Đặt vấn đề Trong những năm gần đây ngành chăn nuôi gia cầm nói chung và chăn nuôi gà nói riêng ở nước ta ngày càng phát triển (với tốc độ bình quân 5% năm). Trong đó chăn nuôi gà nông hộ chiếm tỷ lệ xấp xỉ 80%. Hiện nay, chăn nuôi gia đình cung cấp 70% lượng thịt gà trên thị trường với một số giống gà địa phương và một số giống gà thả vườn đã được các gia đình nuôi theo phương pháp bán công nghiệp như: Tam hoàng, Lương Phượng, Sasso, Kabir. Đây là những giống gà lông màu có khối lượng vừa phải, thịt chắc, thơm ngon, hợp thị hiếu người tiêu dùng.
Hiện nay xu hướng chăn nuôi gà theo phương thức bán chăn thả ngày càng phát triển rộng khắp mọi miền. Đặc biệt là ở trung du và miền núi, góp phần đáng kể vào việc chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp tạo thêm việc làm và từng bước nâng cao hiệu quả kinh tế chăn nuôi nông hộ. Để đáp ứng nhu cầu này của nhân dân, năm 1995 nước ta nhập giống gà Lương Phượng từ Quảng Tây - Trung Quốc, năm 1997 nước ta lại nhập thêm giống gà Kabir từ Israel. Gà Kabir có lông màu nâu, có năng suất trứng, thịt cao, ít bệnh tật.
Gà thương phẩm có lông màu đỏ nhạt, chân da màu vàng, thịt chắc, đậm và thơm ngon. Gà Lương Phượng màu vàng tuyền, vàng đốm hoa hoặc đen đốm hoa, gà dễ nuôi, tính thích nghi cao, đòi hỏi chế độ dinh dưỡng không cao. Gà Ri là một giống gà địa phương của nước ta có ưu điểm là khả năng chống chịu tốt với điều kiện môi trường khắc nghiệt, sản phẩm thịt có chất lượng cao, vị đậm, thơm ngon. Tuy nhiên, có nhược điểm là chậm lớn, tầm vóc nhỏ bé, đẻ ít trứng, tính ấp bóng cao, hiệu quả kinh tế đem lại thấp và còn chưa cải thiện được thu nhập cho người dân.
e 2 Để phát huy ưu điểm của từng giống, tạo ra tổ hợp lai có năng suất cao hơn, chất lượng thịt thơm ngon, màu sắc, hình dáng phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng. Chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: " Khảo sát khả năng sản xuất của gà lai (Trống Mía x Mái Lương Phượng) và KING 303 nuôi tại trại chăn nuôi gia cầm khoa Chăn nuôi Thú y, trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên". Mục tiêu nghiên cứu Đánh giá được khả năng sản xuất của 2 đối tượng gà là KING 303 và (♂ Mía x ♀ Lương Phượng). Rèn luyện tay nghề nâng cao hiểu biết kinh nghiệm thực tế.
Góp phần giúp cơ sở nâng cao năng suất, chất lượng chăn nuôi. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học Đóng góp cho ngành chăn nuôi thú y những thông tin về khả năng sản xuất của 2 đối tượng con lai. Ý nghĩa trong thực tiễn Xác định được con lai nào có khả năng sản xuất cao hơn từ đó khuyến cáo cho người chăn nuôi lựa chọn giống nuôi có hiệu quả kinh tế cao.
e 3 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học về các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng và cho thịt của gia cầm 2. Ưu thế lai - Bản chất di truyền của ưu thế lai 2. Ưu thế lai Thuật ngữ "ưu thế lai" được Shul G.H nhà di truyền học người Mỹ đề cập từ năm 1914, sau đó vấn đề ưu thế lai đã được ứng dụng rộng rãi ở cả động vật và thực vật.
Cơ sở di truyền của ưu thế lai là thể dị hợp tử ở con lai. Ưu thế lai làm tăng mức trung bình giữa con lai so với 2 giống gốc, hai dòng thuần nhất là đối với các tính trạng số lượng (Nguyễn Văn Thiện, (1996) [9]). Con lai thường có sức chống chịu bệnh tốt hơn, sức sản xuất sản phẩm tốt hơn. Mặc dù vậy ưu thế lai không thể đoán trước được.
Sự khác biệt giữa 2 giống càng lớn thì ưu thế lai càng lớn, ưu thế lai chỉ có thể xảy ra ở một công thức lai nào đó, vì thế phải tiến hành nhiều công thức lai khác nhau, ưu thế lai không di truyền, nếu tiếp tục cho giao phối đời con với nhau thì kết quả sẽ làm mất ưu thế lai và mất sự đồng đều. Ưu thế lai đạt cao nhất ở F1 rồi từ đó giảm dần. Các đời sau, ưu thế lai giảm bớt vì có sự thay đổi nhất định trong sự tương hỗ và tương tác giữa các gen thuộc các Locut khác nhau. Hơn nữa biểu hiện của một tình trạng bao giờ cũng chịu ảnh hưởng không những của kiểu di truyền mà còn cả ở ngoại cảnh nhất định.
Nói cách khác mức độ ưu thế lai cao hay thấp còn tuỳ thuộc vào sự tương quan âm hay dương (Trần Huê Viên, 2001 [15]). Bản chất di truyền học của ưu thế lai Theo Nguyễn Văn Thiện, (1996) [9] thì bản chất của ưu thế lai được giải thích tập trung vào 2 thuyết chính: e 4 - Thuyết trội: Những tính trạng như sức sống, khả năng sinh sản. nói chung là các tính trạng số lượng do nhiều gen điều khiển nên rất hiếm có tỷ lệ đồng hợp. Thế hệ con được tạo ra do lai giữa 2 cá thể sẽ được biểu hiện do tất cả các gen trội.
Một nửa thuộc gen trội đồng hợp tử của cha mẹ, một nửa là gen trội dị hợp. Khi cha, mẹ xa nhau trong quan hệ huyết thống (khác dòng, khác giống, khác loài) thì xác suất để mỗi cặp cha mẹ truyền cho con những gen trội khác nhau càng tăng lên, từ đó dẫn đến các mức độ ưu thế lai. Ví dụ: Thế hệ bố, mẹ: AAbb CCdd x aaBB ccDD Số locut mang gen trội là 2 Thế hệ con lai: AaBbCcDd Số locut mang gen trội là 4 - Thuyết siêu trội: Theo thuyết này thì hiệu quả của 1 alen ở trạng thái dị hợp tử sẽ khác với hiệu quả của từng alen này ở trạng thái đồng hợp. Cho nên có thể có tính trạng ở trạng thái dị hợp tử (trạng thái trội) sẽ vượt lên bất kỳ dạng nào vì bên cạnh những gen lặn có hại cũng có những gen lặn có lợi.
Theo thuyết này thì các gen ở dạng dị hợp thể Aa có lợi cho sự phát triển của cơ thể hơn dạng aa và AA. AA < Aa > aa. Một số yếu tố ảnh hưởng đến ưu thế lai Theo Nguyễn Văn Thiện, 1996 [9] Mức độ ưu thế lai phụ thuộc vào 4 yếu tố sau: - Nguồn gốc di truyền của bố, mẹ: Bố, mẹ có nguồn gốc càng xa thì ưu thế lai càng cao và ngược lại. - Tính trạng xem xét: Các tính trạng có hệ số di truyền thấp thì ưu thế lai càng cao và ngược lại.
- Công thức giao phối: Ưu thế lai còn phụ thuộc vào việc sử dụng con vật nào làm bố và con vật nào làm mẹ. - Điều kiện nuôi dưỡng: Nếu nuôi dưỡng kém thì ưu thế lai có được sẽ thấp và ngược lại. Khái niệm về sinh trưởng Ở vật nuôi từ khi hình thành phôi đến khi trưởng thành khối lượng và thể tích cơ thể tăng lên. Điều này trước tiên là tế bào tăng lên về số lượng, các cơ quan bộ phận trong cơ thể đều có sự tăng lên về khối lượng và kích thước.
Từ đó, dẫn đến khối lượng và thể tích của cơ thể tăng lên. Sự lớn lên của cơ thể là do sự tích luỹ các chất hữu cơ thông qua việc trao đổi chất. Giáo sư Trần Đình Miên (1992) [7] đã khái quát: " Sinh trưởng là một quá trình tích luỹ các chất hữu cơ thông qua trao đổi chất, là sự tăng lên về chiều cao, chiều dài, bề ngang, khối lượng của từng cơ quan, bộ phận cũng như toàn bộ cơ thể trên cơ sở tính di truyền có từ đời trước". Về mặt giải phẫu học thì gà là một loại gia cầm (có lông vũ) với đặc điểm bộ máy tiêu hóa không có răng, hệ thông bài tiết không có đường tiểu tiện riêng, ở dưới da không có tuyến mồ hôi.
Về hoạt động sinh lý, gà chịu nóng kém (do sự thoát nước để điều chỉnh nhiệt của cơ thể kém), có thân nhiệt cao hơn các động vật có vú 0,5 - 10C. Tuy không có răng, nhưng gà có một dạ dày cơ (mề) rất khỏe đủ để nghiền bóp mọi loại thức ăn thông thường, ngoài ra hệ thống men tiêu hóa lại rất phát triển nên vận tốc tiêu hóa ở gà rất lớn. Điều này thể hiện ở việc gà ăn rất khỏe. Từ những đặc điểm trên, gà có một tiềm năng sinh vật rất lớn (đẻ nhiều, lớn nhanh…).
Và cũng do vậy, con gà có những thế mạnh và điểm yếu như sau: Điểm mạnh là hiệu suất chuyển hóa thức ăn thành sản phẩm ở gà rất lớn: một gà mái có thể sinh ra một lượng sản phẩm (trứng) nặng gấp 8 lần cơ thể của nó trong vòng 12 tháng (trong khi muốn đạt được điều này lợn nái cần 40 năm, bò cái cần 80 năm), một gà thịt đạt khối lượng cơ thể gấp 50 lần khối lượng sơ sinh chỉ sau 8 tuần lễ (con số này ở lợn là 20 lần trong 26 tuần, ở bò e 6 là 6 - 7 lần trong 52 tuần…). Như vậy tiềm năng về sức sản xuất ở gà là rất lớn. Điểm yếu: một là không có tuyến mồ hôi, lớp mỡ dày, thân nhiệt cao nên gà chỉ thích ứng với những nơi, những lúc nhiệt độ thấp, gà chịu rét tốt nhưng chịu nóng rất kém. Hai là gà có cường độ trao đổi vật chất rất cao nên gà rất mẫn cảm với các bệnh về dinh dưỡng và thời tiết, khí hậu.
Sinh trưởng của vật nuôi nói chung và sinh trưởng của gà nói riêng chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố, quan trọng nhất là yếu tố giống, dinh dưỡng và các điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng khác. Các yếu tố ảnh hưởng tới sinh trưởng và cho thịt của gia cầm 2. Ảnh hưởng của giống Mỗi giống có một tốc độ sinh trưởng nhất định. Sự khác nhau về tốc độ sinh trưởng đó là do bản chất di truyền quy định.
Đặc điểm di truyền của giống và ngoại cảnh có tác động qua lại với nhau, nghĩa là cùng một kiểu gen nhưng ở các môi trường khác nhau thì có tốc độ sinh trưởng khác nhau. Cho nên việc cần thiết là phải tạo ra môi trường phù hợp với kiểu gen đó để phát huy tối đa tiềm năng di truyền của giống. Jaap và Moris (1937) [19] đã phát hiện ra những sai khác trong cùng một giống về cường độ sinh trưởng. Nguyễn Mạnh Hùng và cs (1994) [5] cho rằng: Sự sai khác nhau giữa giống gia cầm là rất lớn.
Thông thường các giống gia cầm kiêm dụng thường nặng hơn gà hướng trứng 13 – 18%.