CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH ĐẤT YẾU VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ NỀN ĐƯỜNG ĐẮP TRÊN ĐẤT YẾU CỦA KHU VỰC THỊ XÃ BẠC LIÊU 1.1 Khái niệm chung về đất yếu: - Đất yếu là những loại đất có khả năng chịu tải nhỏ (vào khoảng 0,5 – 1,0 daN/cm2) có tính nén lún lớn, hầu như bão hòa nước, có hệ số rỗng lớn (e > 1), môđun biến dạng thấp (thường thì E0 = 50 daN/cm2), lực chống cắt nhỏ…Nếu không có biện pháp xử lí đúng đắn thì việc xây dựng công trình trên đất yếu này sẽ rất khó khăn hoặc không thể thực hiện được. - Đất yếu là các vật liệu mới hình thành từ 1000 đến 15000 năm tuổi, có thể chia thành bốn nhóm chủ yếu như sau: + Các loại đất sét (á sét, sét) ở trạng thái mềm, bão hòa nước thuộc các giai đoạn đầu của quá trình hình thành đất sét. + Các loại cát hạt nhỏ, cát bụi ở trạng thái rời, bão hòa nước. + Các loại đất bùn, than bùn và đất than bùn.
+ Các loại đất hoàng thổ có độ rỗng lớn gây lún sụt. - Tất cả các loại đất này đều được bồi tụ trong nước một cách khác nhau theo các điều kiện thủy lực tương ứng: bồi tích ven biển, đầm phá, cửa sông, ao hồ…Trong các loại đất này thì đất sét mềm bồi tụ ở bờ biển hoặc gần biển (đầm phá, tam giác châu, cửa sông…) tạo thành một họ đất yếu phát triển nhất. Ở trạng thái tự nhiên độ ẩm của chúng thường bằng hoặc lớn hơn giới hạn chảy, hệ số rỗng lớn (đất sét mềm e ≥ 1,5, đất á sét bụi e ≥ 1), lực dính không thoát nước Cu ≤ 0,15 daN/cm2, góc nội ma sát φu=0, độ sệt IL=0,50 (trạng thái dẻo mềm). - Loại có nguồn gốc hữu cơ (than bùn và đất hữu cơ) thường hình thành từ đầm lầy, nơi đọng nước thường xuyên hoặc có mực nước ngầm cao, các loại thực vật phát triển, thối rửa và phân hủy, tạo ra các trầm tích hữu cơ lẫn các trầm tích khoáng vật.
Loại này thường gọi là đất đầm lầy than bùn, hàm lượng hữu cơ chiếm tới 20-80%. - Trong điều kiện tự nhiên, than bùn có độ ẩm rất cao, trung bình W=85-95% và có thể lên tới vài trăm phần trăm. Than bùn là loại đất bị nén lún lâu dài, không đều và 5 mạnh nhất ; hệ số nén lún có thể đạt 3-8-10 cm2/daN, vì thế thường phải thí nghiệm than bùn trong các thiết bị nén với các mẫu cao ít nhất 40-50cm. - Đất yếu đầm lầy than bùn còn được phân theo hàm lượng hữu cơ của chúng: + Hàm lượng hữu cơ từ 20-30%: đất nhiễm than bùn + Hàm lượng hữu cơ từ 30-60%: đất than bùn + Hàm lượng hữu cơ trên 60%: than bùn.
- Bùn là các lớp đất mới được tạo thành trong môi trường nước ngọt hoặc nước biển, gồm các hạt rất mịn (< 200μm) với tỉ lệ phần trăm các hạt < 2μm cao, bản chất khoáng vật thay đổi và thường có kết cấu tổ ong. Hàm lượng hữu cơ thường dưới 10%. - Bùn được tạo thành chủ yếu do sự bồi lắng tại các đáy vũng, vịnh, hồ hoặc các cửa sông nhất là các cửa sông chịu ảnh hưởng của thủy triều. Bùn luôn no nước và rất yếu về mặt chịu lực.
Cường độ của bùn rất nhỏ, biến dạng rất lớn, môđun biến dạng chỉ vào khoảng 1-5 daN/cm2 với bùn sét và từ 10-25 daN/cm2 với bùn á sét, bùn á cát, còn hệ số nén lún thì có thể lên tới 2-3 cm2/daN. Như vậy bùn là những trầm tích nén chưa chặt, dễ bị thay đổi kết cấu tự nhiên, do đó việc xây dựng trên bùn chỉ có thể thực hiện sau khi áp dụng các biện pháp xử lí đặc biệt, mà tốt nhất là vét bùn thay đất tốt. - Theo đặc trưng thành phần thạch học, tính chất địa chất công trình, địa chất thủy văn và chiều dày tầng đất yếu. Trong phạm vi toàn bộ đồng bằng sông Cửu Long có thể chia làm 5 khu vực có dạng đất yếu: + Khu vực I: Khu đất sét có màu xám nâu và xám vàng bao gồm các loại đất: đất á sét, á sét màu xám nâu có chổ đất mềm yếu nằm gửi bên trên lớp trầm tích nén chặt.
+ Khu vực II: Bao gồm các loại đất yếu thường gọi là đất bùn sét, bùn á sét, bùn á cát xen kẹp với các lớp á cát. + Khu vực III: Đất nền trong khu vực này bao gồm các dạng sau: cát hạt mịn, á cát xen kẹp ít bùn cát. 6 + Khu vực IV: Nền đất yếu trong khu vực này thường gặp các loại đất điển hình là đất than bùn xen kẹp bùn sét, bùn á sét, cát bụi và á cát. + Khu vực V: Trong thực tế xây dựng công trình ở khu vực này thường gặp các loại đất bao gồm các loại bùn á sét và bùn cát bão hòa nước, than bùn Holoxen.
Chiều dày tầng đất yếu từ 5~10m, có nơi đạt đến 40~50m, tầng đất yếu này nằm trên tầng sét chặt.1: Bản đồ đất yếu khu vực đồng bằng sông Cửu Long.2 Đặc trưng đất yếu của công trình trong khu vực Thị Xã Bạc Liêu: 1.1 Vị trí địa lý: - Dự án Đầu tư xây dựng Quốc lộ 1A, đoạn tránh thị xã Bạc Liêu bắt đầu từ ngã năm Trung tâm hành chính tương ứng Km2178 + 223 Quốc lộ 1A, tuyến đi thẳng về bên phải Quốc lộ 1A ra xa hơn khỏi vùng ngoại ô thị xã Bạc Liêu khoảng 2500m (đoạn tuyến Quốc lộ 1A hiện hữu sẽ trở thành đường nội ô của thị xã Bạc Liêu), sau khi vượt qua hai nhánh của rạch Trà Kha tuyến rẽ trái rồi đi tiếp thêm một khoảng 1700m và nối vào đầu cầu Dần Xây phía bờ Bạc Liêu tương ứng Km2185 + 865 Quốc lộ 1A. Đoạn tuyến tránh thị xã Bạc Liêu được xây dựng mới tạo thành đường vành đai ngoài bao quanh thị xã và kết nối thị xã Bạc Liêu với các vùng ngoại vi. - Đoạn tuyến tránh thị xã Bạc Liêu có tổng chiều dài là 4360 m, trong đó: + Phần đường : 4258. + Ngoài ra còn có hai nút giao tại vị trí đầu tuyến và cuối tuyến.2: Bình đồ vị trí tuyến đường.2 Địa hình và dân cư: - Đây là vùng đồng bằng trũng, thấp chịu ảnh hưởng của thủy triều và thường bị ngập vào mùa lũ.
Nhìn chung, địa hình khu vực dọc tuyến tương đối bằng phẳng, cao độ bình quân thay đổi từ +0. - Khu vực đầu tuyến và cuối tuyến – tiếp giáp với Quốc lộ 1 hiện hữu cao độ trung bình khoảng +1. Khu vực này có nhiều nhà dân và xen lẫn các vườn trồng cây ăn quả như chuối, dừa… Đoạn còn lại giữa tuyến chủ yếu đi qua khu vực các kênh rạch nhỏ và đồng ruộng, địa hình tương đối bằng phẳng. - Với đặc điểm địa hình như vậy, việc tổ chức thi công khá thuận lợi do không phải đền bù giải tỏa nhiều, diện tích bờ rạch hai bờ đủ rộng để bố trí nhà xưởng, láng trại… - Công trình nằm trong khu vực có lưới điện và có nhiều trạm xăng dầu phục vụ cho giao thông nên việc cung cấp các nhiên liệu phục vụ thi công như điện, xăng dầu…thuận lợi.3 Địa chất công trình: - Trong bước lập dự án “Nghiên Cứu Khả Thi” đã tiến hành khoan khảo sát 14 lỗ dọc tuyến chiều sâu mỗi lỗ 15m và 2 lỗ khoan tại 2 vị trí cầu, mỗi lỗ sâu 50m.
Bước Thiết Kế Kỹ Thuật đã tiến hành khảo sát bổ sung 32 lỗ khoan dọc tim tuyến và hai bên tim tuyến cách tim tuyến 15m chiều sâu khoan từ 10~15m, 6 lỗ khoan tại 2 vị trí cầu, mỗi lỗ sâu 50m. Kết quả khảo sát như sau: địa tầng khu vực gồm 6 lớp - Lớp đất 1: Sét màu xám nâu, trạng thái dẻo cứng (đôi chỗ dẻo mềm). Lớp này xuất hiện ở tất cả các lỗ khoan, bề dày trung bình của lớp khoảng 1.0, cao độ đáy lớp biến thiên từ -0. Các chỉ tiêu cơ – lý chủ yếu như sau: + Lực dính c : 0.265 daN/cm2 + Góc ma sát trong φ : 7047’ + Dung trọng thiên nhiên γ : 1.82 g/cm3 + Hệ số rỗng tự nhiên ε0 : 1.32 10 + Giá trị SPT :4 Nhận xét: Đây là lớp đất đắp thêm trong quá trình hình thành các khu dân cư, chịu lực trung bình, chiều dày mỏng và phân bố không sâu dưới bề mặt thiên nhiên.
- Lớp đất 2: Bùn sét màu xám xanh, xám nâu lớp này xuất hiện ở tất cả các lỗ khoan, cao độ đáy lớp này khoảng -15.70, bề dày trung bình của lớp khoảng 15. Các chỉ tiêu cơ-lý chủ yếu như sau: + Lực dính c : 0.057 daN/cm2 + Góc ma sát trong φ : 3048’ + Dung trọng thiên nhiên γ : 1.02 g/cm3 + Hệ số rỗng tự nhiên ε0 : 1.40 + Giá trị SPT : 1 đến 5 Nhận xét: Đây là lớp chịu lực yếu. - Lớp đất 3a: - Sét màu nâu vàng, xám nâu, trạng thái dẻo cứng đến nửa cứng. Lớp này xuất hiện ở tất cả các lỗ khoan, cao độ đáy lớp thay đổi từ -24.80, bề dày thay đổi từ 6.
Các chỉ tiêu cơ – lý chủ yếu như sau: + Lực dính c : 0.516 daN/cm2 + Góc ma sát trong φ : 11004’ + Dung trọng thiên nhiên γ : 1.87 g/cm3 + Hệ số rỗng tự nhiên ε0 : 0.42 + Giá trị SPT : 9 đến 22 Nhận xét: Đây là lớp chịu lực trung bình, chiều dày lớn; phân bố không sâu dưới bề mặt thiên nhiên nên không thích hợp cho việc đặt móng. - Lớp đất 3b: 11 Sét cát màu xám vàng, xám nâu, trạng thái dẻo mềm đến dẻo cứng. lớp này xuất hiện ở tất cả các lỗ khoan, cao độ đáy lớp thay đổi từ -43.70, bề dày thay đổi từ 5. Các chỉ tiêu cơ – lý chủ yếu như sau: + Lực dính c : 0.255 daN/cm2 + Góc ma sát trong φ : 17005’ + Dung trọng thiên nhiên γ : 1.93 g/cm3 + Hệ số rỗng tự nhiên ε0 : 0.57 + Giá trị SPT : 17 đến 41 Nhận xét: Đây là lớp chịu lực yếu, không thích hợp cho việc đặt móng.
- Lớp đất 4a: Cát sét màu xám nâu, xám vàng. Lớp này xuất hiện ở tất cả các lỗ khoan. Bề dày lớp thay đổi từ 3.7m, cao độ đáy lớp thay đổi từ -43. Các chỉ tiêu cơ – lý chủ yếu như sau: + Thành phần hạt trung bình : Hàm lượng % hạt cát : 48.0 Hàm lượng % hạt bột : 32.0 Hàm lượng % hạt sét : 18.167 daN/cm2 + Góc ma sát trong φ : 19031’ + Dung trọng thiên nhiên γ : 1.89 g/cm3 + Hệ số rỗng tự nhiên ε0 : 0.