Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ nông nghiệp với đề tài "Khả năng sản xuất của các tổ hợp lai giữa gà Hon Chu và gà Lương Phượng" do nghiên cứu sinh Saykham Souksanith thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Đặng Vũ Bình, chuyên ngành Chăn nuôi (mã số: 9 62 01 05), bảo vệ tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam năm 2021.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Theo số liệu thống kê được tác giả trích dẫn, sản xuất nông nghiệp của Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào (CHDCND Lào) đóng góp khoảng 51% GDP và thu hút khoảng 85% lực lượng lao động; trong đó riêng ngành chăn nuôi chiếm khoảng 16% GDP (Wilson, 2007). Chăn nuôi gia cầm là nghề truyền thống lâu đời của các bộ tộc Lào, với tổng đàn gia cầm trong giai đoạn 2016 - 2017 đạt hơn 32 triệu con (Cục Chăn nuôi và Nuôi trồng thủy sản Lào, 2017). Trong số các loài gia cầm, gà được nuôi phổ biến nhất và chủ yếu là các giống bản địa. Kết quả điều tra của Souksanith (2014) trên 1.587 con gà tại 30 hộ thuộc 3 bản ngoại vi thành phố Luang Prabang cho thấy giống gà Hon Chu (HC) chiếm tỷ lệ cao nhất (42,60%), tiếp đến là gà Nhộc (23,69%), gà Đục Đăm (15,19%) và gà Trè (8,52%).

Gà Hon Chu có ưu điểm thích nghi tốt với tập quán chăn thả tự nhiên, chất lượng thịt thơm ngon phù hợp thị hiếu tiêu dùng địa phương. Tuy nhiên, giống gà này có tầm vóc nhỏ, sinh trưởng chậm và năng suất sinh sản thấp (khối lượng 20 tuần tuổi của gà trống đạt 780 g, gà mái đạt 670 g; sản lượng trứng chỉ đạt 62,13 - 62,15 quả/mái/năm). Đặc tính năng suất thấp và tốc độ tăng đàn chậm khiến gà bản địa không đáp ứng kịp nhu cầu tiêu thụ thực phẩm ngày càng gia tăng, đặc biệt tại khu vực Luang Prabang - một trung tâm du lịch lớn của Lào. Để nâng cao năng suất, việc lai tạo giữa gà bản địa với các giống gà lông màu nhập nội có năng suất cao là hướng tiếp cận cần thiết.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định rõ: Cho đến thời điểm thực hiện đề tài, tại CHDCND Lào có rất ít công trình nghiên cứu về các giống gà, hoàn toàn chưa có công trình nào đánh giá một cách đầy đủ, hệ thống về đặc điểm ngoại hình, khả năng sinh trưởng, năng suất thịt và sinh sản của gà Hon Chu trong cả điều kiện chăn thả quảng canh lẫn thâm canh; đồng thời chưa có nghiên cứu nào về việc nhập nội gà giống năng suất cao và lai tạo giữa gà bản địa Lào với giống gà nhập nội.

Mục tiêu nghiên cứu

  • Mục tiêu chung: Đánh giá khả năng sản xuất của gà Hon Chu và các tổ hợp lai giữa gà Hon Chu và Lương Phượng giúp cho việc định hướng nhiệm vụ bảo tồn nguồn gen và lai tạo nhằm góp phần cải tiến năng suất chăn nuôi gà của Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào.
  • Mục tiêu cụ thể:
    1. Xác định đặc điểm ngoại hình và khả năng sản xuất của gà Hon Chu trong điều kiện chăn nuôi quảng canh tại các nông hộ và chăn nuôi thâm canh tại Trường Cao đẳng Nông lâm nghiệp miền Bắc Luang Prabang;
    2. Đánh giá được khả năng sản xuất của tổ hợp lai F1 và khả năng sinh sản của tổ hợp lai F2 giữa gà Hon Chu và Lương Phượng nuôi tại Trường Cao đẳng Nông lâm nghiệp miền Bắc Luang Prabang;
    3. Ứng dụng tổ hợp lai F1 giữa gà Lương Phượng và gà Hon Chu tại một số nông hộ thuộc khu vực phụ cận tỉnh Luang Prabang.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Gà Hon Chu bản địa thu thập tại tỉnh Luang Prabang; gà Lương Phượng (LP) nhập từ nguồn trứng ấp của Trung tâm Nghiên cứu và Huấn luyện chăn nuôi gia cầm Vạn Phúc (Hà Nội, Việt Nam); các tổ hợp lai F1 thuận nghịch gồm F1(LP-HC) và F1(HC-LP); các tổ hợp lai F2 gồm F2(♂HC-LP x ♀LP-HC) và F2(♂LP-HC x ♀HC-LP).
  • Phạm vi không gian: Nghiên cứu thực nghiệm được tiến hành tại Trại Chăn nuôi thuộc Trường Cao đẳng Nông Lâm nghiệp miền Bắc Luang Prabang và tại các nông hộ thuộc 3 bản vùng phụ cận tỉnh Luang Prabang, CHDCND Lào (gồm 30 hộ điều tra khảo sát ban đầu và 5 nông hộ nuôi thử nghiệm: hộ ông Phongsack, ông Bounthan, ông Khamxang, bà Ben và ông Thammavong).
  • Phạm vi thời gian: Nghiên cứu thực nghiệm triển khai chính từ năm 2015 đến năm 2019; một số dữ liệu khảo sát gà Hon Chu tại nông hộ được kế thừa từ năm 2013 trong khuôn khổ nghiên cứu luận văn thạc sĩ của tác giả.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trước mà tác giả điểm lại

Trong phần tổng quan, tác giả đã hệ thống hóa các nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan đến đặc tính sinh học của gà bản địa, giống gà Lương Phượng và kỹ thuật lai tạo gia cầm:

  • Nghiên cứu về gà địa phương trên thế giới: Wimmers & cs. (2000) và Pedersen (2002) nhận định tính đa dạng kiểu hình là đặc trưng chủ đạo của gà địa phương toàn cầu. Choo & cs. (2014) phân tích khả năng chuyển hóa thức ăn và chất lượng thịt của các giống gà bản địa Hàn Quốc khi so sánh với gà bản địa Benin (Youssao & cs., 2012), Nigeria (Momoh & cs., 2010) và Tunisia (Moujahed & Haddad, 2012). Magothe & cs. (2010) ghi nhận hiệu quả sử dụng thức ăn ở gà bản địa nhìn chung thấp. Le Bihan-Duval (2003), Blagojević & cs. và Sirri & cs. (2011) bàn luận về mối liên hệ giữa chọn lọc tăng trưởng nhanh với phúc lợi động vật và chất lượng cơ thịt. Các công trình của Abdelqader & cs. (2008) tại Jordan, Dessie & Ogle (2001) và Chebo & Nigussie (2016) tại Ethiopia, Benabdeljelil & Arfaoui (2001) tại Morocco, Farruque & cs. (2013) tại Bangladesh, cùng Sartika & Noor (2016) trên gà Kampung tại Indonesia đã cung cấp các thông số so sánh về tuổi đẻ quả trứng đầu (từ 22 đến 32 tuần tuổi), sản lượng trứng hàng năm (từ 45 đến 78 quả/năm) và tỷ lệ hao hụt cao trong điều kiện chăn thả quảng canh (50 - 56%).
  • Nghiên cứu về gà địa phương tại Việt Nam: Nguyễn Đăng Vang (2000, 2003), Eaton & cs. (2006) và Hoàng Văn Tiệu & cs. (2008) chỉ ra gà địa phương chiếm khoảng 80% tổng đàn tại Việt Nam. Tạ An Bình & Nguyễn Thị Hoài Tao (1974) khảo sát lai kinh tế giữa gà Ri với gà Mía, Phù Lưu Tế, Chọi. Bùi Quang Tiến & Nguyễn Thị Hoài Tao (1985) tạo tổ hợp gà Rhode-Ri. Nguyễn Đăng Vang (2000) ghi nhận ưu thế lai của tổ hợp F1 giữa gà Đông Tảo và Tam Hoàng (tăng 6,92% khối lượng cơ thể lúc 12 tuần tuổi). Trần Công Xuân (1999) đánh giá con lai giữa Goldline x Rhode-Ri và Tam Hoàng x Rhode. Nhiều tác giả khác nghiên cứu chuyên sâu về các giống bản địa như gà Hồ (Bùi Hữu Đoàn & Nguyễn Xuân Lưu, 2006; Nguyễn Hoàng Việt, 2013; Bùi Hữu Đoàn & cs., 2016; Đỗ Thị Huế & cs., 2017), gà Ri (Vũ Ngọc Sơn & cs., 2011), gà Mía, Ác, H'Mông, Chọi (Nguyễn Chí Thành & cs., 2008, 2009; Nguyễn Thị Phương & cs., 2017), gà lông cằm (Nguyễn Bá Mùi & cs., 2012) và gà nhiều ngón (Nguyễn Hoàng Thịnh & cs., 2016).
  • Nghiên cứu về gà Lương Phượng và các tổ hợp lai tại Việt Nam: Gà Lương Phượng có nguồn gốc từ Trung Quốc, được Trung tâm Nghiên cứu Gia cầm Thụy Phương và các đơn vị chọn tạo thành các dòng LV1, LV2, LV3 (Trần Công Xuân & cs., 2003) hoặc 3 dòng tại Đồng Nai (Nguyễn Văn Bắc & cs., 2006). Các nghiên cứu của Tiêu Quang An (2002), Nguyễn Huy Đạt & cs. (2000), Trần Công Xuân & cs. (2001) đã xác lập các chỉ tiêu sinh học: tỷ lệ đẻ đạt 50% ở 25 - 26 tuần tuổi, sản lượng trứng 171 quả/66 tuần, tiêu tốn 2,3 - 2,5 kg thức ăn/10 quả trứng, tỷ lệ ấp nở 83 - 84%. Đặc biệt, các công trình sử dụng gà Lương Phượng lai với gà bản địa Việt Nam như gà Ri (Hồ Xuân Tùng, 2009), gà Hồ (Bùi Hữu Đoàn & Hoàng Thanh, 2011), gà Mía (Phùng Đức Tiến & cs., 2010), gà Chọi (Phùng Đức Tiến & cs., 2015) đều cho thấy con lai cải thiện rõ rệt năng suất thịt và trứng.
  • Nghiên cứu gia cầm tại CHDCND Lào: Khăm Pha Vông (2002) thống kê cơ cấu các giống gà bản địa Lào gồm gà Nhộc (39,31%), gà Trè (27,69%), gà Hon Chu (11,55%), gà Đục Đăm (8,03%), gà U (6,17%), gà Chọi (6,10%) và gà Vải (1,15%). Souksanith (2014) khảo sát thực địa tại Luang Prabang, bước đầu công bố số liệu về khối lượng và năng suất trứng của gà Hon Chu.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Tổng quan cho thấy việc sử dụng giống gà lông màu năng suất cao (Lương Phượng) lai với gà bản địa là giải pháp khả thi đã được chứng minh tại Việt Nam. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống thực nghiệm tại Lào: nghiên cứu cơ bản có hệ thống về đặc điểm sinh học và sức sản xuất của gà Hon Chu thuần chủng dưới hai phương thức nuôi (quảng canh và thâm canh); đồng thời đánh giá khoa học biểu hiện ưu thế lai của các tổ hợp lai F1 và F2 giữa gà Hon Chu và gà Lương Phượng, tiến tới thử nghiệm ứng dụng thực tế trong điều kiện chăn nuôi nông hộ tại Lào.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

  • Lý thuyết di truyền tính trạng số lượng: Luận án vận dụng mô hình phân tích giá trị kiểu hình: $$P = G + E = A + D + I + E_g + E_s$$ Trong đó, giá trị kiểu hình ($P$) được cấu thành bởi giá trị kiểu gen ($G$) và sai lệch môi trường ($E$). Giá trị kiểu gen gồm hiệu ứng cộng gộp hay giá trị giống ($A$), hiệu ứng trội ($D$) và hiệu ứng tương tác át gen ($I$). Sai lệch môi trường gồm sai lệch chung ($E_g$ hoặc thường xuyên $E_p$) và sai lệch riêng ($E_s$ hoặc tạm thời $E_t$). Trên cơ sở lý thuyết, các tính trạng sinh trưởng và năng suất thịt có hệ số di truyền ($h^2$) ở mức trung bình đến cao (khối lượng cơ thể $h^2 = 0,33 - 0,60$ theo Brandsch & Biichel, 1978; năng suất thịt $h^2 = 0,29 - 0,32$) chịu sự chi phối mạnh của hiệu ứng cộng gộp $A$, thích hợp cho công tác chọn lọc thuần. Ngược lại, các tính trạng sinh sản có hệ số di truyền thấp (năng suất trứng $h^2 = 0,12 - 0,30$; tỷ lệ thụ tinh $h^2 = 11 - 13%$; tỷ lệ nở $h^2 = 10 - 14%$) chịu tác động chủ yếu của hiệu ứng trội $D$ và tương tác $I$, thích hợp để cải thiện thông qua phương pháp lai giống.
  • Lý thuyết ưu thế lai (Heterosis): Thuật ngữ do Shull đề xuất năm 1914. Luận án xem xét hiện tượng ưu thế lai thông qua ba giả thuyết di truyền học kinh điển: Thuyết trội ($AA = Aa > aa$), Thuyết siêu trội ($Aa > AA > aa$), và Thuyết tương tác giữa các gen không cùng locus. Luận án ứng dụng mô hình di truyền số lượng quần thể 1 locus 2 allele chứng minh: $$H_{F1} = dy^2 \quad (\text{hoặc } \Sigma dy^2 \text{ cho nhiều locus})$$ với $d$ là giá trị sai lệch trội và $y$ là sai khác tần số gen giữa hai quần thể bố mẹ ban đầu. Ở thế hệ F2, mức độ ưu thế lai được chứng minh bằng một nửa thế hệ F1 ($H_{F2} = 0,5 H_{F1}$).
  • Công thức xác định ưu thế lai thực nghiệm: $$H(%) = \frac{\frac{1}{2}(AB + BA) - \frac{1}{2}(A + B)}{\frac{1}{2}(A + B)} \times 100$$ Trong đó: $H(%)$ là tỷ lệ ưu thế lai; $AB$ và $BA$ là giá trị trung bình của con lai thuận và nghịch; $A$ và $B$ là giá trị trung bình của hai giống gốc.
  • Khung phân tích sinh trưởng: Khảo sát sinh trưởng tích lũy (khối lượng qua các tuần tuổi dạng hàm S), sinh trưởng tuyệt đối (ADG, g/con/ngày theo dạng parabol), sinh trưởng tương đối (%), dựa trên cơ sở các hàm toán học kinh điển như Richards (1959) và Gompertz (dẫn theo Gille, 2004).

Phương pháp nghiên cứu thực tế

  • Phương thức chăn nuôi:
    • Quảng canh tại nông hộ: 30 hộ chăn nuôi tại 3 bản phụ cận Luang Prabang; gà chăn thả tự do trong vườn, nhốt chuồng tre gỗ vào ban đêm, tận dụng phụ phẩm nông nghiệp (cám gạo, tấm, ngô, thóc, rau xanh) cho ăn 2 lần/ngày.
    • Thâm canh tại Trại Chăn nuôi Trường Cao đẳng Nông Lâm nghiệp miền Bắc Luang Prabang: Nuôi nhốt trên nền bê tông độn trấu dày 3 - 5 cm, chuồng ô diện tích 16 m², tường gạch cao 80 cm gắn lưới thép. Mật độ nuôi: 14 - 15 con/m² (1 - 4 tuần tuổi), 6 - 7 con/m² (giai đoạn 5 - 24 tuần tuổi và giai đoạn sinh sản).
  • Chế độ dinh dưỡng và khẩu phần thức ăn: Xây dựng trên cơ sở tham khảo TCVN 2265-1994 và quy trình nuôi gà Lương Phượng của Trung tâm Vạn Phúc, sử dụng thức ăn hỗn hợp (TAHH) của công ty liên doanh Thái Lan kết hợp nguyên liệu địa phương:
    • Gà con (1 - 4 tuần tuổi): 100% TAHH, ME 2900 kcal/kg, Protein thô (CP) 20%, cho ăn tự do.
    • Gà hậu bị (5 - 24 tuần tuổi): 60% TAHH + 15% bột ngô + 25% cám gạo; ME 2800 kcal/kg, CP 15%, cho ăn hạn chế.
    • Gà sinh sản: 70% TAHH + 10% bột ngô + 20% cám gạo; ME 2750 kcal/kg, CP 16%, định mức ăn hàng ngày bằng 10% khối lượng cơ thể gà.
    • Gà nuôi thịt (5 - 21 tuần tuổi): 60% TAHH + 15% bột ngô + 25% cám gạo; ME 2800 kcal/kg, CP 15%, cho ăn tự do.
  • Thiết kế sơ đồ lai tạo:
    • Tạo thế hệ F1:
      • Lai thuận: ♂ Lương Phượng $\times$ ♀ Hon Chu $\rightarrow$ F1(LP-HC)
      • Lai nghịch: ♂ Hon Chu $\times$ ♀ Lương Phượng $\rightarrow$ F1(HC-LP)
    • Tạo thế hệ F2:
      • ♂ F1(HC-LP) $\times$ ♀ F1(LP-HC) $\rightarrow$ F2(♂HC-LP x ♀LP-HC)
      • ♂ F1(LP-HC) $\times$ ♀ F1(HC-LP) $\rightarrow$ F2(♂LP-HC x ♀HC-LP)
  • Phương pháp thu thập chỉ tiêu:
    • Đặc điểm ngoại hình: Quan sát và ghi nhận màu lông, màu da, màu mỏ, màu chân lúc 1 ngày tuổi, 8 tuần tuổi, 20 tuần tuổi và 36 tuần tuổi. Đo kích thước các chiều đo cơ thể lúc 20 tuần tuổi (dài thân, dài lườn, vòng ngực, dày lườn, cao chân).
    • Khả năng sinh trưởng và cho thịt: Cân khối lượng định kỳ các tuần tuổi; tính tăng khối lượng hàng ngày (ADG), hệ số chuyển hóa thức ăn FCR (kg thức ăn/kg tăng khối lượng). Khảo sát giết mổ lúc 21 tuần tuổi sau khi nhịn đói 12 - 18 giờ (cho uống nước tự do) để tính khối lượng sống, khối lượng thân thịt, tỷ lệ thân thịt (%), tỷ lệ thịt đùi (%), tỷ lệ thịt ngực (%), tỷ lệ mỡ bụng (%).
    • Khả năng sinh sản: Theo dõi tuổi đẻ quả trứng đầu, tuổi đạt tỷ lệ đẻ 5%, tỷ lệ đẻ hàng tuần, sản lượng trứng tích lũy (quả/mái), tiêu tốn thức ăn/10 quả trứng. Đánh giá chất lượng trứng (mẫu n = 30): khối lượng trứng, chỉ số hình dạng (chiều rộng/chiều dài), độ dày vỏ trứng, chỉ số lòng đỏ, chỉ số lòng trắng đặc, đơn vị Haugh (HU). Theo dõi tỷ lệ trứng có phôi, tỷ lệ nở/trứng ấp và tỷ lệ nở/trứng có phôi.
  • Xử lý số liệu: Số liệu thực nghiệm được thu thập, lưu trữ và xử lý bằng các thuật toán thống kê sinh học chuyên ngành chăn nuôi.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tài liệu

Chương này tập trung trình bày ba khối kiến thức nền tảng:

  1. Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu: Luận giải bản chất di truyền của các tính trạng số lượng trong chăn nuôi gà; phân tích các nhân tố di truyền và phi di truyền chi phối tính trạng sinh trưởng, sinh sản và chất lượng thân thịt; tổng hợp cơ sở lý thuyết về ưu thế lai, các thuyết giải thích hiện tượng ưu thế lai và mô hình toán di truyền biểu hiện ưu thế lai qua các thế hệ phối thuộc.
  2. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước: Cung cấp bức tranh toàn cảnh về việc khai thác nguồn gen gà bản địa tại châu Á, châu Phi và châu Âu; điểm lại các thành tựu chọn tạo giống thuần và lai kinh tế các giống gà nội của Việt Nam với gà lông màu nhập nội; đánh giá đặc tính năng suất của giống gà Lương Phượng tại Việt Nam.
  3. Hiện trạng nghiên cứu tại CHDCND Lào: Khái quát tình hình phân bố và đặc tính của các giống gà bản địa Lào; khẳng định khoảng trống thực tiễn về nghiên cứu gà Hon Chu và nhu cầu cấp thiết của việc thử nghiệm lai tạo nâng cao năng suất gia cầm tại địa phương.

Chương 2: Nội dung và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 mô tả chi tiết địa điểm nghiên cứu (Trại Chăn nuôi Trường Cao đẳng Nông Lâm nghiệp miền Bắc Luang Prabang và 3 bản phụ cận), thời gian thực hiện (2015 - 2019 và số liệu năm 2013), nguồn vật liệu di truyền (Hon Chu bản địa và Lương Phượng nhập từ Vạn Phúc). Chương này chuẩn hóa toàn bộ quy trình chăm sóc nuôi dưỡng, định mức dinh dưỡng thức ăn theo lứa tuổi (gà con, gà hậu bị, gà sinh sản, gà thịt), thiết lập sơ đồ tạo con lai F1 và F2, quy trình thử nghiệm con lai F1 tại 5 nông hộ địa phương, đồng thời quy định cụ thể kỹ thuật đo đạc các chỉ tiêu ngoại hình, sinh trưởng, mổ khảo sát thân thịt, chất lượng trứng, tỷ lệ ấp nở và công thức tính toán ưu thế lai.

Chương 3: Kết quả và thảo luận

1. Đặc điểm ngoại hình và khả năng sản xuất của gà Hon Chu

  • Đặc điểm ngoại hình: Gà Hon Chu có tầm vóc nhỏ, màu sắc lông phân ly đa dạng. Lúc 36 tuần tuổi, gà trống chủ yếu có màu lông trắng pha lẫn đen và đỏ; gà mái có lông màu trắng đốm đen. Da thân màu trắng; da chân có màu vàng, nâu hoặc đen; mào đơn.
  • So sánh năng suất giữa hai phương thức chăn nuôi:
Chỉ tiêu theo dõi Chăn nuôi quảng canh tại nông hộ Chăn nuôi thâm canh tại Trường CĐNLN
Số lượng theo dõi ($n$) 50 mái (và đàn khảo sát) 50 mái (và đàn thí nghiệm)
Khối lượng lúc 20 tuần tuổi con trống (g) 780,00 -
Khối lượng lúc 20 tuần tuổi con mái (g) 670,00 -
Tuổi đẻ quả trứng đầu 7,27 tháng (~31 tuần) 22 tuần tuổi
Năng suất trứng 62,15 quả/mái/năm 39,56 quả/mái (23 - 40 tuần tuổi)
Tỷ lệ đẻ trung bình giai đoạn 23 - 40 tuần (%) - 31,40
Tiêu tốn thức ăn/10 quả trứng (kg) - 5,44
Khối lượng trứng trung bình (g) 38,26 38,26
Tỷ lệ ấp nở (%) 84,42 Có theo dõi thực nghiệm
Khối lượng gà thịt lúc 21 tuần tuổi con trống (g) 1300 - 1500 (lúc 8 - 10 tháng) 2025,05
Khối lượng gà thịt lúc 21 tuần tuổi con mái (g) 900 - 1200 (lúc 8 - 10 tháng) 1820,36
Tăng khối lượng trung bình nuôi thịt (g/con/ngày) - 12,38
Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng - FCR (kg) - 5,50

Dữ liệu cho thấy khi chuyển từ phương thức quảng canh sang thâm canh sử dụng thức ăn hỗn hợp, tuổi thành thục sinh dục của gà Hon Chu rút ngắn từ 7,27 tháng xuống còn 22 tuần tuổi, đồng thời khối lượng cơ thể nuôi thịt ở 21 tuần tuổi tăng lên rõ rệt (trống đạt trên 2,0 kg, mái đạt trên 1,8 kg).

2. Đặc điểm ngoại hình và khả năng sản xuất của gà lai F1 giữa Hon Chu và Lương Phượng

  • Đặc điểm ngoại hình con lai F1: Gà lai F1 có ngoại hình đồng nhất hơn so với gà Hon Chu thuần, màu lông pha trộn giữa hai giống gốc nhưng mang nhiều đặc trưng của gà lông màu thương phẩm, da chân vàng hoặc xám nhạt, thân hình cân đối.
  • Khả năng sinh sản và ưu thế lai ở thế hệ F1:
Chỉ tiêu sinh sản theo dõi F1(LP-HC) (♂LP x ♀HC) F1(HC-LP) (♂HC x ♀LP) Ưu thế lai ở F1(HC-LP) (%)
Tuổi đẻ quả trứng đầu (tuần tuổi) 21 20 -
Khối lượng khi đẻ quả trứng đầu (g) 1447,14 1373,33 -
Tuổi đạt tỷ lệ đẻ 5% - - 4,76
Tỷ lệ đẻ trung bình trong 20 tuần đẻ (%) 33,67 56,50 23,82
Năng suất trứng tích lũy (quả/mái/20 tuần) 44,78 75,70 22,59
Tiêu tốn thức ăn/10 quả trứng (kg) 5,49 3,12 29,59

Tổ hợp lai nghịch F1(HC-LP) thể hiện ưu thế lai vượt trội về mọi chỉ tiêu sinh sản so với tổ hợp lai thuận F1(LP-HC), tỷ lệ đẻ trung bình cao hơn 22,83% và năng suất trứng trong 20 tuần đẻ cao hơn 30,92 quả/mái, đồng thời giảm mức tiêu tốn thức ăn/10 quả trứng tới 2,37 kg.

  • Khả năng nuôi thịt lúc 21 tuần tuổi của gà lai F1:
Chỉ tiêu nuôi thịt lúc 21 tuần tuổi Gà trống F1 Gà mái F1
Khối lượng cơ thể (g) 1828 - 1880 1480 - 1500
Tăng khối lượng trung bình - ADG (g/con/ngày) 12,50 9,70 - 10,00
Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng (kg) 5,90 - 6,00 5,90 - 6,00
Tỷ lệ thân thịt khảo sát mổ thịt (%) 65,00 - 68,00 65,00 - 68,00
Đặc điểm cơ thịt xẻ Tỷ lệ thịt đùi cao hơn tỷ lệ thịt ngực Tỷ lệ thịt đùi cao hơn tỷ lệ thịt ngực

Giữa hai tổ hợp lai F1(LP-HC) và F1(HC-LP) không có sự sai khác có ý nghĩa thống kê về khả năng sinh trưởng và chất lượng thân thịt khi nuôi lấy thịt đến 21 tuần tuổi.

3. Khả năng sinh sản của gà lai F2 giữa Hon Chu và Lương Phượng

Theo dõi đàn gà F2 giai đoạn hậu bị và 20 tuần đẻ sinh sản tại Trại Chăn nuôi Trường Cao đẳng Nông Lâm nghiệp miền Bắc Luang Prabang:

Chỉ tiêu sinh sản F2(♂HC-LP x ♀LP-HC) F2(♂LP-HC x ♀HC-LP)
Tuổi đẻ quả trứng đầu (tuần tuổi) 22 21
Khối lượng khi đẻ quả trứng đầu (g) 1590,83 1561,88
Tỷ lệ đẻ trung bình trong 20 tuần đẻ (%) 51,08 61,03
Năng suất trứng (quả/mái/20 tuần đẻ) 64,37 81,17
Tiêu tốn thức ăn/10 quả trứng (kg) 2,69 2,24

Kết quả chỉ ra tổ hợp lai F2(♂LP-HC x ♀HC-LP) đạt năng suất sinh sản cao hơn rõ rệt so với tổ hợp F2(♂HC-LP x ♀LP-HC), thể hiện qua tỷ lệ đẻ đạt 61,03% (cao hơn 9,95%), sản lượng trứng đạt 81,17 quả/mái/20 tuần (cao hơn 16,80 quả) và tiêu tốn thức ăn cho 10 quả trứng giảm xuống mức 2,24 kg.

4. Ứng dụng kết quả gà lai F1 ở nông hộ

Tác giả đã triển khai nuôi khảo sát tổ hợp lai F1(♂LP x ♀HC) tại 5 hộ nông dân vùng phụ cận tỉnh Luang Prabang (hộ ông Phongsack, ông Bounthan, ông Khamxang, bà Ben và ông Thammavong):

  • Khả năng sinh trưởng: Gà lai F1(LP-HC) nuôi tại nông hộ thích nghi tốt, có tốc độ tăng khối lượng nhanh hơn hẳn so với gà Hon Chu địa phương cùng lứa tuổi.
  • Đánh giá của chủ hộ: Các hộ tham gia thử nghiệm đều nhận xét con lai F1(LP-HC) có thời gian nuôi thịt ngắn hơn, tầm vóc lớn hơn gà bản địa, sức sống cao, ít mắc bệnh và thích hợp với điều kiện chăn nuôi bán chăn thả tại nông hộ.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về lý luận và thực tiễn

Theo công bố của tác giả luận án, công trình mang lại các đóng góp cụ thể:

  1. Đóng góp về nguồn gen bản địa: Cung cấp hệ thống dữ liệu khoa học đầy đủ đầu tiên về đặc điểm ngoại hình, khả năng sinh trưởng, năng suất thịt và sinh sản của giống gà Hon Chu tại CHDCND Lào trong cả hai phương thức nuôi quảng canh và thâm canh.
  2. Đóng góp về lai tạo giống: Xác định được giá trị kinh tế và mức độ biểu hiện ưu thế lai của các tổ hợp lai hai giống giữa gà Hon Chu và Lương Phượng. Phát hiện hai tổ hợp có năng suất sinh sản cao là F1(HC-LP) (năng suất 75,70 quả trứng/20 tuần đẻ; FCR 3,12 kg/10 quả trứng; ưu thế lai về năng suất trứng đạt 22,59%) và tổ hợp F2(♂LP-HC x ♀HC-LP) (tỷ lệ đẻ 61,03%; năng suất trứng 81,17 quả/20 tuần đẻ; FCR 2,24 kg/10 quả trứng).
  3. Đóng góp về ứng dụng thực tiễn: Khẳng định con lai F1(LP-HC) phù hợp với phương thức chăn nuôi nông hộ tại Lào, giúp rút ngắn chu kỳ nuôi thịt, tăng khối lượng xuất bán và nâng cao hiệu quả kinh tế cho người chăn nuôi địa phương.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất

  • Định hướng sử dụng tổ hợp lai F1(LP-HC) để phát triển chăn nuôi gà thịt thương phẩm tại các nông hộ vùng phụ cận Luang Prabang nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường tiêu dùng và du lịch.
  • Khai thác khả năng sinh sản của tổ hợp lai F1(HC-LP) và F2(♂LP-HC x ♀HC-LP) phục vụ công tác nhân giống, tạo nguồn gà mái sinh sản năng suất cao cho địa phương.
  • Triển khai song song các biện pháp bảo tồn nguồn gen gà Hon Chu thuần chủng thông qua chọn lọc, nhân giống thuần để giữ nguồn vật liệu lai tạo ổn định lâu dài.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án

  • Khảo sát khả năng sản xuất trứng của các đàn gà thâm canh (Hon Chu, F1, F2) tại Trại Chăn nuôi mới chỉ thực hiện trong phạm vi 20 tuần đẻ (từ 21/23 tuần đến 40/42 tuần tuổi), chưa theo dõi hết một chu kỳ đẻ sinh học trọn vẹn (khoảng 66 - 72 tuần tuổi).
  • Phạm vi ứng dụng thử nghiệm con lai F1 tại nông hộ mới dừng lại ở tổ hợp F1(LP-HC) và thực hiện tại 5 hộ gia đình thuộc khu vực phụ cận tỉnh Luang Prabang, chưa mở rộng ra các vùng sinh thái chăn nuôi khác của Lào.

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Tiếp tục theo dõi đầy đủ chu kỳ đẻ trứng sinh học và sức bền đẻ trứng của các tổ hợp lai F1 và F2 để có đánh giá hoàn chỉnh về hiệu quả kinh tế vòng đời.
  • Mở rộng quy mô thử nghiệm các tổ hợp lai F1 và F2 ra nhiều huyện và tỉnh khác nhau của CHDCND Lào để đánh giá khả năng thích nghi đa vùng sinh thái.
  • Nghiên cứu xây dựng công thức khẩu phần thức ăn hoàn chỉnh dựa trên nguồn phụ phẩm nông nghiệp sẵn có tại địa phương để hạ giá thành chăn nuôi con lai.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu chuyên khảo có giá trị ứng dụng và tham khảo đối với nhiều đối tượng trong ngành chăn nuôi:

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên và giảng viên chuyên ngành Chăn nuôi, Di truyền - Giống vật nuôi: Cung cấp tài liệu thực chứng về phương pháp thiết kế sơ đồ lai thuận nghịch hai giống và lai thế hệ F2; phương pháp đánh giá ưu thế lai thực nghiệm ($H%$) dựa trên các mô hình di truyền số lượng; quy trình khảo sát năng suất thịt và chất lượng trứng gia cầm.
  • Đối với cán bộ quản lý nông nghiệp và khuyến nông tại CHDCND Lào: Luận án cung cấp căn cứ khoa học trực tiếp phục vụ công tác quy hoạch, bảo tồn nguồn gen vật nuôi bản địa (gà Hon Chu), đồng thời là cẩm nang kỹ thuật chuyển giao mô hình lai kinh tế gà lông màu nâng cao sinh kế cho nông hộ.
  • Nội dung đáng tham khảo nhất:
    • Chương 2: Thiết kế sơ đồ lai 2 thế hệ và công thức phối trộn thức ăn dinh dưỡng phù hợp điều kiện kỹ thuật tại Lào.
    • Chương 3: Bộ số liệu đối chiếu chi tiết giữa chăn nuôi quảng canh và thâm canh ở gà Hon Chu, cùng các bảng số liệu ưu thế lai về năng suất trứng của F1 và F2.

Câu hỏi thường gặp

1. Gà Hon Chu bản địa nuôi quảng canh tại các nông hộ ở Luang Prabang có đặc điểm năng suất như thế nào?
Trong điều kiện quảng canh tại nông hộ, gà Hon Chu có tầm vóc nhỏ: lúc 20 tuần tuổi khối lượng con trống đạt 780 g, con mái đạt 670 g; khi trưởng thành lúc 8 - 10 tháng tuổi con trống đạt 1,3 - 1,5 kg, con mái đạt 0,9 - 1,2 kg. Gà mái thành thục sinh dục muộn với tuổi đẻ quả trứng đầu trung bình là 7,27 tháng (~31 tuần tuổi), năng suất trứng đạt 62,15 quả/mái/năm, khối lượng trứng trung bình đạt 38,26 g và tỷ lệ ấp nở đạt 84,42%.

2. Khi chuyển sang chăn nuôi thâm canh bằng thức ăn hỗn hợp, các chỉ tiêu sản xuất của gà Hon Chu thay đổi ra sao?
Khi nuôi thâm canh tại Trại Chăn nuôi Trường Cao đẳng Nông Lâm nghiệp miền Bắc Luang Prabang, tuổi đẻ quả trứng đầu của gà Hon Chu rút ngắn xuống còn 22 tuần tuổi; giai đoạn từ 23 đến 40 tuần tuổi tỷ lệ đẻ trung bình đạt 31,40%, năng suất trứng đạt 39,56 quả/mái, tiêu tốn 5,44 kg thức ăn/10 quả trứng. Khi nuôi thịt đến 21 tuần tuổi, khối lượng cơ thể đạt 2025,05 g ở con trống và 1820,36 g ở con mái, tốc độ tăng khối lượng bình quân đạt 12,38 g/con/ngày với tiêu tốn thức ăn là 5,50 kg/kg tăng khối lượng.

3. Khả năng sản xuất trứng và ưu thế lai giữa hai tổ hợp lai F1(LP-HC) và F1(HC-LP) khác nhau như thế nào?
Tổ hợp lai nghịch F1(HC-LP) vượt trội rõ rệt so với tổ hợp lai thuận F1(LP-HC): đẻ sớm hơn 1 tuần (20 so với 21 tuần tuổi); tỷ lệ đẻ trung bình 20 tuần đẻ đạt 56,50% (so với 33,67%); năng suất trứng đạt 75,70 quả/mái (so với 44,78 quả/mái); tiêu tốn thức ăn/10 quả trứng là 3,12 kg (so với 5,49 kg). Các chỉ tiêu của F1(HC-LP) đều ghi nhận ưu thế lai cao: tuổi đẻ 5% đạt 4,76%, tỷ lệ đẻ đạt 23,82%, năng suất trứng đạt 22,59% và tiêu tốn thức ăn/10 quả trứng đạt 29,59%. Về khả năng nuôi thịt ở 21 tuần tuổi, hai tổ hợp tương đương nhau (trống đạt 1828 - 1880 g, mái đạt 1480 - 1500 g, FCR 5,9 - 6,0 kg).

4. Tổ hợp lai F2 nào cho năng suất đẻ trứng tốt hơn trong 20 tuần theo dõi?
Tổ hợp lai F2(♂LP-HC x ♀HC-LP) cho năng suất sinh sản vượt trội hơn hẳn tổ hợp F2(♂HC-LP x ♀LP-HC): tuổi đẻ trứng đầu sớm hơn (21 so với 22 tuần tuổi), tỷ lệ đẻ trung bình đạt 61,03% (so với 51,08%), sản lượng trứng tích lũy đạt 81,17 quả/mái/20 tuần (so với 64,37 quả/mái) và tiêu tốn thức ăn/10 quả trứng chỉ là 2,24 kg (so với 2,69 kg).

5. Kết quả thử nghiệm ứng dụng con lai F1 tại các nông hộ phụ cận Luang Prabang ghi nhận điều gì?
Tổ hợp lai F1(♂LP x ♀HC) được nuôi thử nghiệm tại 5 hộ nông dân (ông Phongsack, ông Bounthan, ông Khamxang, bà Ben và ông Thammavong). Kết quả thực tế cho thấy gà lai sinh trưởng tốt, tăng trọng nhanh hơn rõ rệt so với gà Hon Chu địa phương, rút ngắn thời gian nuôi lấy thịt, có sức đề kháng cao, ít mắc bệnh và thích ứng thuận lợi với điều kiện chăn nuôi nông hộ.


Kết luận

Luận án của Saykham Souksanith là công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu có hệ thống về đặc điểm ngoại hình và khả năng sản xuất của giống gà bản địa Hon Chu cũng như các tổ hợp lai với gà Lương Phượng tại CHDCND Lào. Các kết quả thực nghiệm đã xác định rõ sự cải thiện mạnh mẽ về chỉ tiêu sinh sản ở tổ hợp lai F1(HC-LP) và F2(♂LP-HC x ♀HC-LP), đồng thời khẳng định tiềm năng nuôi thịt của tổ hợp F1(LP-HC) trong điều kiện nông hộ. Công trình cung cấp cơ sở khoa học quan trọng cho nhiệm vụ bảo tồn nguồn gen vật nuôi bản địa kết hợp lai tạo nâng cao năng suất chăn nuôi gia cầm tại Lào.