Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Cây đậu tương (Glycine max (L.) Merrill) là cây trồng có vị trí quan trọng trong sản xuất nông nghiệp toàn cầu, đứng thứ tư trong nhóm cây lương thực thực phẩm sau lúa mì, lúa nước và ngô. Về mặt dinh dưỡng và công nghiệp, hạt đậu tương chứa hàm lượng protein cao (từ 36% đến 46%) và lipit (từ 16% đến 24%), giàu các axit amin không thay thế thiết yếu như Xystin, Lizin, Valin, Izovalin, Leuxin, Methionin, Triptophan cùng các vitamin nhóm B, PP, A, C, E, D, K. Bên cạnh việc cung cấp thực phẩm cho con người, nguyên liệu sản xuất thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu công nghiệp (chế biến sơn, cao su nhân tạo, mực in, xà phòng, chất dẻo, tơ nhân tạo), cây đậu tương còn giữ vai trò cải tạo đất trong các hệ thống luân canh.

Tại Việt Nam, sản xuất đậu tương đối mặt với tình trạng suy giảm liên tục cả về diện tích gieo trồng, năng suất và tổng sản lượng. Số liệu thống kê giai đoạn 2010 - 2015 cho thấy diện tích đậu tương cả nước giảm từ 197,80 nghìn ha xuống còn 100,80 nghìn ha; sản lượng giảm từ 298,60 nghìn tấn xuống còn 146,40 nghìn tấn. Tại tỉnh Thái Nguyên, diện tích gieo trồng cũng giảm từ 1,6 nghìn ha (năm 2010) xuống còn 1,0 nghìn ha (năm 2015), năng suất giảm từ 2,3 tạ/ha xuống 1,5 tạ/ha. Nguyên nhân kỹ thuật chủ yếu dẫn đến thực trạng này là do địa phương chưa tuyển chọn được bộ giống đậu tương có năng suất cao, ổn định và thích ứng tốt với điều kiện sinh thái trung du miền núi phía Bắc.

Trước yêu cầu thực tiễn đó, khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lầu Bá Xìa được thực hiện nhằm mục đích đánh giá, tuyển chọn những dòng, giống đậu tương có khả năng sinh trưởng, phát triển tốt, tiềm năng năng suất cao và phẩm chất phù hợp để làm nguồn vật liệu cho công tác chọn tạo giống.

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài được xác định cụ thể gồm:

  1. Xác định được khả năng sinh trưởng, phát triển, khả năng chống chịu sâu bệnh hại và điều kiện ngoại cảnh, năng suất cá thể của các dòng, giống đậu tương tham gia thí nghiệm.
  2. Đánh giá một số đặc điểm hình thái của các dòng, giống đậu tương tham gia thí nghiệm.
  3. Đánh giá một số chỉ tiêu sinh lý của các dòng, giống đậu tương tham gia thí nghiệm.

Đối tượng nghiên cứu gồm 25 dòng, giống đậu tương Việt Nam: ĐT84 (làm giống đối chứng), K 9332, No - 511851, No - 518937, No - 574136, G30, G75, G93, AGS 332, ĐT9, Đậu tương 4942, H-666-1, L-88-466, CH-pa, Palga, Đậu tương lơ, Đậu tương (mã 6646), Đậu tương mèo, Đậu tương xanh, Đậu tương vàng, T49, Mắc thủa nương, Má thúa na, Tậu páu và K-4496.

Phạm vi nghiên cứu:

  • Không gian: Thí nghiệm thực hiện tại Quán Triều, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên, trên nền đất cát pha phát triển trên phiến sa thạch, địa hình cao ráo, thoát nước tốt.
  • Thời gian: Vụ Xuân năm 2017, thời gian theo dõi thực địa từ tháng 02/2017 đến tháng 05/2017.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận dựa trên quy luật tương tác giữa kiểu gen và điều kiện môi trường ($G \times E$): khả năng sinh trưởng, phát triển và hình thành năng suất của cây đậu tương là sự biểu hiện của kiểu gen trong điều kiện ngoại cảnh và kỹ thuật canh tác cụ thể. Cây đậu tương thuộc bộ Fabales, họ Fabaceae, phân họ Leguminosae, chi Glycine L., loài Glycine max (L.) Merrill. Cây có cơ chế quang hợp chu trình C3, điểm bão hòa ánh sáng ngoài đồng ruộng đạt khoảng 150.000 lux, ưa đất thịt nhẹ pha cát có độ pH từ 6,5 đến 6,8. Phân loại thời gian sinh trưởng (TGST) dựa trên hệ thống phân chia của Nguyễn Danh Đông (1983) gồm 6 nhóm, từ chín rất sớm (< 80 ngày) đến chín rất muộn (> 120 ngày).

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm đồng ruộng:

  • Bố trí thí nghiệm: Bố trí theo phương pháp tuần tự không nhắc lại từ ô 1 đến ô 25, sử dụng giống ĐT84 làm đối chứng (Đ/C). Kích thước mỗi ô thí nghiệm là 0,7 m $\times$ 1,0 m = 0,7 m²; mặt luống rộng 1,0 m, rãnh rộng 0,3 m. Tổng diện tích các ô thí nghiệm là 17,5 m² (chưa bao gồm diện tích rãnh, lối đi và dải bảo vệ xung quanh).
  • Mật độ và khoảng cách: Khoảng cách giữa các hàng là 35 cm, khoảng cách giữa các cây trên hàng là 5 - 7 cm.
  • Quy trình bón phân: Áp dụng mức phân bón tính trên 1 ha gồm 5 tấn phân chuồng + 30 kg N + 60 kg P2O5 + 30 kg K2O + 500 kg vôi bột. Kỹ thuật bón: bón lót toàn bộ phân chuồng, 500 kg vôi bột, 100% P2O5, 50% N và 50% K2O; bón thúc 50% N và 50% K2O còn lại kết hợp xới xáo, làm cỏ, vun gốc vào giai đoạn cây đạt 3 - 5 lá thật.
  • Chỉ tiêu và phương pháp theo dõi: Tuân thủ theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khảo nghiệm giá trị canh tác và giá trị sử dụng của giống đậu tương (QCVN 01-58: 2011/BNNPTNT).
    • Các mốc sinh trưởng: Gieo đến mọc (50% cây có 2 lá mầm xòe ngang), gieo đến phân cành (50% cây có cành đầu tiên dài > 2 cm), gieo đến ra hoa (50% cây có hoa đầu tiên), gieo đến chắc xanh (quả hoàn chỉnh, hạt chắc nhưng chưa chín) và gieo đến chín (96 - 95% số quả chuyển sang màu vàng hoặc xám nâu).
    • Đặc điểm thực vật học và hình thái: Kiểu sinh trưởng (hữu hạn, bán vô hạn, vô hạn); dạng cây (đứng, nửa đứng, leo); hình dạng lá (trứng, elíp); màu sắc hoa, hạt, rốn hạt; chiều cao cây qua 4 giai đoạn sinh trưởng (đo ngẫu nhiên 10 cây/dòng).
    • Khả năng chống chịu sâu bệnh: Sâu cuốn lá (% lá bị hại), sâu đục quả (% quả bị hại trên 10 cây/ô), bệnh lở cổ rễ (Rhizoctonia solani, tính theo % cây bị hại sau mọc 7 ngày), bệnh gỉ sắt (Phakopsora pachyrhizi) và bệnh sương mai (Peronospora manshurica) đánh giá theo thang điểm từ 1 đến 9 và tỷ lệ % diện tích lá bị hại ở giai đoạn ra hoa rộ đến chắc hạt; khả năng chống đổ đánh giá theo thang điểm từ 1 đến 5.
    • Các yếu tố cấu thành năng suất: Đếm số cành cấp 1 trên thân chính (10 cây/dòng), số quả chắc/cây, phân loại quả 1 hạt, 2 hạt, 3 hạt và khối lượng 1000 hạt (cân 3 mẫu lặp lại, mỗi mẫu 1000 hạt ở độ ẩm chuẩn 12%).
  • Nguồn dữ liệu và phân tích: Dữ liệu thực nghiệm thu thập trực tiếp tại thực địa vụ Xuân 2017; dữ liệu khí tượng và thống kê kinh tế lấy từ FAO (2016), Tổng cục Thống kê (2016), Trung tâm Khí tượng Thủy văn tỉnh Thái Nguyên (2016). Số liệu được tổng hợp và tính toán trên phần mềm Microsoft Excel.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Tác giả luận giải tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ vai trò của đậu tương đối với an ninh thực phẩm, dinh dưỡng chăn nuôi và công nghiệp chế biến, đồng thời nêu rõ thực trạng diện tích, sản lượng đậu tương trong nước sụt giảm do thiếu giống phù hợp. Mục đích nghiên cứu là tìm ra các dòng, giống đậu tương có khả năng sinh trưởng tốt và năng suất cao để cung cấp vật liệu lai tạo. Các nhiệm vụ khoa học được thiết lập gồm xác định các giai đoạn sinh trưởng, hình thái thực vật học, khả năng chống chịu sâu bệnh và các yếu tố cấu thành năng suất cá thể của 25 dòng, giống đậu tương khảo nghiệm vụ Xuân 2017 tại Thái Nguyên.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

Tác giả tổng hợp nguồn gốc phát sinh của cây đậu tương từ Đông Bắc Á (ghi chép trong Bản Thảo Kinh năm 230 trước Công nguyên), phân loại sinh học, đặc điểm nông học và nhu cầu sinh thái. Về sản xuất quốc tế giai đoạn 2010 - 2014, diện tích đậu tương toàn cầu tăng từ 102,81 triệu ha lên 117,71 triệu ha, sản lượng tăng từ 265,00 triệu tấn lên 308,43 triệu tấn; trong đó bốn nước sản xuất lớn nhất chiếm 90 - 95% sản lượng gồm Hoa Kỳ (năm 2014 diện tích 33,61 triệu ha, sản lượng 108,10 triệu tấn), Brazil (30,27 triệu ha, sản lượng 86,70 triệu tấn), Argentina (19,25 triệu ha, sản lượng 53,39 triệu tấn) và Ấn Độ (10,90 triệu ha, sản lượng 10,52 triệu tấn). Về nghiên cứu giống thế giới, mạng lưới bảo tồn lưu giữ trên 45.000 nguồn gen tại 14 quốc gia; Hoa Kỳ đi đầu về chọn tạo chuyển gen và thích ứng thâm canh; Trung Quốc tạo ra các giống đột biến phóng xạ tia gamma như Teifeng 18 (chịu phèn), Heinom No6, Heinom No16; Đài Loan phát triển các giống Tai nung 3, Tai nung 4.

Tại Việt Nam, sản xuất phân bố tại 6 vùng sinh thái chính (Đông Nam Bộ chiếm 26,2% diện tích, Miền núi Bắc Bộ 24,7%, Đồng bằng sông Hồng 17,5%, Đồng bằng sông Cửu Long 12,4%). Từ năm 2010 đến 2015, diện tích trồng cả nước giảm 97 nghìn ha, năng suất giảm 0,59 tạ/ha, sản lượng giảm 152,2 nghìn tấn. Đối với Thái Nguyên, diện tích tự nhiên là 650.280 ha (đồi núi chiếm 80%), khí hậu hai mùa rõ rệt, nhiệt độ trung bình năm 25°C, lượng mưa trung bình 2.500 mm. Sản xuất đậu tương của tỉnh suy giảm liên tục: diện tích từ 1,6 nghìn ha (2010) xuống 1,0 nghìn ha (2015), năng suất từ 2,3 tạ/ha xuống 1,5 tạ/ha, sản lượng từ 15,1 nghìn tấn xuống 14,5 nghìn tấn.

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Phần này mô tả chi tiết danh mục 25 dòng, giống tham gia khảo nghiệm, địa điểm thực hiện tại phường Quán Triều, thành phố Thái Nguyên trong vụ Xuân 2017. Bố trí thí nghiệm gồm 25 ô tuần tự, diện tích mỗi ô 0,7 m² (0,7 m $\times$ 1,0 m). Tác giả quy định cụ thể quy trình làm đất, rạch hàng, mật độ (hàng cách hàng 35 cm, cây cách cây 5 - 7 cm), định mức phân bón và kỹ thuật bón phân (bón lót, bón thúc kết hợp xới xáo vun gốc ở giai đoạn 3 - 5 lá), công tác phòng trừ sâu bệnh và tiêu chí thu hoạch khi 95% số quả đổi màu vỏ. Khung phương pháp và công thức tính toán chỉ tiêu tuân thủ theo QCVN 01-58: 2011/BNNPTNT và xử lý số liệu bằng phần mềm Excel.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu

Nội dung chương trình bày dữ liệu đo đạc thực tế qua các bảng chỉ tiêu:

  • Thời gian sinh trưởng: Giai đoạn gieo đến mọc kéo dài từ 4 đến 8 ngày; gieo đến phân cành dao động 36 - 40 ngày (ngắn nhất 36 ngày ở các dòng H-666-1, Đậu tương vàng, K 9332, No-574136, G93, Đậu tương 6646, Mắc thủa nương; dài nhất 40 ngày ở ĐT84, CH-pa, Đậu tương mèo, Đậu tương xanh, AGS 332, Má thúa na, ĐT9, G75); gieo đến ra hoa từ 40 đến 48 ngày (sớm nhất 40 ngày gồm No-574136, G93, H-666-1, Đậu tương vàng; muộn nhất 48 ngày gồm ĐT84, CH-pa, Má thúa na, Đậu tương xanh, Đậu tương mèo, ĐT9); gieo đến chắc xanh kéo dài 68 - 72 ngày; thời gian sinh trưởng tổng số (gieo đến chín) từ 96 đến 120 ngày. Giống đối chứng ĐT84 chín sớm nhất (96 ngày).
  • Đặc điểm thực vật học: Toàn bộ 25 dòng, giống đều có hoa màu tím. Về tập tính sinh trưởng, có 8 dòng, giống sinh trưởng hữu hạn và 15 dòng, giống sinh trưởng vô hạn (không có dạng bán vô hạn). Về dạng cây, có 13 dòng dạng đứng, 7 dòng dạng nửa đứng và 5 dòng dạng leo (K 9332, No-511851, Má thúa na, Tậu páu, K-4496). Hình dạng lá gồm dạng lá trứng và elíp. Về màu hạt, phần lớn hạt màu vàng; có 2 dòng hạt màu đen (No-518937, Má thúa na) và 2 dòng hạt màu xanh (No-574136, Đậu tương lơ). Rốn hạt chủ yếu màu nâu nhạt hoặc nâu đậm; riêng No-518937, G30 và Má thúa na có rốn hạt màu đen.
  • Chiều cao cây: Chiều cao cây ở giai đoạn phân cành từ 18,0 cm (Palga) đến 45,0 cm (AGS 332, K-4496); chiều cao khi chín thu hoạch dao động từ 28,2 cm đến 63,7 cm (cao nhất là dòng leo Má thúa na với 63,7 cm; giống đối chứng ĐT84 đạt 46,6 - 49,5 cm).
  • Sâu bệnh hại: Tỷ lệ lá bị sâu cuốn lá hại dao động từ 2,6% (Mắc thủa nương) đến 9,2% (No-574136), giống ĐT84 bị hại 6,1%. Tỷ lệ quả bị sâu đục dao động từ 0,3% (H-666-1) đến 3,2% (Mắc thủa nương), ĐT84 là 2,5%. Bệnh lở cổ rễ không phát sinh trên đồng ruộng (tỷ lệ 0% ở tất cả các mẫu). Bệnh gỉ sắt gây hại từ 2,9% đến 13,4% diện tích lá (ĐT84 bị hại cao nhất với 13,4% diện tích lá; Đậu tương xanh bị nhẹ nhất với 2,9%). Bệnh sương mai gây hại từ 0,0% đến 6,8% diện tích lá (ĐT84 không bị bệnh với 0,0%, Tậu páu bị nặng nhất với 6,8%).
  • Các yếu tố cấu thành năng suất: Số quả chắc/cây dao động từ 25,7 quả (Đậu tương 6646) đến 33,2 quả (G75), đối chứng ĐT84 đạt 26,5 quả; số cành cấp 1 dao động từ 0,7 cành/cây (T49) đến 4,0 cành/cây (ĐT84); khối lượng 1000 hạt biến động rất lớn, từ 45,0 g (Đậu tương xanh) đến 204,0 g (AGS 332), đối chứng ĐT84 đạt 192,7 g.

Phần 5: Kết luận và đề nghị

Tác giả tổng kết các phát hiện chính: phân loại tập đoàn khảo nghiệm thành hai nhóm thời gian sinh trưởng (nhóm chín trung bình 95 - 100 ngày gồm 7 dòng/giống và nhóm chín muộn 110 - 120 ngày gồm 18 dòng/giống); khẳng định khả năng chống chịu sâu bệnh hại của tập đoàn ở mức khá tốt trong điều kiện vụ Xuân. Kiến nghị tiếp tục thực hiện thí nghiệm ở các vụ gieo trồng khác nhau trong năm để kiểm chứng độ ổn định và các chỉ tiêu năng suất.

Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu đã cung cấp số liệu thực nghiệm chi tiết về 25 dòng, giống đậu tương khảo nghiệm trong vụ Xuân 2017 tại Thái Nguyên. Dưới đây là bảng tổng hợp các chỉ tiêu nông học và cấu thành năng suất của một số dòng, giống tiêu biểu so với giống đối chứng ĐT84:

Dòng, giống Mã dòng, giống TGST (ngày) Loại hình sinh trưởng Dạng cây Chiều cao khi chín (cm) Số cành cấp 1 (cành) Số quả chắc/cây (quả) P1000 hạt (g) Tỷ lệ hại của sâu cuốn lá (%) Bệnh gỉ sắt (% diện tích lá)
ĐT84 (Đ/C) 6669 96 Hữu hạn Đứng 49,5 4,0 26,5 192,7 6,1 13,4
K 9332 4888 100 Vô hạn Leo - 1,2 32,4 83,0 5,4 3,0*
No - 574136 4902 100 Vô hạn Nửa đứng - 1,1 28,3 77,0 9,2 3,0*
G75 4905 114 Vô hạn Đứng - 3,8 33,2 81,0 5,4 3,0*
AGS 332 4916 110 Vô hạn Đứng - 2,9 32,9 204,0 6,3 3,0*
H-666-1 4945 100 Hữu hạn Đứng - 3,1 30,9 75,0 6,3 3,0*
L-88-466 4947 100 Hữu hạn Đứng - 2,5 31,2 150,0 4,3 3,0*
Đậu tương mèo 6651 120 Hữu hạn Đứng 37,6 2,1 28,2 63,0 3,3 3,0*
Đậu tương vàng 6814 110 Hữu hạn Nửa đứng 44,0 2,1 27,5 93,0 4,3 5,0*
Mắc thủa nương 12788 100 Vô hạn Nửa đứng 50,1 2,3 31,8 145,0 2,6 3,0*
Má thúa na 13554 120 Vô hạn Leo 63,7 2,2 29,8 103,0 7,3 3,0*

(Ghi chú: Cột bệnh gỉ sắt có dấu * biểu thị điểm đánh giá theo thang điểm cấp hại trong bảng gốc).

Về mặt đóng góp khoa học và thực tiễn, đề tài đã:

  • Thiết lập hệ thống dẫn liệu khoa học về đặc điểm sinh trưởng, tập tính thực vật học (màu hoa, dạng cây, loại hình sinh trưởng, màu hạt và màu rốn hạt) của tập đoàn 25 dòng, giống đậu tương Việt Nam tại vùng sinh thái Thái Nguyên.
  • Phát hiện các dòng có tiềm năng năng suất cá thể vượt trội hơn giống đối chứng ĐT84: dòng G75 có số quả chắc/cây cao nhất (33,2 quả), dòng AGS 332 vừa có số quả chắc cao (32,9 quả) vừa có khối lượng 1000 hạt lớn nhất (204,0 g so với 192,7 g của ĐT84).
  • Cung cấp cơ sở thực nghiệm giúp các nhà chọn giống lựa chọn vật liệu khởi đầu phù hợp cho các chương trình lai tạo, chọn lọc giống đậu tương vụ Xuân cho vùng trung du miền núi phía Bắc.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu:

  • Thí nghiệm mới chỉ được thực hiện trong phạm vi một vụ gieo trồng duy nhất (vụ Xuân 2017) tại một địa điểm (phường Quán Triều, thành phố Thái Nguyên).
  • Phương pháp bố trí tuần tự không lặp lại với diện tích ô nhỏ (0,7 m²/ô), do đó chưa đánh giá được mức độ biến động do đất đai và chưa có phân tích thống kê phương sai đối với năng suất thực thu.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Tác giả đề nghị tiếp tục duy trì và mở rộng khảo nghiệm các dòng, giống đậu tương này ở nhiều vụ gieo trồng khác nhau trong năm (như vụ Hè, vụ Đông).
  • Tiếp tục theo dõi, đánh giá bổ sung toàn diện về khả năng sinh trưởng, phát triển, độ ổn định năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất ở các điều kiện sinh thái khác nhau.

Giá trị tham khảo

Khóa luận có giá trị tham khảo cụ thể cho các đối tượng:

  • Sinh viên, học viên chuyên ngành Khoa học cây trồng, Nông học, Chọn giống cây trồng: Tham khảo quy trình khảo nghiệm giá trị canh tác và sử dụng giống đậu tương theo tiêu chuẩn QCVN 01-58: 2011/BNNPTNT; phương pháp theo dõi, đo đạc các chỉ tiêu sinh trắc hình thái học, cấu thành năng suất và phương pháp điều tra sâu bệnh hại ngoài đồng ruộng.
  • Cán bộ kỹ thuật và nghiên cứu chọn giống cây họ đậu: Khai thác bảng mô tả hình thái thực vật học (màu sắc rốn hạt, màu vỏ hạt, tập tính sinh trưởng vô hạn/hữu hạn, dạng thân leo/đứng) và số liệu năng suất cá thể của 25 dòng, giống để định hướng chọn cặp lai hoặc đưa vào mạng lưới khảo nghiệm diện rộng.

Câu hỏi thường gặp

1. Các dòng, giống đậu tương trong thí nghiệm được phân thành những nhóm thời gian sinh trưởng nào?
Tác giả phân loại 25 dòng, giống thành hai nhóm chính: nhóm chín trung bình (TGST từ 95 đến 100 ngày) gồm 7 dòng, giống (ĐT84 đối chứng đạt 96 ngày; K 9332, Đậu tương 4942, No-574136, G93, H-666-1, L-88-466 đều đạt 100 ngày); nhóm chín muộn (TGST từ 110 đến 120 ngày) gồm 18 dòng, giống (như AGS 332, Đậu tương vàng, Tậu páu đạt 110 ngày; No-511851, G30, G75 đạt 114 ngày; ĐT9, Palga, K-4496 đạt 116 ngày; CH-pa, Đậu tương lơ, Đậu tương mèo, Đậu tương xanh, T49, Má thúa na đạt 120 ngày).

2. Dòng, giống nào có số quả chắc trên cây và khối lượng 1000 hạt (P1000) cao nhất?
Dòng đạt số quả chắc/cây cao nhất là G75 với 33,2 quả/cây, tiếp theo là AGS 332 với 32,9 quả/cây và K 9332 với 32,4 quả/cây (so với giống đối chứng ĐT84 đạt 26,5 quả/cây). Dòng có khối lượng 1000 hạt cao nhất là AGS 332 đạt 204,0 g, cao hơn giống đối chứng ĐT84 (192,7 g); dòng có khối lượng 1000 hạt thấp nhất là Đậu tương xanh (45,0 g).

3. Tình hình phát sinh và mức độ gây hại của các loại sâu bệnh chính trong vụ Xuân 2017 như thế nào?
Bệnh lở cổ rễ hoàn toàn không xuất hiện (tỷ lệ hại 0% trên tất cả 25 dòng). Sâu cuốn lá gây hại nhẹ với tỷ lệ lá bị hại từ 2,6% (Mắc thủa nương) đến 9,2% (No-574136), ĐT84 bị 6,1%. Sâu đục quả gây hại từ 0,3% (H-666-1) đến 3,2% (Mắc thủa nương). Bệnh gỉ sắt xuất hiện ở mức từ 2,9% đến 13,4% diện tích lá (ĐT84 bị nặng nhất với 13,4%). Bệnh sương mai gây hại từ 0,0% (ĐT84) đến 6,8% diện tích lá (Tậu páu).

4. Đặc điểm thực vật học về màu hoa, loại hình sinh trưởng và dạng cây có sự phân hóa ra sao?
Tất cả 25 dòng, giống tham gia thí nghiệm đều có hoa màu tím. Về loại hình sinh trưởng, có 8 dòng, giống sinh trưởng hữu hạn và 15 dòng sinh trưởng vô hạn, không có dòng nào thuộc kiểu sinh trưởng bán vô hạn. Về dạng cây, có 13 dòng dạng đứng, 7 dòng dạng nửa đứng và 5 dòng dạng leo (K 9332, No-511851, Má thúa na, Tậu páu, K-4496).

5. Định mức phân bón và mật độ gieo trồng được tác giả áp dụng trong thí nghiệm là bao nhiêu?
Mật độ gieo trồng gồm hàng cách hàng 35 cm, cây cách cây 5 - 7 cm. Mức bón tính cho 1 ha gồm: 5 tấn phân chuồng + 30 kg N + 60 kg P2O5 + 30 kg K2O + 500 kg vôi bột; trong đó bón lót toàn bộ phân chuồng, vôi, P2O5 cùng 50% N và 50% K2O, bón thúc 50% lượng N và K2O còn lại ở giai đoạn cây có 3 - 5 lá thật kết hợp làm cỏ và vun gốc.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lầu Bá Xìa đã hoàn thành việc khảo nghiệm, đánh giá đặc tính sinh trưởng, hình thái thực vật học, tình hình sâu bệnh hại và các yếu tố cấu thành năng suất của 25 dòng, giống đậu tương Việt Nam trong vụ Xuân 2017 tại thành phố Thái Nguyên. Kết quả thực nghiệm cho thấy các dòng, giống có thời gian sinh trưởng dao động từ 96 đến 120 ngày, khả năng chống chịu sâu bệnh tương đối tốt và có sự phân hóa rõ nét về các tính trạng nông học. Nghiên cứu đã xác định được một số dòng triển vọng như G75 về số lượng quả chắc và AGS 332 về khối lượng hạt, cung cấp nguồn dữ liệu thực nghiệm quan trọng phục vụ công tác tuyển chọn và lai tạo giống đậu tương thích nghi với điều kiện sinh thái địa phương.