Mở đầu. - Chương II: Giới thiệu về giao thông nông thôn tỉnh Tiền Giang. - Chương III: Những căn cứ lựa chọn kết cấu áo đường cho đường giao Trang 8 thông nông thôn tỉnh Tiền Giang. - Chương IV: Lựa chọn kết cấu áo đường cho đường giao thông nông thôn tỉnh Tiền Giang.
- Chương V: Kết luận và kiến nghị. - Tài liệu tham khảo. - Phần phụ lục. Trang 9 CHƯƠNG 2: GIỚI THIỆU VỀ GIAO THÔNG NÔNG THÔN TỈNH TIỀN GIANG 2.1/- Khái quát đặc điểm tự nhiên, đặc điểm kinh tế - xã hội tỉnh Tiền Giang 2.1/- Khái quát đặc điểm tự nhiên 2.1/- Vị trí địa lý, địa hình Tiền Giang là một tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long, nằm trong khoảng tọa độ 105050’ - 106o45’ độ kinh Đông và 10o12’ - 10o35’ độ vĩ Bắc.
Phía Bắc và Đông Bắc giáp Long An và TP. Hồ Chí Minh , phía Tây giáp Đồng Tháp, phía Nam giáp Bến Tre và Vĩnh Long, phía Đông giáp biển Đông. Tiền Giang nằm trải dọc trên bờ Bắc sông Tiền (một nhánh của sông Mêkông) với chiều dài 120km. Diện tích tự nhiên: 2.
Tỉnh Tiền Giang có địa hình bằng phẳng, với độ dốc nhỏ hơn 1% và cao trình biến thiên từ 0m - 1,6m so với mặt nước biển; phổ biến từ 0,8m - 1,1m. Tiền Giang có hai con sông lớn chảy qua, sông Vàm Cỏ ở phía Bắc và sông Tiền ở phía Nam. Hai con sông này cùng với các chi lưu của nó đã tạo nên một mạng lưới sông ngòi chằn chịt, thuận lợi cho việc phát triển cả giao thông vận tải đường bộ lẫn đường thủy.2/- Thổ nhưỡng Tổng quỹ đất tự nhiên của tỉnh là 236.663ha, trong đó có các nhóm đất chính như sau: - Nhóm đất phù sa: chiếm 53% tổng diện tích tự nhiên (125.431 ha), chiếm phần lớn diện tích các huyện Cái Bè, Cai Lậy, Châu Thành, Chợ Gạo, thành phố Mỹ Tho và một phần huyện Gò Công Tây thuộc khu vực có nguồn nước ngọt. - Nhóm đất mặn: chiếm 14,6% tổng diện tích tự nhiên (34.552ha), chiếm phần lớn diện tích huyện Gò Công Đông, thị xã Gò Công, Gò Công Tây, Tân Trang 10 Phú Đông và một phần huyện Chợ Gạo.
- Nhóm đất phèn: chiếm diện tích 19,4% diện tích tự nhiên (45.912ha), phân bố chủ yếu ở khu vực trũng thấp Đồng Tháp Mười thuộc phía Bắc ba huyện Cái Bè, Cai Lậy, Tân Phước. Đây là loại đất hình thành trên trầm tích đầm lầy mặn ven biển thành tạo trong quá trình biển thoái, nên loại đất này giàu hữu cơ và phèn. Đất phèn tiềm tàng và hoạt động sâu (phèn ít) có diện tích ít hơn so với đất phèn tiềm tàng và hoạt động nông (phèn nhiều) với tỷ lệ 6,82% so với 12,19%. - Nhóm đất cát giồng: chiếm 3,1% diện tích tự nhiên với 7.336ha, phân bổ rải rác ở các huyện Cai Lậy, Châu Thành, Chợ Gạo, Gò Công Tây và tập trung nhiều nhất ở huyện Gò Công Đông.3/- Địa chất Qua các lỗ khoan nghiên cứu địa chất trong phạm vi tỉnh Tiền Giang cho biết địa tầng của khu vực từ dưới lên như sau: - Trầm tích Mioxen (N1): được phát hiện ở chiều sâu lớn hơn 370m.
Thành phần thạch học của phân vị này bao gồm các trầm tích hạt thô đến mịn. - Trầm tích Plioxen (N2): bắt gặp ở độ sâu từ 180m đến 380m, các trầm tích này phân bố khắp khu vực. Thành phần các phân vị này bắt đầu là cát hạt thô sau đó chuyển dần lên là hạt mịn. - Trầm tích thống Pleistoxen (QI-III): các trầm tích này không phân chia, được phân bố khắp khu vực, chúng phủ trực tiếp lên bề mặt phong hoá của các trầm tích Plioxen.
Thành phần trầm tích Pleistoxen là cát chứa sạn sỏi, xen kẹp cát trầm tích hạt mịn thường có cấu tạo phân lớp mỏng. Chiều sâu trung bình 150m. - Trầm tích trẻ, hiện đại Thống Holoxen (QIV): phủ kín toàn bộ bề mặt khu vực, có chiều dày từ 10 - 15m. Bao gồm các thành tạo có nguồn gốc sông, sông biển, sông đầm lầy và đầm lầy hỗn hợp cấu thành từ bột, sét và các Trang 11 di tích động thực vật phân hủy và bán phân hủy.4/- Khí hậu Tiền Giang nằm ở vĩ độ thấp của vùng nhiệt đới, mặt trời chiếu sáng quanh năm.
Nhiệt độ trung bình trong năm là 26,6oC. Độ ẩm trung bình tháng thay đổi từ 76,7% (tháng 3) đến 87,3% (tháng 9) sai biệt tối đa của độ ẩm trung bình giữa các tháng là 10,6%. Độ ẩm trung bình năm 82,7%. Gió ở Tiền Giang thuộc về chế độ gió mùa.
Một năm có hai mùa gió: mùa gió mùa Đông Bắc và mùa gió mùa Tây Nam. Lượng mưa năm trung bình vào khoảng 1.400mm và khá ổn định qua các năm. So với các khu vực ở miền Đông và miền cực Tây của đồng bằng sông Cửu Long, Tiền Giang thuộc khu vực ít mưa (nhỏ hơn 1. Trong năm, lượng mưa phân bổ không đồng đều, hình thành hai mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô.
- Mùa mưa gắn với gió mùa Tây Nam, bắt đầu từ tháng 5 và kết thúc vào tháng 10. Lượng mưa mùa mưa chiếm 86 - 90% lượng mưa năm và khá ổn định qua các năm. - Mùa khô gắn liền với mùa gió mùa Đông Bắc bắt đầu từ tháng 11 và kết thúc vào tháng 4 năm sau. Lượng mưa mùa khô chỉ chiếm từ 10 - 14% tổng lượng mưa cả năm và có sự biến động khá lớn qua các năm.
Lượng mưa tập trung vào hai thời kỳ. Thời kỳ thứ nhất xuất hiện vào tháng 6 hoặc tháng 7, lượng mưa tháng xấp xỉ 200mm. Thời kỳ thứ hai xuất hiện vào tháng 9 hoặc tháng 10 lượng mưa tháng trên dưới 250mm. Xen kẽ hai thời kỳ mưa nhiều là hai thời kỳ ít hoặc không mưa.
Thời kỳ thứ nhất vào giữa mùa khô (từ tháng 1-3), khu vực có gió đông hoặc đông nam thịnh hành ổn định, lượng mưa tháng thời kỳ này rất nhỏ (từ 5 đến 10mm) đôi khi cả tháng không có mưa. Trang 12 Theo Niên giám thống kê của Cục thống kê tỉnh Tiền Giang xuất bản năm 2002, 2003, 2004, 2005 lượng mưa trung bình hàng năm từ năm 1998 đến năm 2005 như sau (đơn vị mm): 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 1.345,8 Tiền Giang là nơi quanh năm có nền nhiệt độ cao, nên lượng bốc hơi nước lớn. Lượng bốc hơi trung bình năm 3,3mm/ngày.5/- Thủy văn Tất cả kinh, rạch trong tỉnh đều chịu ảnh hưởng thủy triều, tuy nhiên càng truyền sâu vào nội đồng biên độ triều càng giảm. Mực nước trung bình trên sông Tiền và sông Cửa Tiểu xuống thấp nhất vào tháng 6 và lên cao nhất vào tháng 10, 11.
Vào mùa kiệt sông Vàm Cỏ hoàn toàn bị thủy triều bán nhật của biển Đông chi phối; nước biển dễ dàng xâm nhập sâu vào nội địa. Vào cùng thời điểm và đồng khoảng cách tới biển, độ mặn trên sông Vàm Cỏ lớn gấp nhiều lần trên sông Tiền. Giống như sông Tiền, mực nước đỉnh triều trên sông Vàm Cỏ thường xuống thấp vào tháng 6, 7 và lên cao nhất vào tháng 10, 11 hàng năm. Trong vùng ngập lũ của tỉnh hàng năm nước sông, rạch bắt đầu dâng cao vào tháng 7, 8, đạt đỉnh lũ vào tháng 9, 10, rút dần vào đầu tháng 11 và trở lại bình thường vào cuối tháng nầy (đối với năm lũ trung bình), hoặc mãi đến cuối tháng 12 hoặc tháng 1 năm sau mới trở lại bình thường (đối với năm lũ lớn như năm 1996, 2000).
Trong 8 trận lũ lớn từ năm 1978 đến 2005 chỉ năm 1984, 2000 và 2001 đỉnh lũ tại các trạm đo chính trong tỉnh xuất hiện vào cuối tháng 9, các năm khác đều xuất hiện từ đầu tháng 10 đến 20/10. Thời gian ngập khá lâu là đặc điểm thường thấy tại Tiền Giang trong Trang 13 nhiều trận lụt vừa qua.2 thống kê thời gian ngập trong 3 trận lụt lớn gần đây vào các năm 1996, 2000 và 2001 ở 2 cấp cao độ +1,00 m là cao độ của đa số mặt ruộng và +1,50 m là cao độ đỉnh của đa số bờ ruộng trong vùng ngập lũ.2: Thời gian ngập trong các trận lụt năm 1996, 2000, 2001 Cấp mực Lụt năm 1996 Lụt năm 2000 Lụt năm 2001 nước Vị trí (m) Số ngày Số ngày Số ngày 122 187 >112 > 1,00 (20/8- 20/12) (27/7-31/1/2001) (26/8- sau 5/12) Mỹ Trung 57 75 78 > 1,50 (4/10 - 30/11) (13/9 - 27/11) (5/9 - 22/11) 125 205 >120 > 1,00 (22/8 - 27/12) (28/7-19/2/2001) (17/8-sau 15/12) Hậu Mỹ Bắc > 65 99 93 > 1,50 (27/9 - sau 30/11) (27/8 - 05/12) (4/9 - 6/12) 94 185 101 > 1,00 (26/9 - 28/12) (19/8-21/2/2001) (2/9 - 12/12) Mỹ Phước >19 76 69 > 1,50 (11/10-sau 30/11) (18/9 - 03/12) (15/9 - 23/11) > 64 >129 99 > 1,00 (28/9-sau 30/11) (24/8- sau 31/12) (4/9 - 12/12) Mỹ Phước Tây > 53 71 73 > 1,50 (8/10-sau 30/11) (21/9 - 01/12) (10/9 - 22/11) >126 > 1,00 (27/8- sau 31/12) Ngã 5 kinh 10 74 > 1,50 (17/9 - 30/11) Nước ngầm tầng nông là đối tượng tác động trực tiếp đến nền móng công trình đường bộ. Nước ngầm tầng nông tại đây tồn tại trong các trầm tích Holoxen (QIV) và Pleistoxen muộn (QIII). Các trầm tích này chủ yếu là hạt mịn nên mức độ chứa nước nghèo.
Nguồn bổ cập chủ yếu từ nước mặt và nước mưa trực tiếp ngấm xuống. Mực nước ngầm dao động trong khoảng 2,35m tuỳ theo mùa. Theo số liệu các hố khoan thăm dò tại huyện Châu Thành, Cai Lậy, Cái Trang 14 Bè, Chợ Gạo cho thấy: mùa mưa mực nước ngầm cao nhất ở độ sâu trung bình cách mặt đất tự nhiên 6,40-8m; mùa nắng mực nước ngầm cao nhất ở độ sâu trung bình cách mặt đất tự nhiên 7,30-9,50m. Do các công trình thường được nâng cao trình vượt lũ, nền đường được đắp thêm 1,50-2,50m nên đáy kết cấu áo đường vào mùa mưa (lúc mực nước ngầm cao nhất) cách mực nước ngầm trong khoảng 8-10m.
Từ những số liệu trên có thể nhận thấy rằng mực nước ngầm ít, thậm chí không ảnh hưởng đến kết cấu nền và mặt đường.2/- Khái quát đặc điểm kinh tế - xã hội Tỉnh Tiền Giang có 8 huyện, thành phố Mỹ Tho và thị xã Gò Công.851người, mật độ 685 người/km2. Số người trong độ tuổi lao động chiếm khoảng 72,9% dân số. Năm 2007 khu vực nông nghiệp - lâm nghiệp - thủy sản chiếm tỷ trọng 51,1%; công nghiệp - xây dựng 21,7%; thương mại - dịch vụ 27,2%. Sản lượng từ nuôi và khai thác thủy sản đạt 109.632 tấn, trong đó khai thác đạt 69.2/- Thực trạng mạng lưới giao thông nông thôn tỉnh Tiền Giang 2.1/- Khái quát chung về mạng lưới Giao thông Vận tải và giao thông nông thôn của tỉnh Tiền Giang 2.