CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỊNH HÌNH KẾT CẤU ÁO ĐƯỜNG TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM Ở các nước trên thế giới việc lập ra các mẫu Catalog kết cấu áo đường ôtô để áp dụng cho mỗi nước là tuỳ thuộc vào điều kiện địa hình, địa chất, khí hậu, thủy văn, tình trạng giao thông, trình độ công nghệ.là một việc làm quen thuộc và thường xuyên được cập nhật và hoàn chỉnh. Các bảng Catalog định hình kết cấu mặt đường đã đưa ra với mục đích giảm bớt khối lượng tính toán, tận dụng được các kết cấu hợp lý, thống nhất trong việc sản xuất vật liệu xây dựng, ứng dụng được nhanh các tiến bộ kỹ thuật, phù hợp với công nghệ thi công hiện đại, tăng hiệu quả đầu tư và để có được tiếng nói chung trong việc thiết kế, khai thác sử dụng và bảo dưỡng đường ôtô. Catalog là một cách đơn giản trình bày chính sách đầu tư kỹ thuật, sự lựa chọn các phương án áo đường đã được chấp nhận, sự lựa chọn một quan điểm chiến lược về áo đường dựa trên nguyên tắc tồn tại lâu dài về chất lượng của kết cấu áo đường. TỔNG QUAN VỀ THIẾT KẾ ĐỊNH HÌNH KẾT CẤU ÁO ĐƯỜNG TRÊN THẾ GIỚI 1.
Kết cấu định hình do trung tâm thiết kế nhà ở và công trình Pháp (CEBTP) kiến nghị cho các nước nhiệt đới (Xem phụ lục B): Đưa ra được các Catalog kết cấu áo đường phụ thuộc vào cấp hạng lưu lượng và cấp hạng nền đường. Vật liệu được sử dụng làm lớp mặt chủ yếu là các lớp bêtông nhựa hay đá trộn nhựa. Các lớp móng bằng cấp phối tự nhiên, cấp phối đá nghiền, cát, .có hoặc không có gia cố chất liên kết vô cơ. Sức chịu tải của nền đường.
Nền đường được chia thành 5 loại như sau: 17 Bảng 1. Các loại sức chịu tải nền đường S1 CBR < 5 S2 5 < CBR < 10 S3 10 < CBR < 15 S4 15 < CBR < 30 S5 CBR > 30 Tải trọng tính toán Các kết cấu mặt đường do CEBTP kiến nghị đều được tính với trục đơn có tải trọng lớn nhất là 13T với tỷ lệ vượt tải không quá 10%. Lưu lượng xe có thể xác định theo một trong các cách sau: Lưu lượng xe ngày: - Đó là lưu lượng xe trung bình trong ngày với thời gian khoảng 15 năm bao gồm tất cả các loại xe trong đó có khoảng 30% xe nặng (xe có tổng trọng lượng cả hàng trên 3T). Lưu lượng xe được chia thành 5 cấp: Bảng 1.
Các cấp lưu lượng xe T1 <300 T2 300 – 1000 T3 1000 – 3000 T4 3000 – 6000 T5 6000 – 12000 (Đơn vị tính: xe/ngày đêm/làn) - T1 gồm những đường có lưu lượng rất nhỏ nhưng vẫn rải mặt vì những lý do không phải kinh tế. - T5 ứng với đường cao tốc 4 hoặc 6 làn xe. Lưu lượng tích lũy của các xe nặng: - Các phân cấp này gần giống với cách trên. Nếu tuổi thọ mặt đường là 15 năm và tỷ lệ xe nặng khoảng 30% thì phân cấp như sau: 18 Bảng 1.
Các cấp lưu lượng xe tích lũy của các xe nặng T1 < 5.107 Nhận xét: CEBTP đã lập ra 12 kết cấu áo đường cho đường cao tốc ứng với: - 5 cấp hạng nền đường: từ S1đến S5; - Tải trọng trục tính toán: 13T; - Tải trọng trục tích luỹ: 107 ÷ 2. - Kết cấu áo đường gồm: o Kết cấu áo đường với lớp móng trên gia cố nhựa: Lớp mặt: Bêtông nhựa, dày từ 7÷10cm; Lớp móng trên: Sỏi nhựa, san hô nghiền gia cố nhựa dày từ 17÷18cm; Lớp móng dưới: Cát nhựa, sỏi núi lửa, đất vôi,. dày từ 15÷55cm. o Kết cấu áo đường với lớp móng trên gia cố xi măng: Lớp mặt: Bêtông nhựa, dày từ 7÷10cm; Lớp móng trên: Sỏi xi măng, san hô nghiền gia cố xi măng dày từ 20÷25cm; Lớp móng dưới: Xỉ núi lửa, đất vôi, san hô gia cố xi măng.
dày từ 15÷45cm. - Thời hạn thiết kế: 15 năm; 1. Kết cấu định hình của CHLB Đức Cộng hòa Liên bang Đức là nước có lịch sử lâu dài và kinh nghiệm trong xây dựng, khai thác đường bộ trên thế giới. Hiện nay họ có mạng lưới đường bộ hoàn chỉnh và chất lượng khai thác tốt, kết cấu mặt đường được lựa chọn dựa trên cơ sở tính toán và kinh nghiệm khai thác.
19 Định hình kết cấu mặt đường RSt0 – 01 năm 2001 của CHLB Đức dựa trên tiêu chuẩn thiết kế, xây dựng và khai thác từ những năm trước đây. Các cơ sở của định hình dựa trên các yếu tố cơ bản sau đây: - Tích luỹ số lần tải trọng trục 10 tấn tác dụng lên mặt đường từ khi đưa đường vào sử dụng tới cuối thời kỳ khai thác. Số năm sử dụng tính số lần tải trọng đối với đường cấp cao là 30 năm. - Tình hình đất nền đường và vật liệu làm lớp móng trong kết cấu mặt đường.
- Điều kiện khí hậu các vùng khác nhau mà chủ yếu là thời gian băng giá. - Kinh nghiệm khai thác bảo dưỡng các loại kết cấu mặt đường khác nhau. Mặt đường bêtông nhựa trên các loại kết cấu móng khác nhau (trong bảng EtínhMN/m2) - Cơ sở phân chia kết cấu mặt đường là số lượng tải trọng tích luỹ, gồm đường cao tốc (SV) và 6 cấp (từ I – VI) khác nhau dựa trên số lần tải trọng trục tính bằng triệu lần. - Nền đất được lấy cố định có môđun đàn hồi tối thiểu bằng 45MN/m2 (45MPa).
- Môđun đàn hồi chung lớp móng trên tối thiểu phải đạt 100MN/m2 (100 MPa) với đường cấp thấp và 1200daN/cm2 với đường cấp cao. Nhận xét: Định hình đưa ra là định hình mở, chỉ định hình các lớp mặt, còn với nhiều loại kết cấu móng khác nhau, trên cơ sở điều kiện cụ thể các kỹ sư tư vấn thiết kế và các nhà đầu tư sẽ lựa chọn kết cấu phù hợp. 21 Với cấp xây dựng SV (đường cao tốc), chiều dày lớp mặt và lớp móng trên như sau: - Lớp mặt bêtông nhựa: 12 cm; - Lớp móng trên (bêtông nhựa chịu lực hoặc vật liệu gia cố xi măng) dày 14÷22cm; - Tải trọng trục tính toán: 10T; - Cấp hạng đất nền đường: 45MPa; - Tổng số trục xe tích luỹ: 32.106 trục xe/ngày đêm; - Thời hạn thiết kế: 30 năm. TỔNG QUAN VỀ THIẾT KẾ ĐỊNH HÌNH KẾT CẤU ÁO ĐƯỜNG Ở VIỆT NAM Kết cấu áo đường theo tiêu chuẩn 22 TCN 211-06: Áo đường mềm – Các yêu cầu và chỉ dẫn thiết kế a.
Tải trọng trục tính toán: Tải trọng trục tính toán tiêu chuẩn được quy định tùy thuộc điều kiện chạy xe. Tải trọng trục tính toán tiêu chuẩn là trục đơn của ôtô có trọng lượng 100kN đối với tất cả các loại áo đường mềm trên đường, trên đường ôtô các cấp thuộc mạng lưới chung và cả trên các đường đô thị từ cấp khu vực trở xuống. Các đặc trưng của tải trọng trục tính toán tiêu chuẩn Tải trọng trục tính toán Áp lực tính toán lên Đường kính vệt tiêu chuẩn, P (kN) mặt đường, p (Mpa) bánh xe, D (cm) 100 0.6 36 Trên những đường có lưu thông các loại trục xe nặng khác biệt nhiều so với loại trục tiêu chuẩn ở Bảng 1.11 (như các đường vùng mỏ, đường công nghiệp chuyên dụng…) thì kết cấu áo đường phải được tính với tải trọng trục đơn nặng nhất có thể có trong dòng xe. Trên các đường đường ôtô các cấp có lưu thông các trục đơn của xe nặng vượt quá 120 kN thoả mãn điều kiện các trục đơn nặng trên 120 kN và 22 dưới 144 kN với số lượng chiếm dưới 5% tổng số trục xe tải và xe buýt chạy trên đường thì lúc đó được chọn tải trọng trục tính toán là 120 kN.
Cấu tạo kết cấu nền áo đường: Áo đường phải có đủ cường độ và duy trì được cường độ dưới tác dụng của ôtô nặng nhất và của toàn bộ dòng xe trong bất kỳ lớp nào (kể cả nền đất) cũng không phát sinh biến dạng dẻo, tính liên tục của các lớp liền khối không bị phá vỡ và độ võng đàn hồi của kết cấu không vượt quá trị số cho phép, phải đảm bảo bằng phẳng, đủ nhám, dễ thóat nước mặt và ít gây bụi để đáp ứng yêu cầu giao thông an toàn, êm thuận, kinh tế. Bố trí tầng mặt cấp cao A1 Bố trí các lớp trong tầng mặt cấp cao A1 Đây là các lớp chủ yếu cùng với tầng móng và khu vực tác dụng của nền đất tạo ra cường độ chung của kết cấu nền áo đường. Các lớp này đều phải bằng các hỗn hợp vật liệu hạt có sử dụng nhựa đường và lớp trên cùng phải bằng bêtông nhựa chặt loại I trộn nóng. Các lớp phía dưới có thể làm bằng bêtông nhựa loại II, bêtông nhựa rỗng, đá dăm đen, bêtông nhựa nguội (trộn nhựa lỏng hoặc nhũ tương nhựa) và cả thấm nhập nhựa.
Khi đặt trên lớp móng trên bằng cấp phối đá dăm thì tổng bề dày các lớp của tầng mặt cấp cao A1 cộng với bề dày lớp tạo nhám (nếu có) phải lớn hơn trị số quy định ở Bảng 1.Bề dày tối thiểu của tầng mặt cấp cao A1 tuỳ thuộc quy mô giao thông: Số trục xe tiêu chuẩn tích luỹ trong thời hạn Bề dày tối thiểu của tầng tính toán 15 năm kể từ khi đưa mặt đường mặt cấp cao A1 (cm) vào khai thác trên 1 làn xe (trục xe/làn) < 0,1.106 20,0 (10) Nếu các lớp của tầng mặt nhựa cấp cao A1 được đặt trực tiếp trên lớp móng trên bằng vật liệu hạt gia cố nhựa có bề dày ít nhất là 10cm thì bề dày tối thiểu của tầng mặt được giảm đến trị số quy định để ở trong ngoặc ở Bảng 1. Nếu các lớp của tầng mặt nhựa cấp cao A1 được đặt trực tiếp trên lớp móng nửa cứng thì để hạn chế hiện tượng nứt phản ảnh, tổng bề dày tối thiểu của tầng mặt có sử dụng nhựa phải bằng bề dày lớp móng nửa cứng và tối thiểu bằng 14 – 18cm. Bố trí cấu tạo tầng móng Nên gồm nhiều lớp, lớp trên bằng các vật liệu có cường độ và khả năng chống biến dạng cao hơn các lớp dưới để phù hợp với trạng thái phân bố ứng suất và hạ giá thành xây dựng. Tỷ số mô đun đàn hồi của lớp trên so với lớp dưới liền nó nên dưới 3 lần (trừ trường hợp lớp móng dưới là loại móng nửa cứng) và tỷ số mô đuyn đàn hồi của lớp móng dưới với mô đuyn đàn hồi của nền đất nên trong phạm vi 2,5 – 10 lần.
Số lớp cũng không nên quá nhiều để tránh phức tạp cho thi công và kéo dài thời gian khai triển dây chuyền công nghệ thi công.