Chương 1: Tổng quan về vật liệu được sử dụng làm lớp móng đường ô tô. 3 Chương 2: Cơ sở lý thuyết về vật liệu gia cố chất liên kết vô cơ. Chương 3: Thí nghiệm trong phòng xác định thành phần hỗn hợp hợp lý. Chương 4: Đánh giá hiệu quả kinh tế - kỹ thuật khi ứng dụng cấp phối đá dăm gia cố xi măng làm móng đường ô tô.
4 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VẬT LIỆU ĐƢỢC SỬ DỤNG LÀM LỚP MÓNG ĐƢỜNG Ô TÔ 1. Khái quát chung về các loại vật liệu đƣợc sử dụng làm lớp móng đƣờng ô tô ở nƣớc ta: 1. Tổng quan sự phát triển GTVT nước ta hiện nay: - Việt Nam đang từng bước phát triển kinh tế đất nước và hội nhập kinh tế thế giới trong điều kiện mà cơ sở hạ tầng còn khó khăn, chính vì vậy để đáp ứng các yêu cầu để phát triển thì phải đảm được là mạng lưới giao thông vận tải phải được ưu tiên đầu tư. Chính vì vậy, Chính phủ đã có những chủ trương và định hướng rõ ràng trong việc phát triển mạng lưới giao thông tại Việt Nam như sau: + Giao thông vận tải là một bộ phận quan trọng trong kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, cần ưu tiên đầu tư phát triển đi trước một bước với tốc độ nhanh, bền vững nhằm tạo tiền đề cho phát triển kinh tế - xã hội, củng cố an ninh, quốc phòng, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước.
+ Phát huy tối đa lợi thể về vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên của đất nước để phát triển hệ thống giao thông vận tải hợp lý, giảm thiểu chi phí vận tải, tiết kiệm chi phí xã hội. + Phát triển kết cấu hạ tầng giao thông một cách đồng bộ, hợp lý, từng bước đi vào hiện đại, tạo nên mạng lưới hoàn chỉnh, liên hoàn, liên kết giữa các phương thức vận tải, giữa các vùng lãnh thổ, giữa đô thị và nông thôn trên phạm vi toàn quốc. + Coi trọng công tác bảo tri, đảm bảo khai thác hiệu quả, bền vững kết cấu hạ tâng giao thông hiện có. Đồng thời đẩy mạnh việc nâng cấp và xây dựng mới các công trình kết cấu hạ tầng giao thông mang lại hiệu quả kinh tế 5 - xã hội, các khu kinh tế trọng điểm, các trục giao thông đối ngoại, các đô thị lớn và các vùng có ý nghĩa quan trọng trong chiến lược xóa đói, giảm nghèo và phục vụ an ninh, quốc phòng.
+ Phát triển vận tải theo hướng hiện đại với chi phí hợp lý, an toàn, giảm thiếu tác động môi trường và tiết kiệm năng lượng; ứng dụng công nghệ vận tải tiên tiến đặc biệt là vận tải đa phương thức; nhanh chóng đổi mới phương tiện vận tải; nâng cao chất lượng dịch vụ vận tải, đồng thời phát triển nhanh hệ thống dịch vụ vận tải đối ngoại trước hết là vận tải hàng không và hàng hải nhằm tăng cường khả năng cạnh tranh và tạo điều kiện đẩy nhanh quá trình hội nhập quốc tế. + Ưu tiên cải tạo, nâng cấp đầu tư chiều sâu phát huy hiệu quả của các cơ sở công nghiệp giao thông vận tải hiện có, nhanh chóng đổi mới và tiếp cận công nghệ hiện đại, từng bước tăng tỷ lệ nội địa hóa và tiến tới tự sản xuất được các phương tiện vận tải, đặc biệt là trong lĩnh vực đóng tàu và chế tạo ô tô để sử đụng trong nước và xuất khẩu ra các nước trong khu vực và thế giới. + Phát triển hệ thống giao thông vận tải đối ngoại, gắn kết chặt chẽ với hệ hống GTVT trong nước, đáp ứng kịp thời yêu cầu hội nhập quốc tế và khu vực. Hiện nay, nhiều nước trên thế giới đã và đang sử dụng kết cấu mặt đường có kết cấu móng trên bằng đá dăm gia cố xi măng.
Đặc biệt là ở Mỹ và các nước Tây Âu, ở các nước này đã có nhiều công trình đường thi công bằng loại hình vật liệu này và cũng đã ban hành các quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật cũng như công nghệ thi công móng cấp phối đá dăm có gia cố xi măng với các tỷ lệ % xi măng tương ứng, phù hợp với công nghệ sản xuất vật liệu, công nghệ xây dựng và điều kiện đặc thù của nước mình. + Ở Pháp loại vật liệu cấp phối đá dăm gia cố xi măng còn dùng để tăng cường mặt đường cũ ngay trên những tuyến đường vừa thi công vừa đảm 6 bảo giao thông. + Ở Liên Xô thường dùng cấp phối đá dăm gia cố xi măng để làm lớp móng của kết cấu áo đường trên một số trục đường chính và đường thành phố. Theo quy phạm thiết kế mặt đường BCH 46-72, vật liệu đá gia cố xi mãng được xem là một loại vật liệu chủ yếu để dùng làm lớp móng.
+ Ở Mỹ kỹ thuật làm lớp móng bằng vật liệu đá dăm gia cố xi măng được sử dụng khá phổ biến, trong đó vật liệu cấp phối đá dăm gia cố xi măng được chia làm 2 cấp: cấp A với tỷ lệ gia cố xi măng từ 3,5% đến 6%, cấp B với tỷ lệ từ 2,5% đến 4,9% so vói khối lượng đá. + Ở Anh, Hà Lan, Tây Đức. thường dùng lớp móng bê tông nghèo với tỷ lệ xi măng từ 5% đến 7% trong các kết cấu mặt đường cấp cao. - Thực hiện nghiêm túc chiến lược phát triển giao thông vận tải mà Chính phủ đề ra, ngành GTVT đã đạt được nhiều thành tựu và từng bước hoàn thiện hệ thống GTVT để đáp ứng được các yêu cầu mà xã hội đặt ra trong toàn bộ quá trình phát triển đến hiện nay.
Các thành tựu này cũng đánh dấu những chuyển biến mạnh mẽ trong việc phát huy tối đa năng lực ngành GVTV, những thay đổi rõ rệt trong đầu tư con người, đầu tư công nghệ thi công, thay đổi và phát triển vật liệu xây dựng, ứng dụng công nghệ tiên tiến. - Theo quy hoạch phát triển GTVT Việt Nam đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030 như sau: + Về vận tải khách và vận tải hàng hóa: phấn đấu đến năm 2020, vận chuyển 5,5 tỷ hành khách với 165,5 tỷ hành khách luân chuyển; khối lượng hàng hóa vận chuyển ỉà 760 triệu tấn với 35 tỷ tấn hàng hóa luân chuyển; có khoảng 2,8 - 3 triệu phương tiện xe ô tô các loại. + Nhanh chóng phát triển giao thông vận tải xe buýt tại các đô thị lớn, đặc biệt là Thủ đô Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh; phát triển giao thông tĩnh và giao thông tiếp cận cho người khuyết tật; kiểm soát sự gia tăng 7 phương tiện vận tải cả nhân; giải quyết ùn tắc giao thông và bản đảm trật tự an toàn giao thông đô thị. + Đồng thời, đưa vào cấp kỹ thuật hệ thống đường bộ hiện có, nhanh chóng triển khai xây dựng hệ thống đường bộ cao tốc theo quy hoạch, đặc biệt là tuyến cao tốc Bắc Nam, phát triển mạnh mẽ giao thông đô thị.
+ Mục tiêu cụ thể đặt ra đến năm 2020, xây dựng 24 tuyến, đoạn tuyến cao tốc với tổng chiều dài khoảng 2.381 km; 100% qùốc lộ vào đúng cấp kỹ thuật; hoàn thành xây dựng các cầu lớn, thay thế 100% cầu yếu trên quốc lộ; 100% đường tỉnh được rải mặt nhựa hoặc bê tồng xi măng; 100% xã, cụm xã có đường ô tô đến trung tâm, xóa 100% cầu khỉ. + Phát triển giao thông vận tải địa phương đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp - nông thôn, gắn kết được mạng GTVT địa phương với mạng giao thông quốc gia, tạo sự thông suốt, chi phí vận tải hợp lý, phù họp với đa số người dân. + Định hướng đến năm 2030, hoàn thiện và cơ bản hiện đại hóa mạng lưới kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ; tiếp tục xây dựng các đoạn tuyến, tuyến đường bộ cao tốc, đường đô thị, đường vành đai. - Như vậy việc phát triển hệ thống giao thông của nước ta hiện nay còn rất nhiều việc phải làm để đáp ứng được các mục tiêu của Chính phủ giao cho.
Các loại vật liệu được sử dụng làm lớp móng đường ô tô ở nước ta: 1. Các loại kết cấu áo đường hiện nay ở nước ta: Kết cấu áo đường ô tô ở nước ta có 2 loại chính: Áo đường mềm và Áo đường cứng, tương ứng được quy định chuẩn ngành: + 22TCN 211-06: Áo đường mềm - Các yêu cầu và chỉ dẫn thiết kế [6]. + 22TCN 223-95: Quy trình thiết kế áo đường cứng. 8 Ngoài ra, còn một số loại kết cấu áo đường cấp thấp được quy định Tiêu chuẩn thiết kế đường giao thông nông thôn.
+ Đường giao thông nông thôn - Tiêu chuẩn thiết kế 22TCN 210-92. Về kết cấu áo đƣờng mềm: Kết cấu áo đường mềm (hay gọi là áo đường mềm) gồm có tầng mặt làm bằng các vật liệu hạt hoặc các vật liệu hạt có trộn nhựa hay tưới nhựa đường và tầng móng làm bằng các loại vật liệu khác nhau đặt trực tiếp trên khu vực tác dụng của nền đường hoặc trên lớp đáy móng. • Tầng mặt áo đường mềm cấp cao có thể có nhiều lớp gồm lớp tạo nhám, tạo phẳng hoặc lớp bảo vệ, lớp hao mòn ở trên cùng (đây là các lớp không tính vào bề dày chịu lực của kết cấu mà là các lớp có chức năng hạn chế các tác dụng phá hoại bề mặt và trực tiếp tạo ra chất lượng bề mặt phù hợp với yêu cầu khai thác đường) rồi đến lớp mặt trên và lớp mặt dưới là các lớp chịu lực quan trọng tham gia vào việc hình thành cường độ của kết cấu áo đường mềm. • Tầng móng cũng thường gồm lớp móng trên và lớp móng dưới (các lớp này cũng có thể kiêm chức năng lớp thoát nước).
Chia làm hai loại móng: + Móng mềm: Là các lớp móng làm bằng các loại vật liệu hạt như cấp phối đá dăm; cấp phối sỏi cuội, cát, đất dính; cấp phối đồi; xỉ phế thải công nghiệp; đá dăm; đất hoặc các lớp móng làm bằng các loại vật liệu hạt có gia cố các loại nhựa đường. (Vật liệu hạt là một tập hợp các hạt rời có kích cỡ từ 0 đến D (D là kích cỡ hạt lớn nhất) trong đó cường độ liên kết giữa các hạt luôn nhỏ hơn nhiều so với cường độ bản thân mỗi hạt và do đó cường độ chung của một lớp vật liệu hạt được đặc trưng bằng sức chống cắt trượt của lớp. Lớp kết cấu bằng vật liệu hạt không có tính liền khối.