Chương 1 : GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI Chương 2 : TỔNG QUAN VỀ LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU Chương 3: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG Chương 4: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KẾ TOÁN THUẾ GTGT CỦA CÔNG TY TNHH THƯƠNG MẠI LARIA – SIÊU THỊ FARMERS MARKET Chương 5: GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KẾ TOÁN THUẾ GTGT TẠI CÔNG TY TNHH THƯƠNG MẠI – SIÊU THỊ FARMERS MARKET 5 2. CHƯƠNG 2 : TỔNG QUAN VỀ LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU 2. CÁC NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI Tác giả Kamala Sagita (2023) đã thực hiện bài viết “Analysis of Tax Collection on Revenue from Tax Arrears (Empirical Study at KPP Pratama Tampan)” tác giả cho rằng thuế là một hình thức thu nhập cho ngân sách ngân sách chiếm tỷ lệ lớn nhất so với ngành thu nhập khác. Sự thành công của một quốc gia trong việc đánh thuế từ công dân của mình chắc chắn có lợi cho sự ổn định kinh tế của quốc gia.
Tính bền vững của doanh thu thuế nhà nước từ ngành thuế là nguồn thu chính của ngân sách quốc gia. Bài nghiên cứu đã so sánh số liệu phân tích tổng quan về dữ liệu mục tiêu và doanh thu thuế năm 2017 – 2019 tại KPP Pratama Penkanbaru Tampan, Indonesia. CÁC NGHIÊN TRONG NƯỚC Bài nghiên cứu “Kế toán thuế GTGT cho Công Ty Khách hàng Công Ty TNHH Aztech tại Công ty TNHH Aztax” của tác giả Lê Minh Thùy (2023). Khóa luận tốt nghiệp phân tích rất rõ về các thực trạng công tác kế toán thuế GTGT cho Công Ty Khách hàng Công Ty TNHH Aztech tại Công Ty TNHH Aztax từ đó tác giả đưa các kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện công tác thuế GTGT tại Công ty tuy nhiên các kiến nghị của tác giả vẫn còn hơi khá sơ xài so với phần phân tích thực trạng ở trên.
Đồng thời điểm sáng của bài, tác giả đã so sánh kết quả kinh doanh tại Công ty khách hàng bằng Bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ làm căn cứ. Bài nghiên cứu “Kế toán thuế Giá trị gia tăng tại Công Ty Trách Nhiệm Hữu Hạn Sản Xuất Thương Mai Dịch Vụ Hùng Phong” của tác giả Nguyễn Tuấn Hùng (2023). Khóa luận tốt nghiệp đưa ra các cơ sở lý thuyết mạch lạc và đầy đủ đồng thời tác giả đưa ra những đánh giá ưu , nhược điểm của công tác kế toán thuế GTGT. Tác giả còn đặc biệt tạo khảo sát về thực trạng kế toán thuế GTGT tại Công ty đang công tác , khảo sát đã đánh giá được khách quan về môi trường làm việc tại công ty đồng 6 thời đánh giá khả năng nghiệp vụ của các nhân viên kế toán và các rủi ro khó khăn mà kế toán viên gặp phải trong quá tình kiểm tra, tuân thủ thuế GTGT.
Bài nghiên cứu “Kế toán thuế giá trị gia tăng tại Công ty TNHH Du lịch và Sự kiện Việt Nam” của tác giả Nguyễn Ngọc Hân (2024) đã phân tích công tác kế toán thuế GTGT tại Công ty TNHH Du lịch và Sự kiện Việt Nam. Tác giả đã phân tích rất chi tiết về phần nghiệp vụ kinh tế phát sinh của thuế GTGT được khấu trừ, thuế GTGT phải nộp cụ thể tác giả nêu rõ quá trình lúc nhận hóa đơn GTGT từ bên phía đối tác hay bán ra cho đơn vị khác cho đến lúc hạch toán hóa đơn vào phần mềm của công ty.Tiếp theo, tác giả cũng nêu rõ những ưu điểm và hạn chế đang còn tồn tại ở Công ty. Ở phần hạn chế, tác giả cho rằng một nhân viên không thể đảm nhiệm nhiều công việc cùng một lúc điều đó sẽ xảy ra sai sót trong quá trình làm việc hay phần khâu lập chứng từ hóa đơn, tác giả nêu rõ vấn đề khó khăn như nhầm lẫn các mức thuế suất, hay địa chỉ, đơn vị mua hàng. Đồng thời những hạn chế trên đã được tác giả đề xuất những giải pháp nhằm cải thiện bộ máy kế toán tại Công ty.
Bài nghiên cứu về “Vai trò của thuế giá trị gia tăng và nhiệm vụ của doanh nghiệp trong việc kê khai, nộp thuế giá trị gia tăng” của tác giả Vũ Thị Hòa và Nguyễn Thị Kim Oanh (2023). Trong bài nghiên cứu của tác giả đã nêu những luận điểm nổi bật về vai trò của thuế GTGT cụ thể. Thứ nhất, thuế GTGT làm tăng nguồn thu cho NSNN và điều tiết xã hội, thứ hai thuế GTGT góp phần thúc đẩy lưu thông hàng hóa bằng việc thực hiện áp thuế GTGT khiến giảm giá thành ví dụ các công trình đầu tư xây dựng,. Thứ ba, thuế GTGT giúp góp phần khuyến khích xuất khẩu, cụ thể những hàng hóa được áp mức thuế suất 0%, tức là toàn bộ thuế GTGT được nộp vào được hoàn lại điều này là việc Nhà nước trợ giá cho hàng hóa xuất khẩu giúp cho các doanh nghiệp tập trung vào hàng hóa để xuất khẩu ra nước ngoài.
Tiếp theo đó, tác giả nêu nhiệm vụ của doanh nghiệp trong việc kê khai, nộp thuế GTGT bằng việc xác định cơ sở tính thuế GTGT để làm căn cứ xác định nghĩa vụ nộp thuế GTGT từ việc xác định số tiền nộp thuế, doanh nghiệp cần thực hiện nghĩa vụ thuế GTGT bằng cách lập và nộp báo cáo thuế GTGT để xác định số tiền thuế GTGT cần phải nộp cho Ngân sách Nhà nước. Bên cạnh đó, doanh nghiệp cần phải quan tâm những công việc khác 7 có liên quan đến thuế GTGT như thường xuyên cập nhật những thông tin mới nhất về thuế GTGT như các chính sách pháp luật về thuế GTGT. Từ những bài nghiên cứu của những người đi trước cho tôi thấy rằng những ưu điểm và những mặt thiếu xót trong công tác kế toán thuế GTGT của các doanh nghiệp. Trải nghiệm hơn nhiều tháng thực tập tại đây, tôi đã tích lũy được nhiều kiến thức để thực hiện bài nghiên cứu “Kế toán thuế GTGT tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thương mại Laria – Farmers Market”.
Bài nghiên cứu sẽ được tác giả phân tích những điểm tốt và những điểm chưa tốt nhằm đưa tới một góc nhìn rõ ràng hơn về bộ máy kế toán thuế GTGT tại đơn vị qua đó đưa ra những giải pháp, góp ý giúp hoàn thiện công tác kế toán thuế GTGT của doanh nghiệp. 8 TÓM TẮT CHƯƠNG 2 Trong chương này, tác giả trình bày và tổng hợp các nghiên cứu trước đây liên quan đến kế toán thuế giá trị gia tăng trong các doanh nghiệp.Chương này chỉ ra cách tiếp cận nghiên cứu, dữ liệu được sử dụng và kết quả từ những nghiên cứu đó. Nhờ đó, tác giả có nền tảng vững chắc để tiến hành xây dựng phần lý thuyết và chọn phương pháp nghiên cứu cho các chương 3. CHƯƠNG 3: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG 3.
Những vấn đề cơ bản về thuế GTGT trong doanh nghiệp 3. Khái niệm về thuế GTGT Thuế GTGT được định nghĩa về Thuế GTGT được quy định tại Điều 2 Luật số 13/2008/QH12 ngày 03/05/2008 như sau: “Thuế giá trị gia tăng là thuế tính trên giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng” Theo định nghĩa thì thuế GTGT sẽ được hiểu là loại thuế đánh trên phần giá trị tăng thêm mà không phải trên toàn bộ giá trị hàng hóa, dịch vụ. Tiếp theo đó, theo quy định tại Điều 4 Luật Thuế giá trị gia tăng 2008 thì: “Người nộp thuế giá trị gia tăng bao gồm các tổ chức và cá nhân hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh hàng hóa và dịch vụ phải chịu mức thuế này (gọi tắt là cơ sở kinh doanh), cũng như các tổ chức và cá nhân thực hiện nhập khẩu hàng hóa chịu thuế giá trị gia tăng (được gọi là người nhập khẩu). Đặc điểm của thuế GTGT Thuế GTGT là loại thuế gián thu Người tiêu dùng là người cuối cùng phải chịu trách nhiệm về việc đóng thuế cho cơ quan thuế.
Thế nhưng, những tổ chức và cá thể kinh doanh buôn bán hàng hóa và dịch vụ lại là những người thi hành nghĩa vụ nộp thuế cho cơ quan nhà nước thay mặt đại diện người tiêu dùng bằng việc (+) thuế GTGT vào giá thành bán mà người tiêu dùng cần phải chi trả khi mua HHDV. Thuế GTGT là lũy thoái với thu nhập Thuế giá trị gia tăng (GTGT) là loại thuế mà những người có thu nhập cao hoặc người tiêu dùng mua sắm hàng hóa và dịch vụ có giá trị cao sẽ phải đóng mức thuế GTGT nặng hơn so với những người có thu nhập thấp hoặc tiêu dùng HHDV có giá trị thấp. Thuế GTGT được tính thuế dựa theo nguyên tắc điểm đến 10 Thuế giá trị gia tăng (GTGT) áp dụng cho các mặt hàng và dịch vụ phục vụ cho việc sản xuất, kinh doanh cũng như tiêu dùng trong nước, không phân biệt những hàng hóa và dịch vụ đó được sản xuất trong nước hay nhập khẩu từ nước ngoài. Thuế GTGT là nhiều giai đoạn không trùng lặp Thuế GTGT áp dụng cho mọi giai đoạn từ sản xuất đến lưu thông,tiêu dùng.
Ở từng giai đoạn, thuế sẽ chỉ được tính trên phần giá trị gia tăng của giai đoạn đó chứ không tính phần thuế GTGT đã bị tính thuế ở các giai đoạn trước. Khi nhìn vào một sản phẩm hoặc dịch vụ cụ thể, tổng số thuế GTGT thu được qua trong toàn bộ các giai đoạn luân chuyển HHDV sẽ tương đương với số thuế được tính vào một phần giá bán cho người tiêu thụ sản phẩm cuối cùng. Do đó, thuế GTGT bản chất là một loại thuế tiêu dùng đã và đang xảy ra trong nhiều giai đoạn mà không có sự trùng lặp. Thuế GTGT có phạm vi điều tiết rộng.
Thuế GTGT là một dạng thuế tiêu dùng phổ biến, áp dụng cho phần lớn các HHDV phục vụ cho nhu cầu của con người. Thông thường, số lượng HHDV được miễn thuế GTGT theo thông lệ quốc tế rất hạn chế. Vai trò của thuế GTGT Thuế GTGT có vai trò điều chỉnh mức thu nhập của các tổ chức và cá nhân khi họ tiêu dùng HHDV thuế GTGT. Thuế GTGT là một nguồn thu quan trọng đối với NSNN, thuế GTGT tạo ra nguồn tài chính lớn và gần như bình ổn trong NSNN.
Góp phần thúc đẩy, khuyến khích các doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu HHDV. Thuế GTGT còn có ý nghĩa thiết yếu trong việc cải thiện hiệu quả của quá trình kế toán và góp phần thúc đẩy tính minh bạch trong các hoạt động mua bán hàng hóa, đồng thời giúp đảm bảo rằng mọi giao dịch đều tuân thủ quy định pháp luật bằng việc lưu trữ đầy đủ chứng từ và hóa đơn. Thuế GTGT được coi là một biện pháp góp phần nhằm ổn định quản lý,điều tiết nền kinh tế vĩ mô của quốc gia.