CHƯƠNG 1: PHÂN CẤP ĐƯỜNG BỘ CHO GTNT - THỰC TRẠNG VỀ HỆ THỐNG ĐƯỜNG GTNT CỦA TỈNH THANH HOÁ. Phân cấp đường bộ cho GTNT. Để phục vụ cho yêu cầu của chương trình xây dựng nông thôn mới của Đảng và Chính phủ giai đoạn 2010-2020, Bộ giao thông vận tải đã có quyết định số 315/QĐ-BGTVT ngày 23/02/2011 về hướng dẫn lựa chọn qui mô kỹ thuật đường giao thông nông thôn. Trình bày các chỉ tiêu kỹ thuật chủ yếu cho hệ thống đường bộ GTNT [6] Loại đường Ghi chú TT Các chỉ tiêu KT Đ.
vị AH/AHMN A B C 1 Tốc độ tính toán Km/h 30/20 10 ÷ 15 10 ÷ 15 10 ÷ 15 2 Số làn xe ôtô Làn 1/1 1 1 1 3 Chiều rộng mặt đường m 3,5/3,5 3,5 (3,0) 3,0 (2,5) 2,0 4 Chiều rộng lề đường m 1,5/1,25 5 Chiều rộng nền đường m 6,5/6 5,0 (4,0) 4,0 (3,5) 3,0 6 Độ dốc siêu cao lớn nhất % 6/6 Bán kính đường cong nằm 7 m 30/15 15 10 10 tối thiểu giới hạn Bán kính đường cong nằm 8 m 60/50 tối thiểu thông thường 9 Bán kính đường cong nằm m 350/250 tối thiểu không siêu cao 10 Chiều dài tầm nhìn hãm xe m 30/20 11 Chiều dài tầm nhìn trước xe m 60/40 ngược chiều 12 Độ dốc dọc lớn nhất % 9/11 10 6 6 13 Bán kính đường cong đứng m 400/200 lồi tối thiểu giới hạn 14 Bán kính đường cong đứng m 600/200 lồi tối thiểu thông thường 15 Bán kính đường cong đứng m 250/100 lõm tối thiểu giới hạn 16 Bán kính đường cong đứng m 400/200 lõm tối thiểu thông thường 17 Chiều dài lớn nhất của dốc m 400/300 300 200 200 dọc 18 Tĩnh không thông xe m 4,5/4,5 3,5 3 3 5 + Đường cấp AH: Đường nối trung tâm hành chính của huyện với trung tâm hành chính của xã, cụm xã hoặc trung tâm hành chính của huyện lân cận. Tiêu chuẩn kỹ thuật của đường cấp AH lấy tương đương với đường cấp VI (TCVN 4054:2005 Đường ô tô – Yêu cầu thiết kế). + Đường AHMN : loại địa hình miền núi + Đường cấp A: Đường nối từ xã đến thôn, liên thôn và từ thôn ra cánh đồng. Đường cấp A là đường chủ yếu phục vụ cho các phương tiện giao thông cơ giới loại trung, tải trọng trục tiêu chuẩn để thiết kế công trình trên đường là 6 tấn/trục.
+ Đường cấp B Đường cấp B là đường phục vụ cho các phương tiện giao thông thô sơ (xe súc vật kéo hoặc xe cơ giới nhẹ) có tải trọng trục tiêu chuẩn để thiết kế là 2,5 tấn/trục và tải trọng kiểm toán là 1 tấn/trục bánh sắt. + Đường cấp C Đường cấp C là đường chủ yếu phục vụ cho các phương tiện giao thông thô sơ và mô tô 2 bánh. 6 TRUNG TÂM HUYỆN THỊ TRẤN THUỘC HUYỆN AH AH TRUNG TÂM AH TRUNG TÂM XÃ XÃ A hoặc B A hoặc B A hoặc B TRUNG TÂM TRUNG TÂM THÔN THÔN B hoặc C B hoặc C XÓM B hoặc C XÓM B hoặc C B hoặc C ĐỒNG RUỘNG ĐỒNG RUỘNG Hình 1.1: Mô tả hệ thống đường bộ cho GTNT Việt Nam bao gồm 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (với tổng số 556 huyện, 9.121 xã), được chia thành 6 vùng kinh tế: đồng bằng sông Hồng (11 tỉnh), trung du và miền núi phía Bắc (14 tỉnh), Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung (14 tỉnh), Tây Nguyên (5 tỉnh), Đông Nam Bộ (6 tỉnh) và đồng bằng sông Cửu Long (13 tỉnh). Dân số Việt Nam theo thống kê năm 2008 có trên 86 triệu người, trong đó khoảng 60% dân số tập trung ở 3 vùng: đồng bằng sông Hồng, đồng bằng sông Cửu Long và vùng Đông Nam Bộ.
7 Nước ta là nước nông nghiệp, 76,5% dân số sống ở nông thôn, 73% lực lượng lao động xã hội đang làm việc và sinh sống nhờ vào các hoạt động sản xuất Nông - Lâm - Ngư nghiệp. Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 5/8/2008 Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khoá X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đã xác định: “Nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là cơ sở và lực lượng quan trọng để phát triển KT-XH bền vững, giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo an ninh, quốc phòng…. Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn là một nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”. GTNT là một trong những mắt xích thiết yếu nối các vùng nông thôn với hệ thống quốc lộ, tỉnh lộ, khu đô thị, khu công nghiệp, khu chế xuất; thúc đẩy phát triển KT-XH khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa, tạo điều kiện phát triển cơ giới hoá trong sản xuất, trao đổi hàng hoá, đẩy mạnh, nâng cao đời sống tinh thần vật chất cho người dân khu vực nông thôn.
Trong tiến trình thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn, GTNT có vai trò và vị trí vô cùng quan trọng. Thời gian qua, được sự quan tâm của Đảng, Nhà Nước GTVT đã có sự phát triển vượt bậc, góp phần quan trọng trong việc phát triển KT-XH nói chung và phục vụ sản xuất nông nghiệp và phát triển nông thôn nói riêng. Đến nay đã có mạng lưới giao thông với đủ các phương thức vận tải, phân bổ tương đối hợp lý trên khắp mọi miền đất nước, tạo ra sự liên hoàn từ quốc lộ, tỉnh lộ, đường huyện đến đường xã, thôn, bản góp phần thực hiện các chương trình quốc gia và phát triển nông thôn. Về cơ bản đã chấm dứt tình trạng ách tắc vận tải, việc vận chuyển hàng hoá phục vụ sản xuất nông nghiệp, sự giao lưu đi lại của nông dân thuận lợi hơn.
8 Tuy nhiên, những thành tựu đạt được chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế, chưa đồng đều giữa các vùng và chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển. Việc vận chuyển ở nông thôn còn khó khăn, nhiều tuyến đường bị hư hỏng hoặc không thể đi lại được trong mùa mưa; theo số liệu khảo sát đến cuối năm 2010 vẫn còn 149 xã chưa có đường cho ô tô tới trung tâm. Chất lượng đường còn rất thấp: trên 70% đường huyện, hơn 80% đường xã được đánh giá là xấu hoặc rất xấu; 72% đường thôn xóm còn là đường cấp phối và đất. Dịch vụ vận tải chưa đáp ứng được yêu cầu cả về số lượng, chất lượng.
Phát triển kinh tế nông thôn, xây dựng nông thôn mới là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Để thực hiện được điều này, nông thôn cần phải phát triển toàn diện theo hướng xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường, trong đó hệ thống giao thông nông thôn một bộ phận không thể thiếu, vừa là điều kiện mang tính tiền đề, vừa mang tính chiến lược lâu dài. Có vậy mới lưu thông được hàng hóa, cải thiện cơ cấu sản xuất, thu hút đầu tư, kỹ thuật, công nghệ để phát triển sản xuất, khai thác tốt tiềm năng và nguồn lực địa phương. Trong nhiều năm qua, Đảng và Chính phủ luôn quan tâm xây dựng phát triển nông thôn, cải thiện, nâng cao mức sống của người nông dân, nhất là những vùng sâu vùng xa, miền núi hải đảo.
Với phương châm "Nhà nước và nhân dân cùng làm, dân làm là chính, có sự hướng dẫn, hỗ trợ của Nhà nước", Chính phủ đã dành nguồn vốn đáng kể đầu tư phát triển hệ thống đường bộ giao thông nông thôn (GTNT). Giao thông nông thôn là một bộ phận quan trọng của kết cấu hạ tầng cơ sở của một khu vực, nó tạo điều kiện cho phát triển kinh tế, xã hội, đẩy mạnh giao lưu văn hoá, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân vùng nông thôn và cả nước. Trong những năm vừa qua Bộ Giao thông vận tải 9 (GTVT) và các địa phương đã có nhiều cố gắng trong việc đầu tư xây dựng hệ thống giao thông nông thôn trên toàn quốc. Tuy nhiên, yêu cầu phát triển giao thông nông thôn ở nước ta trong giai đoạn hiện nay và tương lai còn rất nặng nề và cấp thiết.
Cho đến nay, hệ thống giao thông nông thôn ở nước ta tuy chưa hoàn chỉnh nhưng đã cùng với hệ thống giao thông quốc gia tạo nên hệ thống giao thông thống nhất, góp phần quan trọng trong công cuộc xây dựng đất nước. Việc đầu tư vào giao thông và đường nông thôn được xem như là một cách thức giúp cho dân cư các khu vực vùng sâu, vùng xa có thể tiếp cận được với chợ, các vùng hoạt động tạo ra thu nhập, các dịch vụ xã hội như trường học, các trung tâm chăm sóc sức khoẻ cũng như các nhu cầu khác trong quan hệ xã hội. Theo thống kê từ các tỉnh việc đầu tư vào GTNT trong toàn quốc giai đoạn 2004-2010 chiếm khoảng gần 1% GDP của cả nước và tỷ lệ nghèo đã giảm từ 18% xuống hơn một nửa còn 9,5% (theo chuẩn quốc gia), nghĩa là cứ đầu tư cho GTNT 1% GDP/năm thì tỷ lệ nghèo giảm được 1,5%/năm. GTNT sẽ góp phần tích cực để tăng trưởng kinh tế và giảm nghèo nhằm đạt được hiệu quả xã hội tốt hơn.
Việc khai thông các tuyến đường nối đến các vùng xa xôi hẻo lánh, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, đã giúp cho người nghèo có cơ hội được hưởng lợi ích từ sự tăng trưởng của nền kinh tế. Trong 4 năm từ năm 2006 đến năm 2010, cả nước đã xây mới được nhiều km đường GTNT , xây dựng nhiều cầu cống GTNT cũng như nâng cấp cải tạo được nhiều tuyến đường GTNT phục vụ nhu cầu phát triển KT-XH nông thôn và nhu cầu đi lại của người dân nông thôn. Nhằm phù hợp với sự phát triển kinh tế của địa phương, nhiều tuyến đường huyện đã được nâng chuyển lên thành đường tỉnh, một số các tuyến đường xã quan trọng đã được kéo dài nâng lên đường huyện và nhiều tuyến đường xã mới đã được xây dựng. 10 Trong giai đoạn này, cả nước đã xây dựng mới được 34.811 km, trong đó số km đường huyện tăng 1.563km, đường xã tăng 17.414 km và đường thôn xóm tăng 15.
+ Kết quả thực hiện với GTNT đường bộ: mặc dù đường GTNT đã được chú trọng đầu tư trong những năm qua, nhưng so với mục tiêu đề ra vẫn chưa đạt được; đến thời điểm đầu năm 2010, tỷ lệ rải mặt nhựa, BTXM mới đạt 28,08% (tương đương 76.609km - chưa đạt mức 30% như mục tiêu đề ra), còn lại là mặt đường đá dăm, cấp phối, đất; đặc biệt đường đất còn chiếm tỷ lệ cao khoảng 42,98%.