CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1 Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Trà My 1. TỔNG QUAN VỀ CÂY THUỐC DÒI 1.1 Giới thiệu chung 1.1 Phân loại cây Thuốc Dòi Theo hệ thống phân loại của tác giả Takhtajan (2009), dược liệu thuốc dòi được phân loại như sau: Giới: Plantae Ngành: Spermatophyta Phân lớp: Dilleniidae Liên bộ: Malvanae Bộ: Urticales Họ: Urticaceae Chi: Pouzolzia Loài: Pouzolzia zeylanica (L. Cây thuốc dòi 2 Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Trà My 1. Tên gọi khác Trong dân gian, cây thuốc dòi còn có tên gọi khác là cây bọ mắm.
Tên khoa học Pouzolzia zeylanica Benn. (Pouzolzia indiza Gaud. Thuộc họ Gai Urticaceae. [14] • Tên tiếng Anh: Graceful pouzolzbush.
• Tên tiếng Pháp: Pouzolzie de Ceylan. • Tên tiếng Nga: Pouzolzia tseylonskaya. • Tên tiếng Sudan: Jukut krinching. • Tên tiếng Tamil: Kallurki.
Phân bố sinh thái Thuốc dòi là cây ưa ấm, hơi chịu bóng, thường mọc lẫn các loại cây khác trong vườn, ven đường đi và vùng nương rẫy. Cây phân bố rộng rãi khắp đồng bằng, trung du của vùng núi. Tập trung nhiều ở các quốc gia nhiệt đới như Việt Nam, Trung Quốc, Lào, Thái Lan, Ấn Độ. Tác dụng dược lý của cây thuốc dòi Người ta thường dùng cả phần trên mặt đất lẫn phần dưới mặt đất của cây thuốc dòi.
Tất cả đều được sử dụng. theo y học cổ truyền và các nghiên cứu hiện đại, cây thuốc dòi thường được sử dụng trị: • Cảm ho hoặc ho lâu ngày, viêm họng, bệnh về phổi. • Nhiễm trùng đường tiết niệu, bí tiểu tiện. • Nấm da cứng.
• Dùng ngoài trị mụn nhọt, viêm mủ da. Tác dụng kháng nấm, kháng khuẩn Tại trường đại học Chitagong, Băng la đét nhiều nghiên cứu về hoạt tính kháng khuẩn của dịch chiết cồn Pouzolzia zeylanica (L. Bằng phương pháp đĩa cho thấy dịch chiết nồng độ 1 mg/ml cho hoạt tính kháng khuẩn trên cả vi khuẩn gram dương lẫn gram âm như: Bacillus subtilis, Bacillus megaterium, Staphylococcus aureus, Pseudomonas aeruginosa, Escherichia coli, Shigella và Salmonella typhi dysentariae. Đặc biệt là hoạt tính kháng khuẩn tốt đối với Staphylococcus aureus và 3 Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Trà My Escherichia coli [18].
Tính kháng khuẩn trên 2 chủng này cũng đã được đề cập đến trong nghiên cứu của Lê Thanh Thủy (2007), tính chất này được thử trên các hoạt chất đã được phân lập từ Pouzolzia zeylanica là vixetin và isovixetin [9]. Saha và cộng sự (2012) đã tiến hành thử hoạt tính kháng nấm của dịch chiết cồn thuốc dòi (Pouzolzia zeylanica (L.) bằng phương pháp khuếch tán. Kết quả cho thấy khả năng ức chế tốt các dòng nấm với vùng ức chế từ 7-26 mm. Aspergillus niger là dòng nấm nhạy cảm nhất với dịch chiết này [20].
Theo Võ Thị Tú Anh và cộng sự, (2017) thì cao chiết từ Thuốc Dòi đều cho hoạt tính kháng E. aureus tốt hơn kháng sinh amoxicillin ở tất cả các nồng độ khảo sát với 40 μg/mL <MIC≤ 80 μg/mL.[15] Theo nghiên cứu của Saha và cộng sự. (2012), cao chiết ethanol cây thuốc dòi khô được trồng tại Bangladesh đã được chứng minh có hoạt tính kháng khuẩn chống lại cả vi khuẩn Gram dương và vi khuẩn Gram âm như Bacillus subtilis, Bacillus megaterium, Staphylococcus aureus, Pseudomonas aeruginosa, Escheruchia coli, Shigella dysentariae và Salmonella typhi (Saha et al. Tác dụng kháng viêm Thuốc dòi (Pouzolzia zeylanica (L.) có khả năng viêm tốt.
Các nghiên cứu từ trường Đại học Dược Quảng Đông cho thấy khả năng giảm khối áp xe gây ra bởi Staphylococcus aureus trên chuột. Cũng tại đây, người ta tiến hành thử nghiệm tương tự trên chuột bị loét da do Staphylococcus aureus. Thuốc dòi (Pouzolia zeylanica (L.) cho thấy khả năng giảm sưng, làm lành vết loét nhờ khả năng làm giảm Interleukin-1. Các dịch chiết từ Pouzolzia zeylanica var.
Microphylla có tác dụng chống viêm và giảm đau đặc biệt ở các phân đoạn dịch chiết chloroform, n- butanol và nước. 4 Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Trà My 1. Tác dụng chống oxy hóa Li và cộng sự. (2011) đã chiết xuất bằng nhiều dung môi trên Pouzolzia zeylanica như aceton, etyl acetat, ete dầu hỏa với hai trường hợp chiết xuất ở nhiệt độ thường và nhiệt độ lạnh.
Nhóm tác giả đã chứng minh rằng, hoạt tính chống oxy hóa được thể hiện rõ trên dịch chiết etyl acetat, chiết xuất lạnh. Hoạt tính chống oxy hóa khá mạnh tỉ lệ với hàm lượng phenol toàn phần trong dịch chiết [17]. Trên thế giới, đã có một số công trình khoa học đã nghiên cứu về thành phần hóa học của thuốc dòi (P.,) cho thấy chúng chứa các chất chuyển hóa thứ cấp bao gồm: alkaloid, flavonid, triterpenoid, anthraquinon, tannin, steroid và saponin (Saha và cộng sự, 2012). Trong đó, hợp chất flavonoid là thành phần được biết đến với hoạt tính kháng khuẩn (Luuisa và Irene, 2012) và kháng oxy hóa mạnh (Pietta, 2000).
Hoạt tính kháng oxy hóa và kháng khuẩn của những cao chiết thực vật có thể là do hàm lượng polyphenol và flavonoid. Các hợp chất polyphenol là các thành phần quan trọng của thực vật vì khả năng trung hòa gốc tự do nhờ các nhóm hydroxyl (Yi và cộng sự, 2007). Các chất chiết xuất từ trái cây, thảo dược, rau củ, ngũ cốc và các vật liệu thực vật khác giàu polyphenol và flavonoid ngày càng được sử dụng trong ngành công nghiệp thực phẩm vì tính chất kháng oxy hóa và kháng khuẩn. Tác dụng lợi tiểu Tác dụng lợi tiểu được ứng dụng từ lâu đời theo kinh nghiệm dân gian.
Tác dụng này được nhắc đến nhiều trong các sách về Đông y và dược liệu. Tổng quan về hoạt chất sinh học 1. Tính chất và vai trò của anthocyanin Các anthocyanin thuộc nhóm các chất màu tự nhiên tan trong nước lớn nhất trong giới thực vật. Anthocyanin không chỉ có màu xanh mà còn mang đến cho thực vật nhiều màu sắc rực rỡ khác như hồng, đỏ, cam và các gam màu trung gian.
Các anthocyanin khi mất hết nhóm đường được gọi là anthocyanidin hay aglycon. Mỗi anthocyanidin có thể bị glycosyl hóa bởi các loại đường và các acid khác tại các vị trí khác nhau. Vì thế, hàm hượng anthocyanin lớn hơn anthocyanidin từ 15-20 lần. 5 Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Trà My Anthocyanin thuộc nhóm các hợp chất flavonoid, có khả năng hòa tan trong nước và chứa trong các không bào.
Về bản chất, các anthocyanin là hợp chất glycoside của các dẫn xuất polyhydroxyl và polymethoxyl cùa 2-phenylbenzopyrylium hoặc muối flavylium. Trong tự nhiên, anthocyanin rất hiếm khi ở trạng thái tự do. Nhóm hydroxyl tự do ở vị trí C-3 làm cho phân tử anthocyanin trở nên không ổn định và làm giảm khả năng hòa tan của nó so với anthocyanin tương ứng. Vì vậy, sự glycosyl hóa luôn diễn ra đầu tiên ở vị trí 3-hydroxyl.
Nếu có thêm một phân tử đường nữa thì vị trí tiếp theo bị glycosyl hóa thường gặp nhất là ở C-5. Ngoài ra sự glycosyl hóa còn có thể gặp ở vị trí C-7, C-3, C-5. Anthocyanin tinh khiết ở dạng tinh thể hoặc vô định hình là hợp chất phân cực nên tan tốt trong dung môi phân cực. Màu sắc của anthocyanin luôn thay đổi phụ thuộc vào pH môi trường.
thông thường khi pH nhỏ hơn 7 các anthocyanin có màu đỏ, khi pH lớn hơn 7 thì có màu xanh. Ở pH các anthocyanin thường ở dạng muối oxinium màu cam đến đỏ, ở pH 4÷5 chúng có thể chuyển về dạng bazơ chalcon không màu, ở pH 7÷8 lại về dạng bazơ quinondial anhydro màu xanh. Anthocyanin có bước sóng hấp thu trong miền nhìn thấy, đạt cực đại tại bước sóng 510÷540nm. Độ hấp thu có liên quan mật thiết đến màu sắc của anthocyanin phụ thuộc vào pH dung dịch, nồng độ anthocyanin.
Thường pH thuộc vùng acid mạnh có độ hấp thu lớn, nồng độ anthocyanin càng lớn độ hấp thu càng mạnh. Anthocyanin hiếm khi tìm thấy trong tự nhiên. Chúng xuất hiện trong hoa quả và nhiều trong các loại quả berry chủ yếu ở dạng glycosyl hóa. Anthocyanin ổn định và hóa tan trong nước hơn anthocyanidin bởi vì anthocyanin có gốc đường ở vị trí 3’- thường là glucose, sự hiện diện của đường này giúp anthcyanin hòa tan tốt trong nước, nếu đường bị thủy phân hoặc bị mất thì giảm tính hòa tan, làm mất ổn định.
Sự ổn định màu sắc của anthocyanin chịu tác dụng mạnh mẽ bởi các yếu tố như pH, nhiệt độ, dung môi, nồng độ và cấu trúc của anthocyanin, oxy, ánh sáng, enzyme,. Các đơn vị glycosyl và các nhóm acyl liên kết với aglycon, các vị trí của các nhóm hydroxyl và methoxyl trong aglycon cũng ảnh hưởng đến biến đổi hóa học 6 Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Trà My của phân tử màu. Các anthocyanin ổn định trong môi trường acid hơn trong môi trường kiềm. Tuy nhiên, nó cũng được biết đến như một chất chỉ thị màu trong vùng pH 1÷ 14.
Trong môi trường pH khác nhau, anthocyanin sẽ thay đổi thành các dạng ion có màu sắc khác nhau. Ngày nay, mối quan tâm về sắc tố anthocyanin được đẩy mạnh vì chúng mang lại lợi ích sức khỏe trong chế độ ăn uống như chất chống oxy hóa. Ngoài việc truyền màu sắc thu hút các loại côn trùng giúp cho sự thụ phấn của thực vật diễn ra tốt anthocyanin còn được biết là có tính năng tăng cường sức khỏe khác nhau như chất chống oxy hóa, chống hoạt động viêm và chống bệnh tiểu đường. Tính chất và vai trò của polyphenol Polyphenol là hợp chất mà phân tử của chúng chứa nhiều vòng benzene, trong đó có một, hai hoặc nhiều hơn hai nhóm hydroxyl.
Dựa vào đặc trưng của cấu tạo hóa học người ta chia các hợp chất polyphenol thành ba nhóm chính: • Acid gallic • Acid cafeic • Catechin, flavonoid Các polyphenol có chứa gốc pyrocatechic hoặc pyrogallic nên chúng có thể tham gia phản ứng oxy hóa – khử, phản ứng cộng và ngưng tụ. • Phản ứng oxy hóa – khử: dưới tác dụng của enzyme polyphenol oxydase các polyphenol bị oxy hóa thành các quinone. • Phản ứng cộng: khi có mặt các acid amin các quinone tiến hành phản ứng cộng với acid amin tạo thành các orthoquinone tương ứng. • Phản ứng ngưng tụ: các orthoquinone này dễ dàng ngưng tụ với nhau tạo thành các sản phẩm có màu gọi chung là flobafen.
Các polyphenol là một trong những nhóm sản phẩm trao đổi chất bậc hai chủ yếu của thực vật, rất đa dạng về cấu trúc và chức năng. Polyphenol bảo vệ thực vật trước tia cực tím, chống lại sự oxy hóa, bảo vệ thực vật trước sự tấn công của vi sinh vật gây hại. 7 Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Trà My Ngoài ra các polyphenol còn có tác dụng ức chế nấm, bình thường trong thực vật tác dụng đó thể hiện tương đối yếu nhưng nó sẽ tăng lên một cách mạnh mẽ trong quá trình polyphenol bị oxy hóa bởi enzyme. Là vật liệu góp phần vào độ bền chức của thực vật và sự thẩm thấu của thành tế bào đối với nước và khí.