LỜI MỞ ĐẦU Escherichia coli (E. coli) tồn tại một cách tự nhiên và hầu hết không gây hại trong đường tiêu hóa, Tuy nhiên, một số chủng E. coli có thé gây bệnh cho người va một số loài động vật. Điển hình là chủng E.
coli 0157: H7 có kha năng sản xuất độc tổ Shiga, chúng là nguyên nhân chính gây hội chứng tan huyết urê với tỉ lệ tử vong 3-5% và tỉ lệ biến chứng là 25% trường hợp nhiễm. coli O157:H7 có ở động vật nhai lại đặc biệt là bò, cừu, một số động vật khác như thỏ, heo. Chúng lây truyền sang người chủ yếu qua việc tiêu thụ thực phẫm bị ô nhiễm như thịt, sữa, chưa nau chín. coli O157:H7 cũng liên quan đến việc tiêu thụ trái cây và rau quả (bao gồm giá, rau bina, rau xà lách, salad.) bị ô nhiễm do tiếp xúc với phân từ động vật hoang dã hoặc gia súc trong giai đoạn nào đó trong quá trình trồng trọt hoặc xử lý (Hugh Pennington, 2010).
Theo Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa bệnh tật (CDC) ước tính rang E. coli O157:H7 gây ra 73.000 trường hợp nhiễm bệnh, 2.200 trường hợp nhập viện, và 60 trường hợp tử vong hang năm ở Hoa Kỳ. coli O157:H7 cũng gây ra nhiều vụ ngộ độc tại nhiều nơi trên thé giới. Tại Việt Nam nhiều vụ ngộ độc thực phẩm đã xảy ra, đặc biệt là ngộ độc tập thé, rơi nhiều vào đối tượng công nhân (khi ăn, uống tại các bếp ăn tập thé không đảm bao vệ sinh, an toàn chất lượng thực phẩm).
Bộ Y tế cho biết năm 2016 cả nước xảy ra 129 vụ ngộ độc thực phẩm với 4.139 người mắc, và 12 trường hợp tử vong, trong đó, 80% sé ca ngộ độc thực phẩm là do vi sinh vật. Trước tình hình an toản vệ sinh thực phẩm trên thế giới và Việt Nam đang diễn ra hết sức phức tạp, yêu cầu kiếm soát mam bệnh này ngày càng lớn. Do đó, việc xây dựng một kỹ thuật có thé phát hiện E. coli O157:H7 nhanh chóng, đơn giản với có độ nhạy cao đang được tập trung nghiên cứu.
Bên cạnh các kỹ thuật truyền thống, kỹ thuật sử dụng thực khuẩn thể (bacteriophage) đang hứa hẹn là một kỹ thuật tối ưu trong phát hiện vi khuẩn gây bệnh. Thực khuẩn thé tái tổ hợp PPOlccp do TS. Hoang Anh Hoàng và công sự xây dựng năm 2015, có khả năng phát hiện E. coli O157:H7 trên môi trường chuẩn với độ nhanh và độ nhạy cao.
Tuy nhiên, để có ứng dụng thực tế trong các mẫu thực phẩm cần phải tiến hành nhiều thử nghiệm. Do đó, trong nghiên cứu này chúng tôi tập trung nghiên cứu dé tai: Xây dựng quy trình phát hiện E. coli O157:H7 trên mẫu rau ăn sống bằng thực khuẩn thé tái tổ hợp. Mục tiêu của đề tài: Xây dựng quy trình phát hiện E.
coli O157:H7 trên bốn mẫu rau ăn sống là rau xà lách, rau cải xanh, rau giá và rau ngò băng thực khuẩn thé tái tổ hợp PP01ccp. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài: — Xây dựng phương pháp giúp phát hiện E. coli O157:H7 với độ nhạy cao trong thời gian ngăn. — Đề tài góp phần bảo đảm an toàn thực phẩm, bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng, phòng tránh tác nhân gây bệnh.
Nội dung nghiên cứu: — Kiểm tra hoạt tính của thực khuẩn thể tái tổ hợp PP0Ilccp; — Lựa chọn kháng sinh phù hợp cho giai đoạn tăng sinh FE. coli O157:H7 trên các mẫu rau xà lách, rau cải xanh, rau giá và rau ngo; — Xác định độ nhạy của phương pháp; — Xác định độ nhanh của phương pháp. TONG QUAN TÀI LIEU Trang | 1. coli là vi khuẩn Gram âm, kích thước trung bình 2-3zm x 0.
coli thường có hình que, không tao bào tử, có khả năng di động, có thé phát triển ở nhiệt độ từ 5-40°C, nhiệt độ thích hợp nhất là 37°C. Chúng được mô tả lần dau tiên bởi Theodor Escherich vào năm 1885 (Trần Linh Thước, 2003). Hầu hết các chủng E. coli tồn tại một cách tự nhiên và không gây hai trong đường tiêu hóa, chúng còn đóng vai trò quan trong trong việc 6n định sinh lý đường tiêu hóa.
Tuy nhiên, một số chủng E. coli có thé gây bệnh cho người và một số loai động vật. coli gây bệnh được phân loại dựa trên nhóm huyết thanh, cơ chế gây bệnh, các triệu chứng lâm sàng, hoặc các yếu tố động lực (James và cộng sự, 2004). Dựa vào cau trúc kháng nguyên, E.
coli được chia thành các kiểu huyết thanh. Với sự tổ hợp của các yếu tô kháng nguyên O, K và H sẽ có rất nhiều kiểu huyết thanh khác nhau. Mỗi kiểu huyết thanh được ký hiệu bang kháng nguyên O và K, ví dụ O86B7 (yếu tố kháng nguyên O số 86, yếu tố kháng nguyên K số 7 loại Bì). Dựa vào vi tri gây bệnh các E.
coli có khả năng gây bệnh ở người được chia thành 2 nhóm: thứ nhất là nhóm gây bệnh đường ruột (IPEC-intestinal pathogenic E. coli gay tiên chảy (DEC-Dierrheagenic FE. coli), thứ hai là nhóm gây bệnh ngoài đường ruột (ExPEC-extraintestinal pathogenic E. coli gây bệnh đường ruột (IPEC) đã được biết gồm: EPEC (Enteropathogenic E.
coli gay bệnh đường ruột ETEC (Enterotoxigenic E. coli sinh độc tô ruột EIEC (Enteroinvasive E. coli xam nhập ruột EAEC (Enteroaggregative EF. coli ngưng tap ruột DAEC (Diffusely adherent EF.
coli bám dính phân tan EHEC (Enterohaemorrhagic E. coli gây xuất huyết ruột Hai loại E. coli gây bệnh ngoài đường ruột quan trong nhất là: MAEC (Meningitidis-associated E. coli gầy viêm mang não UPEC (Uropathogenic E.
coli gây nhiễm khuẩn đường tiết niệu Trong số đó, Enterohemorrhagic E. coli (EHEC) gồm hon 100 serotype có kha năng san xuất độc tô Shiga và độc tổ giống Shiga (Shiga toxin-producing E. coli) hay còn gọi E. coli có khả năng sản xuất độc tố Vero[VTEC]), chúng gây bệnh viêm đại tràng xuất huyết (Hemorrhagic Colitis_HC) và hội chứng tan huyết urê (Hemolytic Uremic Syndrome_HUS) ở người.
Một số type huyết thanh EHEC thường gây bệnh ở người như 026:H11, 091:H21, O111:H8,O157:NM, và O157:H7 (Angela và cộng sự, 1996). coli O157:H7 là serotype thường xuyên gây bệnh ở người nhất, việc nhiễm E. coli O157:H7 có thé xảy ra ở mọi lứa tuổi, và pho biến nhất là ở trẻ em và người gia. coli O157:H7 sẽ được tập trung nghiên cứu trong đề tai này.
Hiện trạng nhiễm Escherichia coli O157:H7 trong các mẫu thực phẩm. coli O157:H7 có ở động vật nhai lại, đặc biệt là bò, cừu, một số động vật khác như thỏ, heo. Con người có thé bị nhiễm E. coli O157:H7 do việc sử dụng các thực phẩm, nước bị bi ô nhiễm hay khi tiếp xúc với động vật, phân, đất bị nhiễm E.
coli O157:H7 được ghi nhận lần đầu tiên vào năm 1982 như là một tác nhân gây bệnh ở người liên quan đến vụ bùng phát tiêu chảy xuất huyết ở Oregon và Michigan, Hoa Kỳ (Riley và cộng sự, 1983) và cũng liên quan đến những trường hợp HUS vao năm 1983 (Karmali và cộng sự, 2005). Kế từ đó, nhiều vụ bùng phát bệnh liên quan đến EHEC đã được báo cáo ở Hoa Ky và E. coli O157:H7 là một trong những mam bệnh chính trong thực phẩm. Sự bùng phát bệnh do nhiễm E.
coli O157:H7 lớn nhất ở Trang 3 Mỹ được báo cáo váo tháng 1 năm 1993 với hơn 700 trường hợp nhiễm bệnh và 4 trẻ em tử vong (Rangel et al. Tại Anh trong tháng 8 và tháng 9 năm 2009 có 96 ca nhiễm bệnh. 78 bệnh nhân có các triệu chứng va 17 trường hợp HUS. Sự bùng phát dịch lớn nhất đã xảy ra ở thành phố Sakai, Nhật Bản vào năm 1996, với 7966 trường hợp nhiễm khuẩn (2764 đã được xác minh băng vi sinh học, 106 trường hợp HUS) do sự dụng củ cải trang nhiễm E.
coli O157:H7 trong các bữa ăn của trường. Các trường hợp nhiễm E. coli O157:H7 cũng được ghi nhận tại Châu Phi (tại Swaziland và Nam Phi vào năm 1990), 5 6 dịch đã được ghi nhận tai Walkerton, ON, Canada, năm 2000 (Hugh Pennington, 2010). Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa bệnh tật (CDC) ước tính rang E.
coli O157:H7 gây ra 73.000 trường hợp nhiễm bệnh, 2.200 trường hợp nhập viện, và 60 trường hợp tử vong hang năm ở Hoa Kỳ (Mead và cộng sự, 1999). Số liệu giám sát dich bệnh từ CDC cho thay, nhiễm E. coli O157:H7 đang giảm sau đỉnh điểm vào năm 1999. Tuy nhiên, các vụ dịch bùng phát và các trường hợp nhiễm bệnh vẫn tiếp tục xảy ra.
Chỉ phí bệnh tật hàng năm do nhiễm E. coli O157:H7 khoang 405 triệu đô la, bao gồm chi phí do mat năng suất lao động, chăm sóc y tế, và tử vong sớm (Frenzen va cộng sự, 1983). Tại Việt Nam, từ ngày 8/7/2014 đến ngày 23/7/2014, xảy ra ô dịch tiêu chảy tại xã Lê Minh Xuân, huyện Bình Chánh, TP. Hồ Chí Minh.
Kết quả xét nghiệm 21 mẫu bệnh pham trong đó có 4 mẫu dương tính với E. Ô dịch tiêu chảy tại ấp 5, xã Vĩnh Lộc A, huyện Bình Chánh vào tháng 7/2014 ghi nhận 05 trường hợp tiêu chảy, trong đó có 1 trường hợp tử vong. Kết quả phân tích của viện Pasteur TP. HCM cho thay nguyên nhân gây bệnh là do nhiễm E.
Theo thống kê của bộ Y tế, mỗi năm Việt Nam có khoãng 250 — 500 vụ ngộ độc thực phẩm với 7.000 nạn nhân và 100 — 200 ca tử vong. Trong đó, nguyên nhân ngộ độc thực phẩm do vi sinh vật chiếm 34 - 49%. Theo số liệu thống kê đến năm 2012 của Cục An toàn vệ sinh thực phẩm, năm 2007 xảy ra nhiều nhất với 247 vụ với 7.239 trường hợp ngộ độc, số nhập viện là 5.584 ca trong đó có 55 ca tử vong. Năm 2008, có 205 vụ ngộ độc với số trường hợp nhập viện là 7.829 và 62 trường hợp tử vong, cao nhất trong cả giai đoạn.
Nhà nước đã chi trả rất nhiều tiền cho việc điều trị, xét nghiệm và điều tra nguyên nhân. Trang 4 Chi phí bệnh tật cao đòi hỏi những nỗ lực bố sung để kiểm soát mầm bệnh nay. Phát hiện nhanh và nhạy E. coli O157:H7 là điều cần thiết để giảm thiểu sự bùng phát của các trường hợp bệnh, và hỗ trợ cho quá trình giám sát vệ sinh an toàn thực phẩm.
Cac phương pháp phát hiện Escherichia coli O157:H7 1. coli O157:H7 bang môi trường đặc hiệu Khác với hầu hết các chủng E. coli O157:H7 chỉ sử dụng nguồn dinh dưỡng là peptone, không lên men sorbitol, do đó, băng cách sử dụng môi trường Mac Conkey Sorbitol agar (SMAC) có thé phát hiện E. coli O157:H7 sẽ tạo khuẩn lạc tròn trong suốt khác với các vi khuẩn khác.
coli O157: H7 bằng môi trường SMAC có độ nhạy 100%, độ đặc hiệu 85% và độ chính xác 86% (Sandra và Samuel, 1986). Đề tăng tính chọn lọc agar SMAC đã được cải thiện với việc bổ sung cefixime và tellurite (CT-SMAC).