc trên 15o, ít ẩm, nhưng dong riềng không chịu được ngập úng, 9 nếu bị ngập úng cây thường bị vàng lá, thối củ. Vùng trồng dong riềng ở vùng có lượng mưa thích hợp 900 - 1200 mm. - Chất dinh dưỡng: Cũng như các cây có củ khác, dong riềng yêu cầu có đầy đủ các nguyên tố dinh dưỡng NPK, trong đó K có ý nghĩa trong việc tăng khối lượng củ.

Cây dong riềng yêu cầu đất tốt, giàu mùn để cho năng suất cao, những nơi đất quá cằn cỗi cần bón thêm phân hữu cơ, phân bón rất có ý nghĩa trong việc tăng năng suất củ của cây dong riềng. Tình hình sản xuất và tiêu thụ dong riềng trên thế giới và ở Việt Nam 1. Tình hình sản xuất và tiêu thụ dong riềng trên thế giới Trên thế giới dong riềng được trồng ở quy mô thương mại tại các nước vùng nam Mỹ, châu Phi, châu Á và một số nước nam Thái Bình Dương. Diện tích dong riềng trên thế giới khoảng 3.000 ha, năng suất trung bình đạt 30 tấn/ha.

Châu Phi là châu lục có diện tích trồng dong riềng lớn nhất thế giới. Tại châu Á, dong riềng được trồng tại Thái Lan, Indonesia, nam Trung Quốc, Úc, và Đài Loan (Hermann, M. Trung Quốc là nước có diện tích dong riềng lớn nhất châu Á. Tình hình sản xuất và tiêu thụ dong riềng tại Việt Nam Theo điều tra, nghiên cứu cây dong riềng dễ trồng, ít tốn công chăm sóc nên trồng dong riềng có hiệu quả kinh tế cao, lãi suất có thể đạt 50 - 60 triệu đồng/ha; trước năm 1980 do chưa thấy được giá trị của cây dong riềng, nên người dân chủ yếu trồng để chăn nuôi, trên đất cằn cỗi, đất tận dụng mà các cây khác không phát triển được hoặc trên đất đồi núi, hiệu quả thấp.

Từ năm 1980 cây dong riềng đã được chú ý phát triển như là cây hàng hóa, có giá trị kinh tế; đặc biệt trong những năm gần đây đã được nhiều địa phương chú trọng chuyển đổi phát triển dong riềng thành cây trồng hàng hóa và đã đem lại hiệu quả kinh tế cao, một số nhà nghiên cứu cũng đưa ra con số ước đoán về diện tích dong riềng nước ta những năm gần đây vào khoảng 16 nghìn ha với 10 các giống dong riềng lấy củ và dong riềng cảnh được trồng phổ biến khắp cả nước, từ vùng đồng bằng, trung du đến các vùng núi cao như tỉnh Lào Cai, Hà Giang, Tuyên Quang, Bắc Kạn, Thái Nguyên., trong đó tỉnh Lai Châu khoảng 350 ha, được trồng chủ yếu tại các huyện Tam Đường, Sìn Hồ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu khả năng sinh trưởng của giống dong riềng tại Tam Đường, Lai Châu là một tài liệu quan trọng tập trung vào việc đánh giá tiềm năng phát triển của giống dong riềng trong điều kiện khí hậu và thổ nhưỡng đặc thù của khu vực Tam Đường, Lai Châu. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp thông tin chi tiết về các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây dong riềng mà còn đề xuất các biện pháp canh tác hiệu quả, giúp nông dân tối ưu hóa năng suất và chất lượng sản phẩm. Đây là nguồn tài liệu hữu ích cho những ai quan tâm đến nông nghiệp bền vững và phát triển cây trồng địa phương.

Để mở rộng kiến thức về các biện pháp kỹ thuật trong nông nghiệp, bạn có thể tham khảo Luận văn thạc sĩ nông nghiệp điều tra nghiên cứu biện pháp kỹ thuật tổng hợp trong canh tác hồ tiêu piper nigrum l theo hướng bền vững tại đăk lăk, hoặc tìm hiểu thêm về các phương pháp bón phân hiệu quả qua Luận án tiến sĩ nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật bón phân cho cà phê vối coffea canephora pierre giai đoạn kinh doanh trên đất bazan tại đắk lắk. Ngoài ra, Luận án ts quyết định lựa chọn sản xuất chè theo tiêu chuẩn thực hành nông nghiệp tốt của hộ nông dân tại vùng trung du miền núi phía bắc cũng là một tài liệu đáng đọc để hiểu rõ hơn về quy trình sản xuất nông nghiệp chất lượng cao.