Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI VÀ TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài Số lượng cá thể của những loài côn trùng bắt mồi, côn trùng ký sinh trong tự nhiên là tài nguyên vô giá, dưới những điều kiện cho phép chúng luôn có vai trò hạn chế tối đa số lượng sâu hại. Theo Vũ Quang Côn và ctv (2001) [3] bảo vệ, phát triển và lợi dụng các thế năng sinh học của chúng trên cơ sở điều hoà sinh quần đồng ruộng còn lớn hơn rất nhiều lần những quần thể được nhân nuôi và thả ra từ các phòng thí nghiệm sinh học. Trương Xuân Lam và ctv (2004) [18] cho rằng trong những loài thiên địch của sâu hại cây trồng nói chung, sâu hại đậu rau nói riêng các loài côn trùng bắt mồi trong đó phải kể đến nhóm bọ xít bắt mồi giữ vai trò quan trọng.
Vật mồi của các loài bọ xít bắt mồi là nhiều loại côn trùng gây hại trên các cây trồng nông nghiệp, công nghiệp và lâm nghiệp quan trọng thuộc bộ Cánh phấn (Lepidoptera), bộ Cánh khác (Heteroptera), bộ Cánh thẳng (Othoptera). Ở Việt Nam trên nhiều loại cây trồng đặc biệt cây rau sự tăng nhanh cả về mức độ và phạm vi gây hại có liên quan với việc áp dụng các khoa học kỹ thuật tiến bộ, như sử dụng giống mới, mở rộng canh tác, sử dụng phân bón và đặc biệt việc lạm dụng thuốc hóa học trừ sâu. Trong đó cây đậu rau là loại cây trồng thể hiện rõ nhất, dễ nhìn thấy và tác động tới sức khỏe con người, vật nuôi trực tiếp, nhanh nhất. Việc phòng trừ sâu hại trên cây đậu rau bằng biện pháp phun thuốc hóa học chỉ có tác dụng nhìn thấy sâu hại chết ngay, tuy nhiên nó sẽ gây ra những hậu quả nghiêm trọng cho sức khỏe cộng đồng.
Xu hướng chính trong bảo vệ thực vật là quản lý tổng hợp dịch hại cây trồng (IPM) mà việc sử dụng biện pháp sinh 8 học thay thế biện pháp sử dụng thuốc hoá học trừ sâu hại là then chốt, trong đó những hướng đang được ưu tiên, quan tâm và ứng dụng rộng rãi là bảo vệ, duy trì và lợi dụng các loài thiên địch, đồng thời nghiên cứu các biện pháp để nhân nuôi thả chúng ra ngoài đồng ruộng. Vũ Quang Côn và ctv (1994) [2] chỉ rõ đến nay Việt Nam đã có một số thành công trong nghiên cứu ứng dụng và nhân thả một số loài côn trùng bắt mồi trong việc phòng trừ sâu hại một số loại cây trồng, như sử dụng bọ xít bắt mồi (Orius sauteri) phòng trừ bọ trĩ hại dưa chuột, lợi dụng bọ xít hoa bắt mồi Cantheconidea furcellata phòng trừ sâu hại trên cây bông đay. Trương Xuân Lam và ctv (2004) [18], Vũ Quang Côn và ctv (2007) [5] cho rằng nghiên cứu và lợi dụng các loài bọ xít cổ ngỗng Sycanus falleni và Sycanus croceovittatus phòng trừ một số loài sâu hại chính trên cây bông và đậu tương ở một số tỉnh miền Bắc Việt Nam. Tuy nhiên, những nghiên cứu này, nhất là nghiên cứu về nhân thả một số loài côn trùng bắt mồi trên cây đậu rau còn chưa được quan tâm đúng mức, ngoại trừ một số nghiên cứu về sinh học, sinh thái và vai trò của một số loài bọ rùa bắt mồi trong việc phòng trừ rệp muội trên rau họ hoa thập tự.
Cây đậu rau là cây thực phẩm quan trọng trong đời sống con người và càng ngày chứng tỏ là cây trồng có giá trị không chỉ trong vai trò là thức ăn mà còn có giá trị bổ dưỡng, điều hòa cơ thể con người. Chính vì vậy, đậu rau đã được trồng rộng rãi ở rất nhiều nơi trong cả nước nói chung và Hà Nội nói riêng. Ở Hà Nội đang hình thành các vùng sản xuất tập trung với quy mô lớn nhiều loại cây trồng trong đó có vùng trồng rau. Theo Sở NN&PTNT Hà Nội năm 2010 [29] có nhiều vùng sản xuất rau tập trung đang nhân rộng và phát triển ở Ðông Anh, Gia Lâm, Mê Linh, Hoài Đức,.
Những năm gần đây cây đậu rau thường xuyên bị một số loài sâu hại chính tấn công gây hại từ đầu vụ 9 đến cuối vụ, đã gây nên những tổn thất nặng nề cho vùng trồng đậu rau, một số nơi năng suất chỉ còn đạt 8-10 tạ/ha, có lúc đã gây ra hiện tượng thiếu đậu rau cung cấp cho thành phố Hà Nội và các vùng phụ cận. Bùi Sĩ Doanh và ctv (1995) [7] cho rằng để bảo vệ cây đậu rau và tăng năng suất, hiện nay ở các vùng trồng cây đậu rau ở Hà Nội, biện pháp được sử dụng phổ biến nhất để trừ các loài sâu hại là sử dụng thuốc hóa học. Do thời gian sinh trưởng của cây không dài, sâu hại nhiều nên người dân trồng rau ở Hà Nội đã sử dụng nhiều loại thuốc hóa học có tính độc hại cao, có loại không rõ nguồn gốc với số lần phun thuốc từ 8-10 lần/vụ đậu rau, khoảng cách giữa các lần phun 5-7 ngày. Chính vì vậy, ảnh hưởng của thuốc hóa học đã và đang để lại rất nhiều hậu quả trực tiếp cho người tiêu dùng, hơn thế thuốc còn xâm nhập vào đất, nước, tồn dư trong sản phẩm gây lên những ảnh hưởng lâu dài, phá vỡ cân bằng sinh thái và tiêu diệt nhiều loài côn trùng có ích trên đồng ruộng, con người bị tổn hại sức khoẻ thông qua nhiễm độc do hít thở và do nông sản nhiễm độc.
Theo Con Vu Quang et., (2001) [48] cho đến nay việc thương mại hoá của các loại thuốc trừ sâu sinh học được sản xuất từ các tác nhân bản địa hầu như chưa được phát triển, ngoại trừ một số thuốc như NPV, BT được sản xuất và tiêu thụ ở mức độ thấp. Ngoài những cản trở trên, sự thiếu các nguồn đầu tư chủ chốt là nguyên nhân rất căn bản. Vì vậy, chúng ta phải tìm ra những biện pháp bảo vệ cây đậu rau nhưng hạn chế thấp nhất sự gây ô nhiễm môi trường, giảm sử dụng thuốc bảo vệ thực vật mà vẫn đem lại hiệu quả kinh tế cao. Nguyễn Văn Cảm (1994) [1] cho rằng một trong những biện pháp luôn luôn được áp dụng đó là biện pháp sinh học, muốn thực hiện được biện pháp này cần điều tra, nghiên cứu các loài thiên địch trong tự nhiên, đặc biệt các loài côn trùng bắt mồi có vị trí rất quan trọng.
Như chúng ta đã biết biện pháp 10 sinh học phòng chống sâu hại trước hết dựa vào việc sử dụng các loài thiên địch có sẵn trong mỗi hệ sinh thái nông nghiệp. Trương Xuân Lam và ctv (2004) [18] cho thấy trong những năm qua, chương trình quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) trên các cây trồng như: cây lúa, cây bông, cây đậu tương, cây ngô, cây lạc và cây rau (chủ yếu cây rau họ hoa thập tự) đã được áp dụng, tuy nhiên việc điều tra các loài côn trùng bắt mồi trong đó có các loài bọ xít bắt mồi trên cây đậu rau chưa được tiến hành một cách có hệ thống. Muốn phát triển biện pháp sinh học để phòng chống sâu hại đạt hiệu quả chúng ta cần xác định thành phần thiên địch của chúng, xác định đặc điểm sinh học, sinh thái học của loài thiên địch có ý nghĩa, đặc biệt các loài bắt mồi sâu hại trên các cây trồng trong hệ sinh thái đồng ruộng ở nước ta, đặc biệt nhóm loài bọ xít bắt mồi trên cây đậu rau ở Hà Nội là rất cần thiết. Chúng không những góp phần duy trì tính đa dạng sinh học, sự cân bằng sinh thái, bảo vệ môi trường sinh thái mà còn giảm thiểu số lần phun thuốc hóa học ở các vùng trồng rau, nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, tạo ra những sản phẩm đậu rau an toàn cung cấp cho Thủ đô Hà Nội và vùng phụ cận.
Tổng quan tài liệu 1. Tình hình nghiên cứu ở ngoài nước 1. Nghiên cứu về thành phần loài của BXBM thuộc bộ Heteroptera Trên thế giới, đặc biệt ở các nước phát triển việc định danh thiên địch nói chung các loài bắt mồi sâu hại nói riêng do các chuyên gia phân loại tiến hành nên công việc có phần thuận lợi. Các kết quả nghiên cứu về loài bọ xít bắt mồi (BXBM) phải kể đến những công trình nghiên cứu về thành phần loài có liên quan tới khu hệ BXBM ở vùng Đông Phương - Ấn Độ và các nước lân cận với Việt Nam mà điển hình là những nghiên cứu 11 của các tác giả Ấn Độ như Distant (1904, 1910) [50, 51] đã mô tả và phân loại hình thái 422 loài bọ xít bắt mồi, trong đó 322 loài thuộc họ bọ xít ăn sâu Reduviidae.
Ở Đông Dương, Vitalis (1919) [84] đã công bố 14 loài BXBM bao gồm họ Reduviidae có 11 loài thuộc 9 giống, họ Nabidae có 1 loài, họ Pentatomidae có 2 loài thuộc giống Cazira và Dalpada. Dẫn theo Price (1975) [78] ở Trung Quốc cho đến năm 1971, đã ghi nhận được 820 loài côn trùng bắt mồi trong đó có gần 200 loài thuộc nhóm bọ xít bắt mồi. Livingstone et al., (1992, 1998) [65, 66] đã xây dựng khóa định loại cho phân họ và các giống của họ Reduviidae ở miền nam Ấn Độ, tác giả cũng đã mô tả 82 loài thuộc họ bọ xít ăn sâu họ Reduviidae và mô tả chi tiết hình thái của một số loài thuộc giống ghi nhận mới. Masaaki (1993) [69] chỉ rõ trong 126 loài bọ xít trên cánh đồng ghi nhận được ở Nhật bản, có 72 loài bọ xít bắt mồi được minh họa bằng hình ảnh và mô tả một số con mồi của chúng.
Murugan and Livingstone., (1995) [72] xây dựng khóa định loại đến loài của 65 loài bọ xít bắt mồi thuộc 8 họ và một số giống cũng đã được mô tả chi tiết và minh họa bằng hình ảnh. Tác giả đã mô tả 7 giống ghi nhận mới cho khu vực nghiên cứu. Randall et al., (1995) [80] đã thống kê các loài bọ xít ăn sâu Reduviidae trên thế giới cho rằng có khoảng 6500 loài thuộc 930 giống trong 22 phân họ. Ishikawa and Tomokuni., (2004) [57] nghiên cứu mô tả chi tiết và công bố cho khoa học giống mới Cosmosycanus.
Yu Jin yong et al., (2004) [89] đã mô tả và ghi nhân 1 giống mới Duriocoris Miller thu thập ở Trung Quốc và mô tả một loài mới cho khoa học. 12 Yonglin Han et al., (2005) [88] cho rằng các loài thuộc giống Duriocoris Miller ở Trung Quốc được nghiên cứu, trong đó 2 loài được ghi nhận, mô tả, minh họa và xây dựng khoá định loại cho 2 loài của giống này. Loài Duriocoris geniculatus đã được mô tả lại như một loài mới. Ping Zhao et al.