Chương 1: Cơ sở lý luận chung về đầu tư xây dựng và đầu tư xây dựng khu công nghiệp Chương 2: Thực trạng hiệu quả đầu tư xây dựng khu công nghiệp của Tổng công ty Đầu tư phát triển đô thị và khu công nghiệp Việt Nam (IDICO) Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư xây dựng khu công nghiệp của Tổng công ty IDICO - 13 - CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TƢ XÂY DỰNG VÀ ĐẦU TƢ XÂY DỰNG KHU CÔNG NGHIỆP 1. KHÁI QUÁT VỀ ĐẦU TƢ XÂY DỰNG CƠ BẢN VÀ ĐẦU TƢ XÂY DỰNG KHU CÔNG NGHIỆP 1. Đầu tƣ xây dựng cơ bản 1.
Khái niệm Đầu tư - Cho đến nay có nhiều khái niệm về đầu tư, tùy thuộc vào quan điểm và mục đích nghiên cứu. + Theo quan điểm kinh tế: Đầu tư là sự bỏ ra một lượng vốn để tạo ra một tài sản dưới một hình thức nào đó (có thể là hình thức vật chất cụ thể như nhà cửa, máy móc thiết bị hoặc là hình thức tài chính như mua cổ phần, cho vay …) nhằm khai thác và sử dụng nó, để tài sản này có khả năng sinh lời hay thỏa mãn một nhu cầu nhất định nào đó của người bỏ vốn trong một khoảng thời gian nhất định trong tương lai. Nói cách khác, theo quan điểm này thì: Đầu tư là hoạt động bỏ vốn để tạo ra một tài sản để tài sản này có thể tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất nối tiếp nhau để đạt được mục đích của nười bỏ vốn. + Theo quan điểm tài chính: Đầu tư là một chuỗi hoạt động chi tiền của chủ đầu tư, từ đó chủ đầu tư sẽ nhận một chuỗi tiền tệ để đảm bảo hoàn trả vốn và trang trải mọi chi phí liên quan và có lãi.
+ Theo quan điểm kế toán: Đầu tư là gắn liền với một số khoản chi vào động sản hoặc bất động sản để tạo nên các khoản thu lớn hơn. Như vậy, dù khái niệm đầu tư được hiểu theo quan điểm nào đi nữa thì cũng có điểm chung là: Đầu tư là hoạt động bỏ vốn trong một khoảng thời gian nhất định để đạt được mục đích của chủ đầu tư thông qua hoạt động đầu tư. Vậy đầu tư là hoạt động bỏ vốn (vốn có thể bằng tiền, tài sản hoặc thời gian lao động) để đạt được mục đích sinh lợi của chủ đầu tư thông qua hoạt động đầu tư. - Để có thể được gọi là hoạt động đầu tư cần phải có ba điều kiện cơ bản sau: + Lượng vốn bỏ ra phải đủ lớn; + Thời gian khai thác kết quả đầu tư phải tương đối dài (lớn hơn một năm); - 14 - + Hoạt động đầu tư phải hướng tới mục đích của Chủ đầu tư.
- Mục đích của đầu tư thể hiện mục đích của Chủ đầu tư là: Thông qua hoạt động đầu tư để thu được một số lợi ích nào đó Xét về mặt lợi ích thì mục đích của việc đầu tư được thể hiện trên các khía cạnh sau: + Lợi ích kinh tế - tài chính. + Lợi ích chính trị - xã hội. + Lợi ích trực tiếp, lợi ích gián tiếp, lợi ích trong ngành, lợi ích ngoài ngành. + Lợi ích trước mắt, lợi ích lâu dài.
Nếu Chủ đầu tư là tư nhân hoặc tổ chức sản xuất kinh doanh thì mục đích của đầu tư là lợi ích kinh tế là chính, còn nếu Chủ đầu tư là Nhà nước thì mục đích của Chủ đầu tư là mang lại lợi ích kinh tế và xã hội, đôi khi mục đích đầu tư lấy lợi ích xã hội làm mục đích chính. Đầu tư phát triển Đầu tư phát triển là hình thức đầu tư có ảnh hưởng trực tiếp đến việc tăng tiềm lực của nền kinh tế nói chung, tiềm lực sản xuất kinh doanh của từng cơ sở sản xuất kinh doanh nói riêng, là điều kiện chủ yếu để tạo công an việc làm và nâng cao đời sống của mọi thành viên trong xã hội. Đầu tư xây dựng cơ bản Đầu tư xây dựng cơ bản trong nền kinh tế quốc dân là một bộ phận của đầu tư phát triển. Đầu tư xây dựng là một loại đầu tư trong đó nhà đầu tư bỏ vốn ra để tiến hành các hoạt động xây dựng nhằm tạo nên tài sản cố định mới, mở rộng hoặc cải tạo những công trình xây dựng hiện có phục vụ cho mục tiêu phát triển, duy trì, nâng cao năng lực sản xuất, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm hay dịch vụ nào đó.
Đầu tư xây dựng cơ bản là tiền đề quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của nền kinh tế nói chung và của các cơ sở sản xuất kinh doanh nói riêng. Đầu tư xây dựng cơ bản là hoạt động chủ yếu tạo ra tài sản cố định đưa vào hoạt động trong lĩnh vực kinh tế - xã hội, nhằm thu đựơc lợi ích với nhiều hình thức khác nhau. Đầu tư xây dựng cơ bản trong nền kinh tế quốc dân được thông - 15 - qua nhiều hình thức xây dựng mới, cải tạo, mở rộng, hiện đại hoá hay khôi phục tài sản cố định cho nền kinh tế. Ở loại đầu tư này, hoạt động đầu tư xây dựng được coi là phương tiện để đạt được mục tiêu đầu tư.
Kết quả hoạt động xây dựng là các tài sản cố định mới, tài sản cố định hiện có được mở rộng, được cải tạo với công suất và chất lượng nâng cao hoặc duy trì. Lợi ích của loại đầu tư này là giá trị tăng mang lại cho hoạt động của tài sản cố định được đầu tư mang lại. Đầu tư xây dựng có nghĩa đặc thù riêng do tính chất phức tạp của hoạt động xây dựng chi phối. Thông thường được diễn ra theo một quá trình từ khi bỏ vốn ra đến khi thu được kết quả là đưa công trình hoành thành vào hoạt động.
Đặc điểm chung đầu tư xây dựng cơ bản Hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản là một bộ phận của đầu tư phát triển do vậy nó cũng mang những đặc điểm của đầu tư phát triển. - Đòi hỏi vốn lớn, ứ đọng trong thời gian dài: Hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản đòi hỏi một số lượng vốn lao động, vật tư lớn. Nguồn vốn này nằm khê đọng trong suốt quá trình đầu tư. Vì vậy trong quá trình đầu tư chúng ta phải có kế hoạch huy động và sử dụng nguồn vốn một cách hợp lý đồng thời có kế hoạch phân bổ nguồn lao động, vật tư thiết bị phù hợp đảm bảo cho công trình hoàn thành trong thời gian ngắn chồng lãng phí nguồn lực.
- Thời gian dài với nhiều biến động: Thời gian tiến hành một công cuộc đầu tư cho đến khi thành quả của nó phát huy tác dụng thường đòi hỏi nhiều năm tháng với nhiều biến động xảy ra. - Có giá trị sử dụng lâu dài: Các thành quả của thành quả đầu tư xây dựng cơ bản có giá trị sử dụng lâu dài, có khi hàng trăm, hàng nghìn năm, thậm chí tồn tại vĩnh viễn như các công trình nổi tiếng thế giới như vườn Babylon ở Iraq, tượng nữ thần tự do ở Mỹ, kim tụ tháp cổ Ai cập, nhà thờ La Mã ở Roma, vạn lý trường thành ở Trung Quốc, tháp Angcovat ở Campuchia, … - Cố định: Các thành quả của hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản là các công trình xây dựng sẽ hoạt động ở ngay nơi mà nó đựơc tạo dựng cho nên các điều kiện về địa lý, địa hình có ảnh hưởng lớn đến quá trình thực hiện đầu tư, cũng - 16 - như việc phát huy kết quả đầu tư. Vì vậy cần được bố trí hợp lý địa điểm xây dựng đảm bảo các yêu cầu về an ninh quốc phòng, phải phù hợp với kế hoạch, qui hoạch bố trí tại nơi có điều kiện thuận lợi, để khai thác lợi thế so sánh của vùng, quốc gia, đồng thời phải đảm bảo được sự phát triển cân đối của vùng lãnh thổ. - Liên quan đến nhiều ngành: Hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản rất phức tạp liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực.
Diễn ra không những ở phạm vi một địa phương mà còn nhiều địa phương với nhau. Vì vậy khi tiến hanh hoạt động này, cần phải có sự liên kết chặt chẽ giữa các ngành, các cấp trong quản lý quá trình đầu tư, bên cạnh đó phải qui định rõ phạm vi trách nhiệm của các chủ thể tham gia đầu tư, tuy nhiên vẫn phải đảm bảo đựơc tính tập trung dân chủ trong quá trình thực hiện đầu tư. Vai trò đầu tư xây dựng cơ bản Nhìn một cách tổng quát: đầu tư xây dựng cơ bản trước hết là hoạt động đầu tư nên cung có những vai trò chung của hoạt động đầu tư như: tác động đến tổng cung và tổng cầu, tác động đến sự ổn định, tăng trưởng và phát triển kinh tế, tăng cường khả năng khoa học và công nghệ của đất nước. Ngoài ra với tính chất đặc thù của mình, đầu tư xây dựng cơ bản là điều kiện trước tiên và cần thiết cho phát triển nền kinh tế, có những ảnh hưởng vai trò riêng đối với nền kinh tế và với từng cơ sở sản xuất.
Đó là: Đầu tư xây dựng cơ bản đảm bảo tính tương ứng giữa cơ sở vật chất kỹ thuật và phương thức sản xuất. Mỗi phương thức sản xuất từ đặc điểm sản phẩm, yếu tố nhân lực, vốn và điều kiện về địa điểm, … lại có đòi hỏi khác biệt về máy móc thiết bị, nhà xưởng. Đầu tư xây dựng cơ bản đã giải quyết vấn đề này. Đầu tư xây dựng cơ bản là điều kiện phát triển các ngành kinh tế và thay đổi tỷ lệ cân đối giữa chúng.
Khi đầu tư xây dựng cơ bản được tăng cường, cơ sở vật chất kỹ thuật của các ngành tăng sẽ làm tăng sức sản xuất vật chất và dịch vụ của ngành. Phát triển và hình thành những ngành mới để phục vụ nền kinh tế quốc dân. Như vậy đầu tư xây dựng cơ bản đã làm thay đổi cơ cấu và quy mô phát triển của ngành kinh tế, - 17 - từ đó nâng cao năng lực sản xuất của toàn bộ nền kinh tế. Đây là điều kiện tăng nhanh giá trị sản xuất và tổng giá trị sản phẩm trong nước, tăng tích luỹ đồng thời nâng cao đời sống vật chất tinh thần của nhân dân lao động , đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cơ bản về chính trị, kinh tế - xã hội.