Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Cây dừa (Cocos nucifera) là cây trồng nông nghiệp đặc trưng, giữ vai trò kinh tế chủ lực tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Trong đó, tỉnh Bến Tre là địa phương có diện tích và sản lượng dừa lớn nhất cả nước với trên 70.000 ha, chiếm 42,5% tổng diện tích dừa toàn quốc và khoảng 0,6% diện tích dừa thế giới (theo công bố của Nguyễn Văn Nên và Lê Tấn Lộc, 2014). Tuy nhiên, ngành trồng dừa tại địa phương đang đối mặt với nhiều thách thức lớn từ biến đổi khí hậu, xâm nhập mặn và dịch hại côn trùng. Đặc biệt, loài sâu đầu đen ăn lá dừa (Opisina arenosella) mới xuất hiện và bùng phát từ tháng 7 năm 2020 đã gây thiệt hại nghiêm trọng trên diện rộng. Theo báo cáo của Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Bến Tre, tính đến tháng 6 năm 2021, loài dịch hại này đã tấn công trên 547 ha dừa, trong đó 42% tổng diện tích nhiễm bị hại ở mức độ nặng, tán lá bị cháy khô xơ xác và khó có khả năng phục hồi tự nhiên.
Trước tình hình lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật hóa học gây suy thoái môi trường và ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe cộng đồng, biện pháp kiểm soát sinh học bằng thiên địch được xác định là hướng tiếp cận bền vững. Theo điều tra của Nguyễn Thị Thúy Ngân (2021), thành phần ong ký sinh nhộng kiểm soát sâu đầu đen tại Bến Tre gồm 6 loài: Brachymeria euploeae, Brachymeria kamijoi, Xanthopimpla punctata, Xanthopimpla nana, Antrocephalus sp. và Trichospilus pupivorus. Mặc dù tần suất xuất hiện tự nhiên của ong ký sinh nhộng Trichospilus pupivorus chỉ chiếm từ 5% đến 25%, nhưng các tài liệu sinh học kinh điển (Anantanarayanan, 1934) ghi nhận loài thiên địch này có khả năng tiêu diệt đến 75% mật số nhộng dịch hại và có tiềm năng nhân nuôi nhân tạo số lượng lớn trong điều kiện nhân tạo. Tuy nhiên, hiệu quả ký sinh của ong phụ thuộc chặt chẽ vào độ tuổi của nhộng ký chủ, sự hiện diện của các loài ký chủ thay thế trong tự nhiên cũng như chế độ dinh dưỡng bổ sung cho ong trưởng thành. Vì vậy, đề tài nghiên cứu được thực hiện nhằm cung cấp cơ sở sinh học thực nghiệm cho công tác nhân nuôi và ứng dụng loài ong này.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể bao gồm:
- Xác định khả năng ký sinh, thời gian phát triển và số lượng ong vũ hóa của T. pupivorus trên nhộng sâu đầu đen ở các độ tuổi khác nhau (1, 3, 5, 7 ngày tuổi) trong điều kiện có và không có sự lựa chọn.
- Khảo sát khả năng lựa chọn ký chủ của T. pupivorus trên 4 loài nhộng côn trùng thuộc bộ Lepidoptera: sâu đầu đen hại dừa (Opisina arenosella), sâu sáp (Galleria mellonella), ngài gạo (Corcyra cephalonica) và sâu keo mùa thu (Spodoptera frugiperda), đánh giá qua thời gian vũ hóa, tỷ lệ giới tính và kích thước hình thái của ong thế hệ sau.
- Đánh giá ảnh hưởng của các mức nồng độ mật ong bổ sung (0%, 10%, 20%, 30%, 50%, 70% và đối chứng không bổ sung) đến tuổi thọ ong cái trưởng thành, tỷ lệ nhộng bị ký sinh và tỷ lệ nhộng có ong vũ hóa.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Ong ký sinh nhộng Trichospilus pupivorus (Hymenoptera: Eulophidae); nhộng sâu đầu đen (Opisina arenosella), nhộng sâu sáp (Galleria mellonella), nhộng ngài gạo (Corcyra cephalonica), nhộng sâu keo mùa thu (Spodoptera frugiperda); mật ong thương phẩm Nông Lâm.
- Phạm vi không gian: Nghiên cứu được thực hiện tại Phòng thí nghiệm Côn trùng, Bộ môn Bảo vệ Thực vật, Khoa Nông học, Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh.
- Phạm vi thời gian: Thực nghiệm tiến hành từ tháng 5 năm 2022 đến tháng 10 năm 2022.
- Giới hạn nghiên cứu: Đánh giá tuổi nhộng ở các mức 1, 3, 5, 7 ngày tuổi đối với sâu đầu đen; cố định nhộng 3 ngày tuổi đối với 3 loài ký chủ còn lại; các mức nồng độ mật ong pha loãng theo tỷ lệ thể tích, không phân tích chi tiết hàm lượng hóa sinh của mật ong.
Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu được xây dựng dựa trên cơ sở lý thuyết về sinh thái học côn trùng ký sinh và tập tính lựa chọn vật chủ (host selection behavior). Ong ký sinh nhộng Trichospilus pupivorus thuộc chi Trichospilus, tông Eulophini, họ Eulophidae, bộ Cánh màng (Hymenoptera). Đây là loài nội ký sinh đa ngấu (gregarious endoparasitoid) với phổ ký chủ rộng trên hơn 30 loài sâu hại thuộc bộ Cánh vảy (Lepidoptera) nhờ cấu tạo vỏ nhộng mỏng mềm thích hợp cho việc đẻ trứng (Remadevi et al., 1980). Theo Silva et al. (2016), ong cái tiếp nhận tín hiệu rung động và hóa học thông qua hệ thống thụ quan cảm giác (sensilla) phân bố dày đặc trên các đốt râu đầu (chân râu, cuống râu, roi râu và chùy râu), từ đó phân biệt được độ tuổi, kích thước và giá trị dinh dưỡng của nhộng trước khi dùng máng đẻ trứng xâm nhập. Bên cạnh đó, các nghiên cứu của Azzouz et al. (2004) và Arrese & Soulages (2010) chỉ ra rằng ong ký sinh trưởng thành cần nguồn năng lượng carbohydrate và lipid ngoại sinh để duy trì các hoạt động vận động và hoàn thiện chức năng sinh sản, trong đó mật ong pha loãng là nguồn thức ăn bổ sung giàu đường, axit amin và khoáng chất phù hợp.
Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm được thiết kế hoàn toàn ngẫu nhiên (Completely Randomized Design - CRD), đơn yếu tố, tiến hành trong điều kiện phòng nuôi đồng nhất ở nhiệt độ 28 ± 2°C, độ ẩm không khí 70 ± 5%, quang kỳ 12 giờ sáng : 12 giờ tối:
- Thí nghiệm 1: Đánh giá sự lựa chọn tuổi nhộng sâu đầu đen (1, 3, 5, 7 ngày tuổi) trong điều kiện có sự lựa chọn; 4 nghiệm thức cùng xuất hiện trong một lồng thí nghiệm (2 nhộng/tuổi, tổng cộng 8 nhộng), thả 5 cặp ong mới vũ hóa 1 ngày tuổi tiếp xúc trong 24 giờ; 3 lần lặp lại.
- Thí nghiệm 2: Đánh giá sự lựa chọn tuổi nhộng sâu đầu đen trong điều kiện không có sự lựa chọn; bố trí riêng biệt 4 nghiệm thức tương ứng với từng độ tuổi (2 nhộng/hộp), thả 2 cặp ong mới vũ hóa 1 ngày tuổi tiếp xúc 24 giờ; 3 lần lặp lại.
- Thí nghiệm 3: Đánh giá sự lựa chọn giữa 4 loài ký chủ (sâu đầu đen, sâu sáp, ngài gạo, sâu keo mùa thu ở giai đoạn nhộng 3 ngày tuổi) trong điều kiện có sự lựa chọn; mỗi hộp chứa 2 nhộng của từng loài (tổng cộng 8 nhộng), thả 1 cặp ong vũ hóa 1 ngày tuổi tiếp xúc 24 giờ; 5 lần lặp lại.
- Thí nghiệm 4: Đánh giá sự lựa chọn giữa 4 loài ký chủ trong điều kiện không có sự lựa chọn; mỗi nghiệm thức gồm 2 nhộng của một loài ký chủ, thả 1 cặp ong đã giao phối tiếp xúc 24 giờ; 5 lần lặp lại; bắt ngẫu nhiên 30 cá thể ong vũ hóa mỗi nghiệm thức để đo kích thước hình thái.
- Thí nghiệm 5: Khảo sát ảnh hưởng của các mức nồng độ mật ong (đối chứng không thức ăn, nước cất 0%, mật ong 10%, 20%, 30%, 50%, 70%) đến đặc điểm sinh học của ong; mỗi nghiệm thức sử dụng 1 cặp ong mới vũ hóa 1 ngày tuổi cho tiếp xúc với 4 nhộng sâu sáp 3 ngày tuổi, cung cấp thức ăn qua bông tẩm thay mới mỗi ngày; theo dõi cho đến khi ong cái chết; 5 lần lặp lại.
Nguồn dữ liệu và dụng cụ: Nguồn ong T. pupivorus ban đầu thu thập từ ổ nhộng sâu đầu đen tại Bến Tre, sau đó thuần dưỡng và nhân nuôi liên tục 3-4 thế hệ trên nhộng sâu đầu đen trong phòng thí nghiệm trước khi đưa vào thí nghiệm chính thức. Nguồn sâu sáp được nhân nuôi bằng thức ăn nhân tạo phối trộn (212 g hỗn hợp bột ngũ cốc và phụ phẩm, 25 g cám bắp, 125 g mật ong, 13 g sáp ong, 125 g glycerin). Các loài sâu đầu đen, ngài gạo và sâu keo mùa thu được thu thập ngoài tự nhiên và nhân nuôi đến thế hệ F1 để thu nhộng đồng đều. Các chỉ tiêu hình thái (chiều dài thân, sải cánh) được đo đạc dưới kính hiển vi soi nổi quang học KTECK (Model KTST-978PRO, độ phóng đại 17x - 110x). Số liệu thô được ghi nhận, tổng hợp bằng Microsoft Excel 2019 và phân tích phương sai (ANOVA), phân hạng trung bình bằng kiểm định LSD ở mức ý nghĩa α = 0,01 thông qua phần mềm thống kê SAS phiên bản 9. Số liệu tỷ lệ phần trăm được chuyển đổi dạng arcsin(x)^0.5, số liệu đếm được chuyển đổi dạng (x)^0.5 hoặc log(x+1) trước khi xử lý thống kê.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tài liệu
Chương này tổng kết toàn diện các tài liệu khoa học liên quan đến đối tượng nghiên cứu và các loài ký chủ. Tác giả phân tích hệ thống phân loại chi Trichospilus gồm 8 loài đã được định danh trên thế giới (T. boops, T. ferrierei, T. vorax, T. lutelineatus, T. striatus, T. politus, T. diatraeae, T. pupivorus). Loài T. pupivorus có nguồn gốc từ vùng Đông Nam Á, được Ferriere phát hiện năm 1930 và được ghi nhận kiểm soát nhiều loài dịch hại bộ Cánh vảy tại Ấn Độ, Sri Lanka, Malaysia, Indonesia. Vòng đời của ong trải qua các pha: trứng (kích thước 183 ± 15 µm x 65 ± 8 µm, ủ 24 - 30 giờ), ấu trùng (5 - 6 ngày, kích thước tối đa 1,281 x 0,429 mm), tiền nhộng (24 giờ), nhộng trần (7 ngày, biến đổi màu từ trắng sang nâu sẫm) và trưởng thành (vũ hóa sau 8 - 10 ngày từ khi hóa nhộng qua 1 - 5 lỗ đục trên vỏ ký chủ). Chương 1 cũng trình bày chi tiết đặc điểm sinh học, vòng đời, pha gây hại của 4 loài ký chủ thí nghiệm (Opisina arenosella, Galleria mellonella, Corcyra cephalonica, Spodoptera frugiperda), cung cấp cơ sở đối chiếu cho các quan sát thực nghiệm.
Chương 2: Nội dung và phương pháp nghiên cứu
Nội dung chương trình bày chi tiết quy trình chuẩn bị vật liệu nhân nuôi, thiết bị dụng cụ và quy trình thao tác cho 5 bố trí thí nghiệm đơn yếu tố. Tác giả mô tả chi tiết quy cách lồng mica, hộp nhựa có lưới thép 20 mesh, kỹ thuật cung cấp mật ong pha loãng bằng bông tẩm và quy trình tách nhộng bị ký sinh vào ống nghiệm 5 mL để theo dõi riêng lẻ. Các công thức toán học xác định tỷ lệ nhộng bị ký sinh (%), tỷ lệ nhộng có ong vũ hóa (%), thời gian vũ hóa (ngày), tỷ lệ giới tính đực:cái (%) và quy chuẩn đo đạc kích thước cơ thể côn trùng được quy định chặt chẽ, đảm bảo tính lặp lại của thí nghiệm sinh học.
Chương 3: Kết quả và thảo luận
Chương này trình bày toàn bộ số liệu thu thập được qua 10 bảng số liệu và 12 biểu đồ/hình ảnh minh họa, tập trung giải quyết 3 nhóm nội dung chính:
1. Khả năng lựa chọn tuổi nhộng sâu đầu đen của ong T. pupivorus
Ong T. pupivorus có khả năng ký sinh trên tất cả các độ tuổi nhộng sâu đầu đen từ 1 đến 7 ngày tuổi, tuy nhiên hiệu quả ký sinh và số lượng đàn con vũ hóa có sự phân hóa rõ nét giữa các độ tuổi:
| Chỉ tiêu theo dõi |
Tuổi nhộng |
Điều kiện có sự lựa chọn (TB ± SD) |
Điều kiện không có sự lựa chọn (TB ± SD) |
| Tỷ lệ nhộng bị ký sinh (%) |
1 ngày tuổi |
66,7 ± 28,87 |
50,0 ± 0,00 |
|
3 ngày tuổi |
83,3 ± 28,87 |
100,0 ± 0,00 |
|
5 ngày tuổi |
83,3 ± 28,87 |
83,3 ± 28,87 |
|
7 ngày tuổi |
66,7 ± 28,87 |
66,7 ± 28,87 |
| Tổng số ong vũ hóa (con) |
1 ngày tuổi |
64,0 ± 63,00 |
57,0 ± 20,67 |
|
3 ngày tuổi |
123,7 ± 40,15 |
97,7 ± 64,53 |
|
5 ngày tuổi |
44,0 ± 66,00 |
71,3 ± 43,39 |
|
7 ngày tuổi |
56,0 ± 96,00 |
42,7 ± 38,03 |
| Thời gian vũ hóa (ngày) |
1 ngày tuổi |
19,0 ± 1,00 |
18,7 ± 0,58 |
|
3 ngày tuổi |
17,7 ± 0,57 |
18,5 ± 1,50 |
|
5 ngày tuổi |
18,0 ± 1,00 |
19,0 ± 2,00 |
|
7 ngày tuổi |
18,0 ± 0,00 |
18,8 ± 2,47 |
Số liệu cho thấy nhộng 3 ngày tuổi cho số lượng ong vũ hóa cao nhất và ổn định nhất ở cả hai điều kiện (123,7 con và 97,7 con). Ở nhộng 1 ngày tuổi, lớp vỏ cutin còn mềm, dễ tổn thương cơ học; trong khi ở nhộng 7 ngày tuổi, dịch dinh dưỡng đã chuyển hóa hoàn toàn sang cấu trúc thành trùng của dịch hại, không còn tối ưu cho ấu trùng ong phát triển. Thời gian vũ hóa dao động từ 17,7 đến 19,0 ngày và không có sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê giữa các độ tuổi nhộng.
2. Khả năng lựa chọn ký chủ trên 4 loài nhộng sâu hại
Ong cái T. pupivorus có khả năng ký sinh thành công trên cả 4 loài nhộng thí nghiệm. Tuy nhiên, khả năng nhân nuôi và kích thước hình thái của ong thế hệ con có sự khác biệt rõ rệt tùy thuộc vào loài ký chủ:
| Loài ký chủ nhộng (3 ngày tuổi) |
Số ong vũ hóa - Có lựa chọn (con) |
Số ong vũ hóa - Không lựa chọn (con) |
Chiều dài thân - Không lựa chọn (mm) |
Chiều dài sải cánh - Không lựa chọn (mm) |
Tỷ lệ cá thể cái - Không lựa chọn (%) |
| Sâu đầu đen |
15,0 ± 21,21 |
48,8 ± 13,46 b |
1,47 ± 0,14 b |
2,41 ± 0,11 b |
92,0 ± 1,87 |
| Sâu sáp |
11,6 ± 25,94 |
66,0 ± 32,27 ab |
1,65 ± 0,17 a |
2,59 ± 0,12 a |
91,2 ± 1,79 |
| Ngài gạo |
17,2 ± 28,23 |
71,2 ± 20,89 ab |
1,38 ± 0,08 b |
2,42 ± 0,11 b |
90,9 ± 1,39 |
| Sâu keo mùa thu |
45,8 ± 60,74 |
99,4 ± 33,22 a |
1,72 ± 0,14 a |
2,62 ± 0,14 a |
91,3 ± 2,32 |
Trong điều kiện không có sự lựa chọn, số lượng ong vũ hóa trên sâu keo mùa thu đạt cao nhất (99,4 con), khác biệt có ý nghĩa thống kê so với ký chủ sâu đầu đen (48,8 con). Kích thước cơ thể ong vũ hóa từ nhộng sâu keo mùa thu (thân dài 1,72 mm, sải cánh 2,62 mm) và sâu sáp (thân dài 1,65 mm, sải cánh 2,59 mm) lớn hơn có ý nghĩa thống kê (p < 0,01) so với ong vũ hóa từ sâu đầu đen và ngài gạo. Tỷ lệ giới tính ở tất cả các nghiệm thức đều thiên lệch mạnh về cá thể cái (chiếm từ 89,1% đến 93,1%), cá thể đực chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ từ 6,9% đến 10,9%.
3. Ảnh hưởng của nồng độ mật ong đến các đặc tính sinh học của ong ký sinh
Việc cung cấp thức ăn bổ sung tác động trực tiếp đến sức sống và khả năng sinh sản của ong cái trưởng thành:
| Nghiệm thức thức ăn |
Thời gian vũ hóa (ngày) |
Số ong vũ hóa (con) |
Tuổi thọ ong cái (ngày) |
Tỷ lệ nhộng bị ký sinh (%) |
Tỷ lệ nhộng có ong vũ hóa (%) |
| Đối chứng (không thức ăn) |
18,3 ± 1,23 |
46,2 ± 36,42 b |
4,80 ± 1,09 bc |
65,0 ± 13,69 |
30,1 ± 21,05 |
| Nước cất (0%) |
18,6 ± 0,55 |
53,0 ± 17,49 ab |
4,20 ± 1,64 c |
55,0 ± 20,91 |
24,9 ± 24,00 |
| Mật ong 10% |
19,0 ± 0,00 |
52,6 ± 39,21 ab |
5,00 ± 1,87 bc |
60,0 ± 13,69 |
30,0 ± 11,32 |
| Mật ong 20% |
17,8 ± 0,83 |
85,0 ± 29,80 ab |
8,40 ± 1,51 a |
80,0 ± 27,38 |
30,0 ± 11,18 |
| Mật ong 30% |
18,4 ± 2,04 |
89,6 ± 65,09 ab |
8,60 ± 1,34 a |
80,0 ± 11,18 |
34,9 ± 13,90 |
| Mật ong 50% |
17,6 ± 0,82 |
107,6 ± 31,16 ab |
7,00 ± 1,73 ab |
85,0 ± 33,54 |
35,0 ± 13,69 |
| Mật ong 70% |
18,2 ± 1,36 |
122,2 ± 36,91 a |
6,40 ± 1,67 abc |
75,0 ± 25,00 |
40,1 ± 13,74 |
Nồng độ mật ong không ảnh hưởng đến thời gian vũ hóa (dao động từ 17,6 đến 19,0 ngày), nhưng kéo dài đáng kể tuổi thọ của ong cái. Tuổi thọ đạt giá trị tối ưu ở nồng độ mật ong 20% (8,40 ngày) và 30% (8,60 ngày), cao gần gấp đôi so với nghiệm thức đối chứng (4,80 ngày) và nước cất (4,20 ngày). Khi nồng độ mật ong tăng lên 50% và 70%, độ nhớt cao làm ong dễ bị dính dính cánh và khó hấp thụ, khiến tuổi thọ có xu hướng giảm (còn 6,40 - 7,00 ngày). Số lượng ong con vũ hóa đạt cao nhất ở nghiệm thức mật ong 70% (122,2 con), vượt trội có ý nghĩa so với đối chứng (46,2 con). Tỷ lệ nhộng sâu sáp bị ký sinh đạt mức cao từ 75% đến 85% ở các nồng độ từ 20% trở lên, nhưng tỷ lệ nhộng thực tế có ong vũ hóa chỉ dao động từ 24,9% đến 40,1% do hiện tượng ấu trùng ong bị chết ngạt hoặc ký sinh quá mức bên trong ký chủ.
Kết quả và đóng góp của đề tài
Kết quả nghiên cứu đã xác định cụ thể các thông số sinh học định lượng phục vụ công tác ứng dụng thiên địch:
- Xác định được nhộng sâu đầu đen 3 ngày tuổi là độ tuổi thích hợp nhất để ong T. pupivorus ký sinh, đạt tỷ lệ ký sinh 100% trong điều kiện không lựa chọn và sản sinh số lượng cá thể vũ hóa cao nhất (123,7 con/nhộng khi có lựa chọn và 97,7 con/nhộng khi không lựa chọn).
- Chứng minh khả năng sử dụng nhộng sâu keo mùa thu (Spodoptera frugiperda) và sâu sáp (Galleria mellonella) làm ký chủ nhân tạo thay thế hiệu quả cho sâu đầu đen. Sâu keo mùa thu cho năng suất nhân nuôi cao nhất (99,4 con vũ hóa/nhộng) và kích thước cá thể ong lớn nhất (thân dài 1,72 mm; sải cánh 2,62 mm).
- Xác định nồng độ mật ong tối ưu bổ sung cho ong trưởng thành là 20% đến 30%, giúp nâng cao tuổi thọ ong cái lên 8,40 - 8,60 ngày mà không làm thay đổi thời gian phát triển thế hệ sau.
- Tỷ lệ giới tính của ong vũ hóa luôn đạt ưu thế cái cao (>88% - 93%), tạo lợi thế lớn cho việc tăng nhanh kích thước quần thể khi phóng thích ngoài đồng ruộng.
Các kiến nghị thực tiễn được tác giả đề xuất:
- Trong quy trình nhân nuôi hàng loạt T. pupivorus, nên thu thập và sử dụng nhộng sâu đầu đen ở giai đoạn 3 đến 5 ngày tuổi; trường hợp thiếu hụt ký chủ tự nhiên, có thể thay thế bằng nhộng sâu keo mùa thu hoặc sâu sáp 3 ngày tuổi.
- Sử dụng dung dịch mật ong pha loãng ở nồng độ 20% - 30% làm thức ăn thêm thường xuyên cho ong trưởng thành trong quá trình nhân nuôi sinh sản.
- Đóng góp khoa học: Cung cấp dẫn liệu sinh học thực nghiệm đầu tiên tại Việt Nam về mối quan hệ giữa ong ký sinh nhộng Trichospilus pupivorus với loài dịch hại mới xâm nhập Opisina arenosella và các loài ký chủ thay thế phổ biến, đặt nền tảng sinh học cho quy trình kiểm soát sinh học sâu đầu đen tại vùng trồng dừa Nam Bộ.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo
Các hạn chế được văn bản đề cập hoặc ghi nhận từ phạm vi đề tài:
- Toàn bộ thí nghiệm mới chỉ thực hiện trong điều kiện phòng thí nghiệm với nhiệt độ và độ ẩm cố định (28 ± 2°C, 70 ± 5%), chưa đánh giá được biến động của các yếu tố ngoại cảnh thực tế ngoài vườn dừa (mưa, nắng, gió, dư lượng thuốc bảo vệ thực vật).
- Nghiên cứu chỉ mới khảo sát trên 1 độ tuổi cố định (3 ngày tuổi) đối với 3 loài ký chủ phụ (sâu sáp, ngài gạo, sâu keo mùa thu), chưa mở rộng khảo sát các giai đoạn tuổi khác của các loài này.
- Thí nghiệm chưa đi sâu phân tích thành phần hóa sinh chi tiết của mật ong và hàm lượng dinh dưỡng định lượng bên trong dịch cơ thể từng loại ký chủ.
- Tỷ lệ ong đực vũ hóa trong các nghiệm thức rất thấp (dưới 12%), đề tài chưa đánh giá chi tiết khả năng giao phối và tỷ lệ thụ tinh thành công của quần thể qua nhiều thế hệ nối tiếp.
Hướng nghiên cứu mở rộng được đề xuất:
- Tiến hành các nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng của mật độ ong ký sinh tương ứng với thể tích và khối lượng của từng loại nhộng ký chủ để tối ưu hóa tỷ lệ sống sót của ấu trùng bên trong vỏ nhộng.
- Khảo nghiệm khả năng tìm kiếm ký chủ và hiệu lực ký sinh của T. pupivorus ngoài vườn dừa thực tế tại Bến Tre.
- Nghiên cứu sâu hơn về tập tính sinh học giao phối của ong đực và đánh giá hiện tượng ký sinh quá mức (superparasitism) nhằm hạn chế tỷ lệ ấu trùng ong chết ngạt trong nhộng sâu sáp.
Giá trị tham khảo và ứng dụng thực tiễn
Khóa luận có giá trị tham khảo khoa học và ứng dụng thực tế rõ ràng cho các nhóm đối tượng sau:
- Sinh viên và học viên chuyên ngành Bảo vệ Thực vật, Côn trùng học ứng dụng và Nông học: Tài liệu cung cấp phương pháp bố trí thí nghiệm chuẩn mực về tập tính lựa chọn ký chủ của côn trùng ký sinh (bố trí có lựa chọn song song với không lựa chọn), các công thức chuyển đổi dữ liệu thống kê sinh học (arcsin, căn bậc hai, logarit) và kỹ thuật xử lý phân tích ANOVA trên phần mềm SAS.
- Cán bộ kỹ thuật và các đơn vị nghiên cứu nhân nuôi thiên địch: Cung cấp thông số kỹ thuật trực tiếp để xây dựng quy trình nhân nuôi hàng loạt (mass-rearing) ong T. pupivorus: tỷ lệ ghép cặp, nồng độ thức ăn bổ sung tối ưu (mật ong 20% - 30%), lựa chọn ký chủ thay thế dễ nuôi trong phòng thí nghiệm như sâu sáp (G. mellonella) và sâu keo mùa thu (S. frugiperda).
- Cơ quan quản lý nông nghiệp và Chi cục Trồng trọt & BVTV các tỉnh trồng dừa (đặc biệt là Bến Tre, Trà Vinh, Tiền Giang): Dữ liệu là căn cứ khoa học đáng tin cậy để thẩm định và phê duyệt các chương trình quản lý dịch hại tổng hợp (IPM), xây dựng mô hình phóng thích thiên địch sinh học dập dịch sâu đầu đen hại dừa thay thế biện pháp phun rải thuốc hóa học.
Câu hỏi thường gặp
1. Tại sao nhộng sâu đầu đen 3 ngày tuổi lại là đối tượng ký sinh tối ưu nhất của ong T. pupivorus?
Trong điều kiện thực nghiệm, nhộng sâu đầu đen 3 ngày tuổi cho tỷ lệ nhộng bị ký sinh đạt tuyệt đối 100% (ở thí nghiệm không lựa chọn) và số lượng ong vũ hóa cao nhất (123,7 con ở thí nghiệm có lựa chọn và 97,7 con ở thí nghiệm không lựa chọn). Nguyên nhân là do ở 1 ngày tuổi, lớp vỏ nhộng chưa đủ độ cứng cáp và dễ bị tổn thương cơ học; còn ở 7 ngày tuổi, nhộng đã bước vào giai đoạn cuối, dưỡng chất bị tiêu hao phần lớn để hình thành các cơ quan của thành trùng sâu hại, làm giảm giá trị dinh dưỡng cho ấu trùng ong phát triển.
2. Ký chủ thay thế nào cho hiệu quả nhân nuôi ong T. pupivorus tốt nhất về số lượng và kích thước cá thể?
Nhộng sâu keo mùa thu (Spodoptera frugiperda) là ký chủ thay thế cho kết quả tốt nhất. Khi không có sự lựa chọn, số lượng ong vũ hóa trên sâu keo mùa thu đạt trung bình 99,4 cá thể/nhộng, vượt trội so với sâu đầu đen (48,8 con). Kích thước ong vũ hóa từ sâu keo mùa thu cũng lớn nhất với chiều dài thân đạt 1,72 mm và chiều dài sải cánh đạt 2,62 mm, tương đương với kích thước ong nuôi trên sâu sáp (thân 1,65 mm, cánh 2,59 mm) và lớn hơn có ý nghĩa thống kê so với ong nuôi trên sâu đầu đen (thân 1,47 mm, cánh 2,41 mm).
3. Tỷ lệ giới tính của ong T. pupivorus vũ hóa từ các ký chủ có đặc điểm gì?
Tỷ lệ giới tính của ong T. pupivorus ở tất cả các nghiệm thức ký chủ đều thiên lệch rất mạnh về con cái. Cá thể cái chiếm tỷ lệ từ 89,1% đến 93,1%, trong khi cá thể đực chỉ chiếm từ 6,9% đến 10,9%. Tỷ lệ này hoàn toàn phù hợp với các ghi nhận sinh học trước đây của Anantanarayanan (1934). Tỷ lệ cái cao là một lợi thế sinh học lớn giúp gia tăng nhanh chóng số lượng cá thể có khả năng đẻ trứng và tiêu diệt dịch hại khi nhân nuôi và thả ra môi trường.
4. Vì sao nồng độ mật ong 20% - 30% được xác định là tối ưu cho ong trưởng thành thay vì các nồng độ cao hơn?
Ở nồng độ mật ong 20% và 30%, tuổi thọ của ong cái kéo dài nhất, đạt trung bình lần lượt là 8,40 ngày và 8,60 ngày (so với 4,80 ngày ở đối chứng không ăn và 4,20 ngày ở nước cất). Mặc dù nồng độ mật ong 70% kích thích số lượng ong vũ hóa đạt 122,2 con, nhưng nồng độ đường quá đậm đặc làm tăng độ nhớt của dung dịch, khiến ong dễ bị dính cánh, khó khăn trong việc vận động và hút thức ăn, dẫn đến tuổi thọ ong cái bị suy giảm (chỉ còn 6,40 ngày). Do đó, nồng độ 20% - 30% là mức cân bằng dinh dưỡng và an toàn thể chất tốt nhất.
5. Việc bổ sung mật ong có làm biến đổi thời gian sinh trưởng và vũ hóa của ong ký sinh không?
Số liệu thực nghiệm cho thấy nồng độ mật ong không có ảnh hưởng mang ý nghĩa thống kê đến thời gian vũ hóa của ong T. pupivorus. Thời gian từ khi ong cái ký sinh đến khi thế hệ con vũ hóa ở tất cả các nghiệm thức (từ đối chứng, nước cất đến mật ong 70%) đều ổn định trong khoảng từ 17,6 đến 19,0 ngày. Mật ong đóng vai trò cung cấp dinh dưỡng duy trì sự sống và năng lượng sinh sản cho ong cái trưởng thành chứ không can thiệp vào tiến trình phát triển phôi và ấu trùng bên trong vỏ nhộng ký chủ.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lê Thị Ngọc Ánh đã giải quyết thành công các mục tiêu thực nghiệm về đặc tính lựa chọn ký chủ và nhu cầu dinh dưỡng bổ sung của loài ong ký sinh nhộng Trichospilus pupivorus. Nghiên cứu xác định nhộng sâu đầu đen 3 ngày tuổi là đối tượng thích hợp nhất cho ong ký sinh, đồng thời chứng minh nhộng sâu keo mùa thu và sâu sáp là hai nguồn ký chủ thay thế tiềm năng với số lượng và kích thước ong vũ hóa vượt trội. Việc bổ sung mật ong ở nồng độ 20% - 30% giúp kéo dài tuổi thọ ong cái lên mức tối ưu (8,40 - 8,60 ngày) mà không làm thay đổi chu kỳ vũ hóa. Toàn bộ các kết quả định lượng này đóng góp cơ sở khoa học và thông số kỹ thuật thực tiễn quan trọng cho việc hoàn thiện quy trình nhân nuôi hàng loạt thiên địch, hướng tới kiểm soát sinh học bền vững sâu đầu đen hại dừa tại tỉnh Bến Tre và vùng Đồng bằng sông Cửu Long.