MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Cây đậu tương (Glycine Max (L) Merrill) là một trong những cây trồng có lịch sử trồng trọt lâu đời được trồng ở nhiều nước trên thế giới từ châu Mỹ, chấu Á, châu Phi cho đến châu Âu, đặc biệt ở vùng nhiệt đới và á nhiệt đới. Sản phẩm của nó cung cấp thực phẩm cho con người, nguyên liệu cho chế biến, thức ăn gia súc gia cầm và là mặt hàng xuất khẩu có giá trị. Ngoài ra đậu tương còn là cây cải tạo đất rất tốt.
Đậu tương là một trong những cây có dầu quan trọng bậc nhất trên thế giới và là cây trồng đứng vị trí thứ tư trong các cây làm lương thực thực phẩm sau lúa mỳ, lúa nước và ngô. Hạt đậu tương là loại sản phẩm duy nhất mà giá trị của nó được đánh giá đồng thời cả protein và lipit. Trong đó protein chiếm khoảng 36 - 46%, lipit biến động từ 16 - 24% tuỳ theo giống và điều kiện khí hậu. Protein đậu tương có giá trị cao không những về hàm lượng lớn mà nó còn đầy đủ và cân đối các loại axit amin, đặc biệt là các loại axit amin không thay thế như: Xystin, Lizin, Valin, Izovalin, Leuxin, Methionin, Triptophan có vai trò quan trọng đối với sự tăng trưởng của cơ thể trẻ em và gia súc.
Ngoài ra trong hạt đậu tương còn chứa nhiều loại vitamin như vitamin PP, A, C, E, D, K, đặc biệt là vitamin B1 và B2 (Phạm Văn Thiều, 2006)[5]. Trong y học, đậu tương còn là vị thuốc chữa bệnh, đặc biệt là đậu tương đen có tác dụng tốt cho người bị đái tháo đường, thấp khớp, thần kinh suy nhược và suy dinh dưỡng (Ngô Thế Dân và các cs, 1999)[1]. Đậu tương là cây nguyên liệu của nhiều ngành công nghiệp như công nghiệp chế biến sơn, cao su nhân tạo, mực in, xà phòng chất dẻo, tơ nhân tạo, dầu bôi trơn trong ngành hàng không (Phạm Văn Thiều, 2006) [5]. c 2 Trước những nguồn lợi to lớn do cây đậu tương đem lại, cũng như để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về sản phẩm đậu tương ở nước ta, đồng thời góp phần đưa chăn nuôi thành ngành sản xuất chính, chúng ta cần quan tâm phát triển đậu tương theo 2 hướng vừa tăng năng suất, vừa tăng diện tích.
Trong đó, năng suất là yếu tố quan trọng, bởi tăng năng suất sẽ làm giảm giá thành sản phẩm trên một đơn vị diện tích. Do đó, cần nhanh chóng nghiên cứu chọn tạo ra những giống có năng suất cao, phẩm chất tốt có khả năng thích nghi với điều kiện sinh thái của mỗi vùng. Cây đậu tương là một cây thực phẩm vừa dễ trồng lại vừa có hiệu quả kinh tế cao. Sản phẩm của cây đậu tương được sử dụng hết sức đa dạng như sử dụng trực tiếp bằng hạt thô hoặc qua chế biến ép thành dầu, làm bánh kẹo, đậu phụ, sữa, nước giải khát, nước chấm.
đáp ứng nhu cầu tăng thêm chất đạm trong cơ cấu bữa ăn hàng ngày của nhân dân và tham gia xuất khẩu, không những thế cây đậu tương còn có tác dụng cải tạo đất tăng năng suất cây trồng khác. Ở Việt Nam đậu tương là cây trồng quan trọng vì đậu tương là cây màu ngắn ngày, là một cây thực phẩm vừa dễ trồng lại vừa có hiệu quả kinh tế cao. Sản phẩm của cây đậu tương được sử dụng hết sức đa dạng phong phú như sử dụng trực tiếp bằng hạt thô hoặc qua chế biến ép thành dầu, làm bánh kẹo, sữa, nước giải khát.đáp ứng nhu cầu tăng thêm chất đạm trong bữa ăn hàng ngày của nhân dân và tham gia vào xuất khẩu; không những thế cây đậu tương còn có tác dụng cải tạo đất tăng năng suất của các cây trồng khác. Chính vì vậy phát triển đậu tương đang là một trong 10 chương trình ưu tiên ở nước ta, đặc biệt trong những năm gần đây với việc chuyển đổi cơ chế quản lý đất sản xuất nông nghiệp đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, lương thực một vấn đề cơ bản của người dân Việt Nam đã được giải quyết, từ đó người nông dân có thể chủ động trong sản xuất những ngành, những cây có giá trị kinh tế c 3 cao, mà trong đố cây đậu tương là một trong những mũi nhọn chiến lược kinh tế trong việc bố trí sản xuất và khai thác lợi thế của vùng khí hậu nhiệt đới.
Tuy nhiên, muốn trồng và sản xuất chế biến cây đậu tương có hiệu quả kinh tế cao chúng ta cần nắm được những đặc trưng nông học, sinh lý, sinh thái,. của đậu tương, Xuất phát từ thực tiễn năng suất đậu tương của Việt Nam so với năng suất đậu tương của thế giới đo nhiều nguyên nhân, trong đó giống là một trong những nguyên nhân chính. Có nhiều biện pháp chọn tạo ra giống đậu tương mới phục vụ cho sản xuất trong đó biện pháp nhập nội để đánh giá chọn lọc ra giống tốt phù hợp với điều kiện sinh thái là biện pháp nhanh và rẻ tiền nhất. Từ thực tiễn trên em đã thực hiện đề tài: “Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của một số dòng, giống đậu tương Việt Nam trong vụ Xuân 2017 tại Thái Nguyên”.
Mục đích nghiên cứu Nhằm chọn được những dòng, giống đậu tương có khả năng sinh trưởng, phát triển tốt, có tiềm năng cho năng suất và chất lượng làm vật liệu cho chọn tạo giống. Mục tiêu nghiên cứu - Xác định được khả năng sinh trưởng, phát triển, khả năng chống chịu sâu bệnh hại và điều kiện ngoại cảnh, năng suất cá thể của các dòng, giống đậu tương tham gia thí nghiệm. - Đánh giá một số đặc điểm hình thái của các dòng, giống đậu tương tham gia thì nghiệm. - Đánh giá một số chỉ tiêu sinh lý của các dòng, giống đậu tương tham gia thí nghiệm.
Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học Đề tài là công trình nghiên cứu về khả năng sinh trưởng, phát triển và cho năng suất cá thể của các dòng đậu tương Việt Nam. Các kết quả nghiên cứu đạt được sẽ góp phần cung cấp dẫn liệu khoa học cho công tác nghiên cứu và chọn tạo giống đậu tương. Mặt khác, kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là cơ sở và gợi ý cho các nghiên cứu tiếp theo về cây đậu tương.
Ý nghĩa thực tiễn Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ giúp lựa chọn được những dòng, giống đậu tương có khả năng sinh trưởng tốt, năng suất cá thể cao và chất lượng tốt phù hợp với điều kiện sinh thái của vùng. c 5 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học 2. Cơ sở lý luận Giống và điều kiện ngoại cảnh là hai yếu tố quyết định sinh trưởng, phát triển và cho năng suất của cây trồng nói chung và cây đậu tương nói riêng.
Sự biểu hiện ra bên ngoài chính là kết quả của sự tác động giữa kiểu gen với môi trường sống. Khả năng sinh trưởng, phát triển và cho năng suất của cây trồng chịu sự tác động sâu sắc của điều kiện ngoại cảnh, trồng trọt, tuy nhiên mức độ ảnh hưởng của mỗi giống là khác nhau so với môi trường sống cụ thể, mỗi giống cũng có phản ứng với điều kiện sinh thái khác nhau. Vì vậy, để phát huy được hiểu quả của giống cần phải sử dụng chúng hợp lý, phù hợp với điều kiện sinh thái, khí hậu, đất đai, kinh tế, xã hội. Để có những giống có năng suất, chất lượng cao, có khả năng chống chịu với điều kiện ngoại cảnh tốt thì công tác giống đóng vai trò vô cùng quan trọng.
Ngày nay, với sự phát triển không ngừng của khoa học kỹ thuật, có rất nhiều phương pháp để chọn tạo giống cây trồng mới như: lai tạo, gây đột biến, nhân giống vô tính. có thể rút ngắn được thời gian tạo giống, tạo ra được những giống có năng suất cao, chất lượng tốt và có khả năng chống chịu tốt với điều kiện ngoại cảnh. Cơ sở thực tiễn Đậu tương là loại cây trồng cổ xưa của nhân loại có nguồn gốc từ Đông Bắc - Mãn Châu - Trung Quốc. Trong tự tịch của Trung Quốc nói lên cây đậu tương xuất hiện khá sớm trong cuốn “Bản Thảo Kinh” truyền lại của Thần Nông viết năm 230 trước công nguyên.
c 6 Qua nhiều kết quả nghiên cứu cho thấy đậu tương đã lan truyền khắp Trung Quốc tới bán đạo Triều Tiên vào thế kỷ I sau công nguyên, sau đó di chuyển đến Nhật Bản, Đông Nam Á, Trung Nam Á từ thế kỷ I đến thế kỷ XI. Đậu tương thuộc họ Fabales, họ Fabaceae, họ phụ Leguminosae, chỉ Glycine L., đậu tương trồng có tên khoa học là Glycine max (L)Merill do Ricker và Mose đề nghị năm 1948 và là tên chính thức. Đậu tương được trồng từ xích đạo đến vĩ độ 55 độ Bắc và 55 độ Nam, từ vùng thấp hơn mực nước biển cho đến vùng cao 2.000m so với mực nước biển (Whigham D. Đậu tương là cây ngắn điển hình và thuộc cây quang hợp theo chu trình C3, mức độ bão hòa với ánh sáng với quang hợp ngoài đồng ruộng la 150.000lux, tổng tích ô hữu hiệu biến động từ 1.
Đậu tương có thể trồng trên các loại đất khác nhau nhưng thích hợp nhất là đất pha cát thịt nhẹ với độ pH=6,5 - 6,8 (Whigham D. Nước ta có khí hậu nhiệt đới gió mùa, điều kiện thời tiết thay đổi theo từng mùa vụ, từng vùng sinh thái. Vì vây, đậu tương có thể trồng ở nhiều nơi khác nhau và có thể quanh năm, trên thực tế nó đã được sắp xếp vào tất cả các vụ trong năm, nhưng chủ yếu tập trung vào 3 vụ chính lá: Xuân, Hè, Đông. Trong những năm gần đây, lương thực là một vấn đề cơ bản với người dân Việt Nam đã được giải quyết, từ đó nông dân có điều kiện sản xuất và phát triển nhưng cây có giá trị kinh tế cao, trong đó cây đậu tương là mũi nhọn chiến lược phát triển kinh tế.
Mặt khác nhu cầu xã hội đang đòi hỏi ngày càng tăng các sản phẩm của đậu tương, hàng năm nước ta phải nhập một lượng lớn đậu tương từ nước ngoài. Hiện nay, diện tích, năng suất, sản lượng đậu tương còn thấp, chất lượng hạt không đảm bảo nên còn hạn chế trong xuất khẩu. Mặt khác phải cạnh tranh với nhiều cây trồng hiệu quả kinh tế trong cơ cấu luân canh như: lúa, ngô,. mà một số địa phương chỉ coi đậu tương là cây trồng phụ, đáp ứng nhu cầu tự cung tự cấp cho gia đình, chưa trở thành hàng hóa và xuất khẩu.
c 7 Thái Nguyên là một tỉnh trung du miền núi phía Bắc với tổng diện tích tự nhiên là 650.280 ha, trong đó đồi núi la 520.000 ha, chiếm 80% đất tự nhiên.