Mở đầu Chương 2: Cơ sở lý luận về kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương Chương 3: Thực trạng kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại Công ty CP Happyco Chương 4: Nhận xét và kiến nghị 10 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ KẾ TOÁN TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG 2.1 Khái niệm Tiền lương là giá cả của lao động, được xác định bởi quan hệ cung cầu trên thị trường lao động. Tiền lương là một bộ phận của sản phẩm xã hội biểu hiện bằng tiền được trả cho người lao động dựa trên số lượng và chất lượng lao động của mọi người dùng để bù đắp lại hao phí lao động của họ và nó là một vấn đề thiết thực đối với cán bộ công nhân viên. Tiền lương được quy định một cách đúng đắn, là yếu tố kích thích sản xuất mạnh mẽ, nó kích thích người lao động ra sức sản xuất và làm việc, nâng cao trình độ tay nghề, cải tiến kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất lao động. Người lao động sau khi sử dụng sức lao động tạo ra sản phẩm thì được trả một số tiền công nhất định.
Xét về hiện tượng ta thấy sức lao động được đem trao đổi để lấy tiền công. Vậy có thể coi sức lao động là hàng hoá, một loại hàng hoá đặc biệt. Và tiền lương chính là giá cả của hàng hoá đặc biệt đó, hàng hoá sức lao động. Vì hàng hoá sức lao động cần được đem ra trao đổi trên thị trường lao động trên cơ sở thoả thuận giữa người mua với người bán, chịu sự tác động của quy luật giá trị, quy luật cung cầu.
Mặt khác giá tiền công có biến động như thế nào thì cũng phải đảm bảo mức sống tối thiểu để người lao động có thể tồn tại và tiếp tục lao động.2 Ý nghĩa, nhiệm vụ và chức năng của kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương Tiền lương là yếu tố cơ bản để quyêt định thu nhập tăng hay giảm của người lao động, quyết định mức sống vật chất của người lao động làm công ăn lương trong doanh nghiệp. Vì vậy để có thể trả lương một cách công bằng chính xác, đảm bảo quyền lợi cho người lao động thì mới tạo ra sự kích thích, sự quan tâm đúng đắn của người lao động đến kết quả cuối cùng của doanh nghiệp. Có thể nói hạch toán chính xác đúng đắn tiền lương là một đòn bẩy kinh tế quan trọng để kích thích các nhân tố 11 tích cực trong mỗi con người, phát huy tài năng, sáng kiến, tinh thần trách nhiệm và nhiệt tình của người lao động tạo thành động lực quan trọng của sự phát triển kinh tế. Tiền lương và các khoản trích theo lương sẽ là nguồn thu nhập chính, thường xuyên của người lao động, đảm bảo tái sản xuất và mở rộng sức lao động.
Ngoài tiền lương người lao động còn được trợ cấp các khoản phụ cấp, trợ cấp BHXH, BHYT. các khoản này cũng góp phần trợ giúp, động viên người lao động và tăng thêm cho họ trong các trường hợp khó khăn tạm thời hoặc vĩnh viễn mất sức lao động. Trong trường hợp người lao động tạm thời hay vĩnh viễn mất sức lao động như khi bị ốm đau, thai sản, tai nạn nhằm giảm bớt khó khăn trong cuộc sống, đó là khoản trợ cấp nhằm giảm bớt khó khăn hay tử tuất. sẽ được hưởng khoản trợ cấp nhằm giảm bớt khó khăn trong cuộc sống, đó là khoản trợ cấp bảo hiểm xã hội.
BHXH chính là các khoản tính vào chi phí để hình thành lên quỹ BHXH, sử dụng để chi trả cho người lao động trong những trường hợp tạm thời hay vĩnh viễn mất sức lao động. Khoản chi trợ cấp BHXH cho người lao động khi bị ốm đau, thai sản, tại nạn lao động. được tính trên cơ sở lương, chất lượng lao động và thời gian mà người lao động đã cống hiến cho xã hội trước đó. Nhằm xã hội hoá việc khám chữa bệnh, người lao động còn được hưởng chế độ khám chữa bệnh không mất tiền bao gồm các khoản chi về viện phí, thuốc men, khi bị ốm đau.
Điều kiện để người lao động khám chữa bệnh không mất tiền là người lao động phải có thẻ bảo hiểm y tế. Thẻ BHYT được mua từ tiền trích BHYT. Đây là chế độ chăm sóc sức khoẻ cho người lao động. Ngoài ra để phục vụ cho hoạt động của tổ chức công đoàn được thành lập theo luật công đoàn, doanh nghiệp phải trích theo tỷ lệ quy định trên tiền lương phải trả và được tính vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ.5 Phân loại tiền lương a.
Phân loại theo hình thức trả lương - Tiền lương theo thời gian ngày, tháng, giờ: Tiền lương theo tháng là khoản tiền lương trả cố định theo định kì hàng tháng cho người làm cố định được quy định trong hợp đồng, tháng lương, bậc lương cơ bản do nhà nước quy định. Tiền lương ngày là khoản tiền lương trả cho một ngày làm việc 12 và được xác định bằng cách lấy tiền lương tháng chia cho số ngày làm việc trong tháng theo chế độ. Tiền lương giờ là tiền lương trả cho một người làm việc và tính bằng cách lấy tiền lương ngày chia cho số giờ làm việc trong ngày. - Tiền lương theo sản phẩm: Tiền lương tính theo sản phẩm trực tiếp là khoản tiền lương phải trả cho người lao động được tính trực tiếp cho sản phẩm người lao động đã hoàn thành theo đúng quy cách, kích cỡ, chất lượng và đơn giá tiền lương theo sản phẩm đã được quy định.
Tiền lương tính theo sản phẩm gián tiếp là khoản tiền lương trả cho người lao động ở bộ phận điều khiển các loại thiết bị, máy móc hoặc vận chuyển các nguyên vật liệu hay thành phẩm. Tiền lương tính theo sản phẩm có thưởng có phạt là khoản tiền lương trả theo sản phẩm trực tiếp, ngoài ra sẽ được thưởng thêm nếu chất lượng tốt, năng suất cao và tối ưu được khoản chi phí như: vật tư, nhiên liệu,.và sẽ bị phạt khi vi phạm các lỗi theo các quy định của công ty. - Tiền lương theo sản phẩm lúy tiến: Chế độ này áp dụng hai loại đơn giá để trả cho những sản phẩm thực tế đã hoàn thành và đơn giá lũy tiến dùng để tính trả cho những sản phẩm vượt mức - Tiền lương khoán theo khối lượng công việc: Được áp dụng cho những công việc nếu giao từng chi tiết bộ phận sẽ không có lợi, mà phải giao toàn bộ khối lượng cho công nhân(nhóm công nhân) hoàn thành trong một thời gian nhất định, chế độ này áp dụng cho cả cá nhân và tập thể. Phân loại theo tính chất lương: Tiền lương được chia thành hai loại - Tiền lương chính: là tiền lương trả cho người lao động trong thời gian trực tiếp làm việc bao gồm cả tiền lương cấp bậc, tiền thưởng và các khoản phụ cấp có tính chất lương.
- Tiền lương phụ: là tiền lương trả cho người lao động trong thời gian thực tế không làm việc nhưng chế độ được hưởng lương quy định như: nghỉ phép, hội họp, lễ, tết, ngừng sản xuất. Phân loại theo chức năng tiền lương Theo cách phân loại này tiền lương được chia thành hai loại: 13 - Tiền lương trực tiếp: là tiền lương trả cho người lao động trực tiếp sản xuất hay cung ứng dịch vụ - Tiền lương gián tiếp: là tiền lương trả cho người lao động tham gia gián tiếp vào quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Đối tượng trả lương Được chia thành 3 loại: - Tiền lương sản xuất: là tiền lương trả cho các đối tượng thực hiện chức năng sản xuất. - Tiền lương bán hàng: là tiền lương trả cho các đối tượng thực hiện chức năng bán hàng.
- Tiền lương quản lý: là tiền lương trả cho các đối tượng thực hiện chức năng quản lý.2 Các hình thức trả lương và tính lương trong doanh nghiệp 2.1 Trả lương theo thời gian Khái niệm: Trả công theo thời gian là việc trả công dựa vào thời gian lao động thực tế của người lao động. Trong hình thức trả công theo thời gian , tiền công của người lao động được tính toán dựa trên cơ sở mức tiền công đã được xác định cho công việc và số đơn vị thời gian làm việc, với điều kiện họ phải đáp ứng các tiêu chuẩn thực hiện công việc tối thiểu đã được xây dựng từ trước. Cách tính lương theo thời gian Thời gian tính và trả lương có thể theo tháng, ngày hay giờ nhưng DN hiện nay chủ yếu tính và trả lương theo tháng. Cách tính 1: Lương tháng = (lương + phụ cấp nếu có) / ngày công chính xác của tháng * số ngày làm việc thực tế Người lao động nghỉ bao nhiêu ngày thì bị trừ số lương tương ứng với số ngày nghỉ không hưởng lương theo công thức: Lương bị trừ khi nghỉ không lương = Lương tháng – lương tháng / ngày công chính xác của tháng * số ngày nghỉ không lương Cách tính 2: Lương tháng = (lương + phụ cấp nếu có) / 26 * số ngày làm việc thực tế 14 Ở cả 2 cách tính lương tháng ở trên chỉ khác nhau ở số ngày công chính xác của tháng hoặc cố định 1 ngày ở tất cả các tháng tính lương.
Ví dụ: ở công thức 1 nếu tính lương cho tháng 1 thì số ngày công chính xác là 27 (trừ 4 ngày chủ nhật), còn tháng 2 thì số ngày công chính xác của tháng là 24 ngày (trử 4 ngày chủ nhật). Còn cố định ở công thức 2 thì luôn lấy con số 26 làm số ngày công chuẩn trong tháng. Người lao động sẽ cân nhắc nên nghỉ tháng nào để tiền lương của họ ít ảnh hưởng nhất. Ví dụ: nghỉ 2 ngày trong tháng 1 thì trong công thức sẽ nhân với con số 25, còn nghỉ 2 ngày trong tháng 2 thì trong công thức sẽ nhân với con số 22.
Ví dụ: Tháng 1/N có 31 ngày, nghỉ 4 ngày chủ nhật, 27 ngày đi làm, Doanh nghiệp trả lương cho công nhân A là 5 triệu đồng (nếu đi làm đủ 27 ngày) Nếu tính lương theo cách 1: Lương tháng = 5.000 Nếu tính lương theo cách 2: Lương tháng = 5.308 Hai cách tính này có cho 2 kết quả khác nhau nếu giả sử các yếu tố tính lương giống nhau. Vì vậy, Doanh nghiệp tính lương cho người lao động theo cách nào thì phải ghi rõ trên hợp đồng lao động hoặc quy chế lương, thưởng của Doanh nghiệp. Trả lương theo sản phẩm Đây là hình thức trả lương phổ biến ở các doanh nghiệp sản xuất. Doanh nghiệp trả lương cho người lao động theo số lượng cũng như chất lượng sản phẩm hoặc theo công việc đã hoàn thành.