LỜI MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Với bối cảnh nền kinh tế toàn cầu và trong nƣớc lạm phát còn cao, các doanh nghiệp Việt Nam đang phải đƣơng đầu với không ít những thách thức và khó khăn, để tồn tại và đứng vững trên con đƣờng hoạt động sản xuất kinh doanh của mình thì kế toán là một phần không thể thiếu đối với mỗi doanh nghiệp. Thông qua chức năng thu nhận, cung cấp và xử lý thông tin về các quá trình kinh tế - tài chính của doanh nghiệp, về tình hình lao động tiền lƣơng từ đó kế toán giúp cho các nhà quản lý đề ra các quyết định đúng đắn và có hiệu quả trong quá trình hoạt động của mình. Việc quản lý và sử dụng lao động phù hợp sẽ là biện pháp khuyến khích phát huy sáng kiến của ngƣời lao động nhằm nâng cao năng suất lao động.
Để đạt đƣợc mục đích trên, việc hạch toán tiền công, tiền lƣơng chính xác và kịp thời sẽ đem lại lợi ích cho ngƣời lao động, đảm bảo cho họ một mức sống ổn định, tạo điều kiện cho họ cống hiến khả năng và sức lao động. Luôn luôn đi liền với tiền lƣơng là các khoản trích theo lƣơng bao gồm: BHXH, BHYT, KPCĐ. Đây là các quỹ xã hội thể hiện sự quan tâm của toàn xã hội dành cho mọi ngƣời lao động. Mặt khác việc tăng cƣờng công tác, quản lý lao động, kế toán tiền lƣơng và các khoản trích theo lƣơng một cách khoa học sẽ tiết kiệm đƣợc chi phí nhân công, đẩy mạnh hoạt động sản xuất và hạ giá thành sản phẩm Hiểu đƣợc ý nghĩa và tầm quan trọng đó, trong quá trình học tập và tìm hiểu thực tế tại công ty TNHH Công nghệ Đài Việt, em đã chọn đề tài “Nghiên cứu công tác kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại công ty TNHH Công nghệ Đài Việt, Hà Nội” làm chuyên đề thực tập tốt nghiệp của mình.
Mục tiêu nghiên cứu Nghiên cứu công tác kế toán tiền lƣơng và các khoản trích theo lƣơng tại công ty TNHH Công nghệ Đài Việt. Nội dung nghiên cứu - Cơ sở lý luận về công tác kế toán tiền lƣơng trong doanh nghiệp - Phân tích đặc điểm cơ bản của công ty TNHH Công nghệ Đài Việt. - Thực trạng công tác kế toán tiền lƣơng và các khoản trích theo lƣơng tại công ty TNHH Công nghệ Đài Việt. 1 - Đề xuất một số ý kiến góp phần hoàn thiện công tác kế toán tiền lƣơng và các khoản trích theo lƣơng tại công ty TNHH Công nghệ Đài Việt.
Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu - Đối tƣợng nghiên cứu: Công tác kế toán tiền lƣơng và các khoản trích theo lƣơng tại công ty TNHH Công nghệ Đài Việt. - Phạm vi nghiên cứu : + Về không gian : Nghiên cứu trong phạm vi công ty TNHH Công nghệ Đài Việt, Hà Nội + Về thời gian : Nghiên cứu công tác kế kế toán tiền lƣơng và các khoản trích theo lƣơng tại công ty trong tháng 12/2019. Phƣơng pháp nghiên cứu - Phƣơng pháp thu thập số liệu: + Khảo sát thực tiễn công tác kế toán tiền lƣơng và các khoản trích theo lƣơng tại Công ty. + Thu thập số liệu đã có sẵn của công ty thông qua sổ sách từ các phòng ban trong Công ty.
- Phƣơng pháp xử lý số liệu: + Phƣơng pháp thống kê kinh tế: từ các số liệu thu thập đƣợc tiến hành tổng hợp, tính toán các chỉ tiêu so sánh nhƣ tỷ trọng, tốc độ phát triển bình quân, tốc độ tăng trƣởng liên hoàn; số tƣơng đối, tuyệt đối. + Phƣơng pháp phân tích kinh tế: từ số liệu thống kê tiến hành so sánh, phân tích chi tiết để rút ra đƣợc nhận xét chung cho hoạt động kế toán tiền lƣơng và các khoản trích theo lƣơng của Công ty cần tìm hiểu. Kết cấu khóa luận Khóa luận đƣợc chia làm 3 chƣơng Chƣơng 1 : Lý luận chung về kế toán tiền lƣơng và các khoản trích theo lƣơng trong doanh nghiệp Chƣơng 2 : Đặc điểm cơ bản của công ty TNHH Công nghệ Đài Việt, Hà Nội Chƣơng 3 : Thực trạng kế toán tiền lƣơng và các khoản trích theo lƣơng tại Công ty TNHH Công nghệ Đài Việt và đề xuất giải pháp. 2 Chƣơng 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN TIỀN LƢƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƢƠNG TRONG DOANH NGHIỆP 1.
Lý luận về tiền lƣơng và các khoản trích theo lƣơng trong doanh nghiệp 1. Khái niệm Tiền lƣơng là phần thù lao lao động đƣợc biểu hiện bằng tiền mà doanh nghiệp trả cho ngƣời lao động căn cứ vào thời gian, khối lƣợng và chất lƣợng công việc của họ. Về bản chất, tiền lƣơng chính là biểu hiện bằng tiền của giá cả sức lao động. Mặt khác, tiền lƣơng còn là đòn bẩy kinh tế để khuyến khích tinh thần hăng say lao động.
Chức năng của tiền lương - Chức năng tái sản xuất sức lao động: Cùng với quá trình tái sản xuất của cải vât chất, sức lao động cũng cần phải đƣợc tái tạo. Quá trình tái sản xuất sức lao động đƣợc thực hiện bởi việc trả công cho ngƣời lao động thông qua tiền lƣơng. Nhƣ vậy bản chất của tái sản xuất sức lao động nghĩa là đảm bảo cho ngƣời lao động có một số lƣợng tiền lƣơng sinh hoạt nhất định để họ có thể: + Duy trì và phát triển sức lao động của chính mình. +Sản xuất ra sức lao động mới.
+ Tích lũy kinh nghiệm, nâng cao trình độ để hình thành kỹ năng lao động, tăng cƣờng chất lƣợng lao động. - Chức năng là đòn bẩy kinh tế: Thực tế cho thấy rằng khi đƣợc trả công xứng đáng thì ngƣời lao động sẽ làm việc tích cực, sẽ không ngừng hoàn thiện mình hơn nữa và ngƣợc lại, nếu ngƣời lao động không đƣợc trả lƣơng xứng đáng với công sức của họ bỏ ra thì sẽ có những biểu hiện tiêu cực không thuận lợi cho lợi ích của doanh nghiệp. Do đó cần thực hiện đánh giá đúng năng lực và công lao động của ngƣời lao động đối với sự phát triển của doanh nghiệp, để tính tiền lƣơng trở thành công cụ quản lý khuyến khích vật chất và là động lực thúc đẩy sản xuất phát triển. - Chức năng điều tiết lao động: Trong quá trình thực hiện kế hoạch phát triển cân đối giữa các ngành, nghề ở các vùng trên toàn quốc, nhà nƣớc thƣờng thông qua hệ thống thang bảng lƣơng, các chế độ phụ cấp cho từng ngành nghề, từng vùng để 3 làm công cụ điều tiết lao động.
Nhờ đó tiền lƣơng đã góp phần tạo ra một cơ cấu hợp lý tạo điều kiện cho sự phát triển của xã hội. - Chức năng thƣớc đo hao phí lao động xã hội: Khi tiền lƣơng đƣợc trả cho ngƣời lao động ngang với giá trị sức lao động mà họ bỏ ra trong quá trình thực hiện công việc thì xã hội có thể xác định chính xác hao phí lao động của toàn thể cộng đồng thông qua tổng quỹ lƣơng cho toàn thể ngƣời lao động. Điều này có nghĩa trong công tác thống kê, giúp nhà nƣớc hoạch định các chính sách điều chỉnh mức lƣơng tối thiểu để đảm bảo hợp lý thực tế luôn phù hợp với chính sách của nhà nƣớc. - Chức năng công cụ quản lý nhà nƣớc: Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh ngƣời sử dụng lao động đứng trƣớc hai sức ép là chi phí sản xuất và kết quả sản xuất.
Họ thƣờng tìm mọi cách có thể để làm giảm thiểu chi phí trong đó có tiền lƣơng trả cho ngƣời lao động. Bộ luật lao động ra đời, trong đó có chế độ tiền lƣơng, bảo vệ quyền làm việc, lợi ích và các quyền khác của ngƣời lao động đồng thời bảo vệ quyền lợi ngƣời lao động và lợi ích hợp pháp của ngƣời lao động, tạo điều kiện cho mối quan hệ lao động đƣợc hài hoà và ổn định góp phần phát huy trí sáng tạo và tài năng của ngƣời lao động nhằm đạt năng suất, chất lƣợng và tiến bộ xã hội trong lao động, sản xuất, dịch vụ, tăng hiệu quả sử dụng và quản lý lao động. Với các chức năng trên ta có thể thấy tiền lƣơng đóng một vai trò quan trọng việc thúc đẩy sản xuất và phát triển phát huy tính chủ động, sáng tạo của ngƣời lao động, tăng năng suất lao động và tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh. Các hình thức trả lương trong doanh nghiệp * Trả lƣơng theo thời gian: Chủ yếu áp dụng với những ngƣời làm công tác quản lý.
Đây là hình thức trả lƣơng cho ngƣời lao động căn cứ vào thời gian làm việc thực tế. Ở hình thức này có hai cách trả lƣơng là: Trả lƣơng theo thời gian giản đơn và trả lƣơng theo thời gian có thƣởng tuỳ thuộc vào đặc điểm, quy mô sản xuất kinh doanh hoặc là quy định của từng doanh nghiệp. - Phƣơng pháp tính: Lương cơ bản + phụ cấp Số ngày làm việc thực Lương tháng = x Số ngày công quy định tế trong tháng Trong đó: - Lƣơng cơ bản: Là mức lƣơng đƣợc quy định trong hợp đồng lao động. 4 - Phụ cấp: Là các khoản phụ cấp ngoài lƣơng nhƣ: + Tiền ăn trƣa + Tiền xăng xe + Điện thoại + Trang phục,… - Số ngày công quy định: Thông thƣờng bộ phận văn phòng 26 ngày; bộ phận bảo vệ và nấu ăn 30 ( hoặc 31) ngày tùy từng tháng; bộ phận còn lại 27 ( hoặc 28) ngày tùy từng tháng.
- Ngày làm việc thực tế: Là số ngày ngƣời lao động thực tế làm việc tại doanh nghiệp. * Trả lƣơng theo sản phẩm: Là hình thức trả lƣơng cho ngƣời lao động căn cứ vào số lƣợng, chất lƣợng sản phẩm họ làm ra. Việc trả lƣơng theo sản phẩm có thể tiến hành theo nhiều hình thức khác nhau nhƣ trả lƣơng theo sản phẩm trực tiếp, trả lƣơng theo sản phẩm gián tiếp. - Phƣơng pháp tính lƣơng: Khối lượng sản Lương sản = Đơn giá tiền lương x phẩm hoàn phẩm thành - Trả lƣơng khoán: Là hình thức trả lƣơng cho ngƣời lao động theo khối lƣợng và chất lƣợng công việc mà họ hoàn thành trong một thời gian nhất định.
Quỹ tiền lương Quỹ lƣơng của doanh nghiệp là toàn bộ tiền lƣơng và các khoản trích theo lƣơng mà doanh nghiệp trả cho tất cả lao động thuộc doanh nghiệp quản lý. Các khoản lƣơng đƣợc chi trả nhƣ sau : - Tiền lƣơng tính theo thời gian, sản phẩm và tiền lƣơng khoán. - Tiền lƣơng trả cho ngƣời lao động tạo ra sản phẩm hỏng trong phạm vi chế độ quy định. - Tiền lƣơng trả cho ngƣời lao động trong thời gian ngừng việc sản xuất do nguyên nhân khách quan, trong thời gian lao động và đƣợc điều đi công tác, đi làm nghĩa vụ, thời gian nghỉ phép, đi học.