CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TẠI DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT 1. Những vấn đề cơ bản về chi phí sản xuất và tính giá thành tại doanh nghiệp 1. Chi phí sản xuất 1. Khái niệm Chi phí sản xuất là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí về lao động sống, lao động vật hóa và các chi phí khác mà doanh nghiệp phải chi ra để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh phát sinh trong kỳ.
Phân loại chi phí sản xuất a, Phân loại CPSX theo mục đích và công dụng Theo cách phân loại này thì những chi phí có công dụng như nhau sẽ được xếp vào một yếu tố, bao gồm: * Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: là toàn bộ hao phí về NVL được sử dụng trực tiếp và hợp lý để tạo ra sản phẩm. Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp bao gồm chi phí NVL chính, chi phí NVL phụ, nhiên liệu được dùng trực tiếp trong sản xuất sản phẩm. * Chi phí nhân công trực tiếp: là toàn bộ chi phí tiền lương, tiền phụ cấp phải trả cho nhân công trực tiếp tạo ra sản phẩm và các khoản trích bảo hiểm theo lương (BHXH, BHYT, BHTN, KPCĐ) dựa trên tỷ lệ quy định. * Chi phí sản xuất chung: là các khoản chi phí liên quan đến việc phục vụ và quản lý sản xuất trong phạm vi phân xưởng, đội sản xuất.
Theo nội dung kinh tế, chi phí sản xuất chung bao gồm 6 yếu tố: chi phí nhân viên phân xưởng, chi phí vật liệu, chi phí dụng cụ sản xuất, chi phí khấu hao TSCĐ, chi phí dịch vụ mua ngoài và chi phí khác bằng tiền. Cách phân loại CPSX theo mục đích và công dụng giúp cho doanh nghiệp quản lý CPSX theo định mức, dễ dàng hơn trong việc tính giá thành sản phẩm và 6 phân tích được tình hình thực hiện kế hoạch giá thành sản phẩm từ đó làm cơ sở cho việc lập định mức CPSX và lập kế hoạch giá thành cho những kỳ sau. Phân loại CPSX theo nội dung kinh tế Cách phân loại này chỉ căn cứ vào nội dung, tính chất kinh tế của các khoản chi phí mà không quan tâm chúng phát sinh ở đâu, có công dụng gì và chia CPSX thành 5 yếu tố. Bao gồm: * Chi phí nguyên vật liệu: Bao gồm giá mua và chi phí phát sinh khi mua nguyên, nhiên vật liệu, phụ tùng thay thế mà được sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ.
* Chi phí nhân công: Bao gồm các khoản chi phí tiền lương, tiền phụ cấp phải trả cho người lao động và các khoản trích theo lương (BHXH, BHYT, BHTN, KPCĐ) của người lao động. * Chi phí khấu hao TSCĐ: Bao gồm toàn bộ tiền trích khấu hao của tất cả các TSCĐ sử dụng cho hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp. * Chi phí dịch vụ mua ngoài: Bao gồm toàn bộ tiền doanh nghiệp chi trả cho các dịch vụ mua ngoài như tiền điện, tiền nước, điện thoại và các dịch vụ khác phục vụ cho hoạt động SXKD trong kỳ. * Các chi phí bằng tiền khác: Bao gồm toàn bộ số tiền dùng cho những hoạt động sản xuất kinh doanh khác trong kỳ mà chưa được phản ánh ở các chỉ tiêu trên như tiền tiếp khách, thuê quảng cáo.
Phân loại CPSX theo nội dung kinh tế giúp làm rõ tỷ trọng và kết cấu của từng loại CPSX mà doanh nghiệp đã chi ra trong một kỳ nhất định. Phân loại CPSX theo mối quan hệ giữa chi phí và mức độ hoạt động trong kỳ * Chi phí cố định (định phí): là những khoản chi phí không thay đổi về tổng số khi mức độ hoạt động của doanh nghiệp thay đổi. Nhưng khi xét chi phí trên một đơn vị hoạt động thì chi phí tỷ lệ nghịch với mức độ hoạt động. * Chi phí biến đổi (biến phí): là những khoản chi phí khi xét về tổng số, nó thay đổi tỷ lệ thuận với mức độ hoạt động trong kỳ (có thể là khối lượng sản phẩm 7 sản xuất ra, số giờ máy hoạt động hay doanh thu thực hiện…).
Khi xét trên một đơn vị khối lượng hoạt động, biến phí thường là hằng số với mọi mức hoạt động. * Chi phí hỗn hợp: là loại chi phí bao gồm cả các yếu tố của biến phí và định phí. Ở mức độ căn bản, chi phí hỗn hợp thường biểu hiện đặc điểm của chi phí cố định. Nhưng khi vượt qua mức độ căn bản, nó thường thể hiện đặc điểm của chi phí biến đổi.
Phân loại theo cách này có ý nghĩa quan trọng trong việc thiết kế, xây dựng mô hình chi phí trong mối quan hệ giữa chi phí, khối lượng và lợi nhuận. Giúp nhà quản trị thuận lợi hơn trong việc lập kế hoạch và kiểm tra chi phí, xác định điểm hòa vốn, phân tích tình hình tiết kiệm chi phí sản xuất kinh doanh. Phân loại CPSX theo khả năng quy nạp của chi phí vào các đối tượng kế toán chi phí * Chi phí trực tiếp: là những chi phí phát sinh liên quan trực tiếp đến từng đối tượng chịu chi phí (từng loại sản phẩm, công việc, đơn đặt hàng. Các khoản chi phí này được ghi nhân trực tiếp vào từng đối tượng chịu chi phí như chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp.
* Chi phí gián tiếp: là những chi phí phát sinh liên quan đến nhiều đối tượng chịu chi phí khác nhau, được ghi nhận chung sau đó phân bổ cho từng đối tượng chịu chi phí theo tiêu thức phân bổ thích hợp. Phân loại theo cách này có ý nghĩa đối với việc xác định phương pháp tập hợp chi phí và phân bổ chi phí một cách hợp lý. Nói chung việc phân loại chi phí theo tiêu thức nào là phải phù hợp với đặc điểm và yêu cầu quản lý của doanh nghiệp, là cơ sở cho việc lập kế hoạch, phân tích kiểm tra chi phí và xác định trọng điểm quản lý chi phí nhằm góp phần tiết kiệm chi phí, nâng cao lợi nhuận cho doanh nghiệp. Giá thành sản phẩm 1.
Khái niệm Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ những chi phi về lao động sống, lao động vật hóa và các chi phí khác được dùng để sản xuất một khối lượng hoặc một đơn vị sản phẩm trong kỳ. Phân loại giá thành a. Phân loại GTSP theo cơ sở số liệu và thời điểm tính giá thành Theo cách phân loại này, giá thành sản phẩm được chia thành ba loại sau: * Giá thành kế hoạch: là giá thành sản phẩm được xác định trước khi tiến hành sản xuất dựa trên cơ sở chi phí dự toán của kỳ kế hoạch và số lượng sản phẩm sản xuất kế hoạch. Giá thành kế hoạch là mục tiêu phấn đấu của doanh nghiệp, là căn cứ để so sánh, phân tích, đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch hạ giá thành sản phẩm.
* Giá thành định mức: cũng như giá thành kế hoạch, giá thành định mức được xác định trước khi bắt đầu sản xuất sản phẩm nhưng xây dựng trên cơ sở các định mức chi phí hiện hành tại từng thời điểm nhất định trong kỳ kế hoạch và thường tính cho đơn vị sản phẩm nhằm theo dõi việc thực hiện định mức chi phí của các yếu tố trong sản xuất. * Giá thành thực tế: là chỉ tiêu được xác định sau khi kết thúc quá trình sản xuất sản phẩm và được tính dựa trên cơ sở số liệu chi phí sản xuất thực tế đã sản xuất trong kỳ trước. Phân loại GTSP theo phạm vi phát sinh chi phí * Giá thành sản xuất sản phẩm: là chỉ tiêu phản ánh tất cả những chi phí phát sinh liên quan đến việc sản xuất một khối lượng sản phẩm hay một sản phẩm nhất định trong phạm vi phân xưởng, bộ phận sản xuất Giá thành sản xuất sản phẩm = CPNVLTT + CPNCTT + CPSXC * Giá thành toàn bộ sản phẩm tiêu thụ: là chỉ tiêu phản ánh toàn bộ các khoản chi phí phát sinh liên quan đến việc sản xuất, tiêu thụ sản phẩm. Tức là ngoài chi phí 9 tập hợp ở phân xưởng sản xuất còn tính thêm cả chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp.
Giá thành toàn bộ được xác định như sau: Giá thành toàn bộ = Chi phí sản xuất sản phẩm + CPQLDN + CPBH 1. Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm CPSX và GTSP có mối liên hệ mật thiết và hỗ trợ lẫn nhau: Thứ nhất, về mặt bản chất CPSX và GTSP đều là biểu hiện bằng tiền của những hao phí về lao động sống và lao động vật hóa mà doanh nghiệp đã bỏ ra. Nhưng khác nhau về mặt lượng, khi nói đến CPSX là giới hạn chi phí phát sinh trong một thời kỳ nhất định mà không xét sản phẩm, công việc đã hoàn thành hay chưa, còn khi nói đến GTSP là xác định lượng chi phí phát sinh trong thời hạn hoàn thành một khối lượng sản phẩm, công việc nhất định. Thứ hai, mối quan hệ hỗ trợ lẫn nhau giữa CPSX và GTSP được biểu hiện qua công thức tính giá thành sản phẩm hoàn thành: Giá thành CPSX CPSX CPSX sản xuất = dở dang + phát sinh ₋ dở dang sản phẩm đầu kỳ trong kỳ cuối kỳ GTSP hoàn thành trong kỳ bao gồm CPSX của sản phẩm dở dang kỳ trước chuyển sang và một phần của CPSX phát sinh trong kỳ.
Như vậy CPSX là cơ sở để tính giá thành, GTSP là thước đo CPSX mà doanh nghiệp bỏ ra để có được khối lượng hoàn thành. Vai trò và nhiệm vụ của kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm 1. Vai trò của kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm Kế toán tổng hợp CPSX và tính GTSP trong doanh nghiệp có vai trò rất quan trọng. Nó phải được tiến hành một cách hợp lý khoa học, đảm bảo theo dõi phản ánh chính xác, kịp thời đồng thời tổng hợp các thông tin cần thiết của quá trình sản xuất kinh doanh phục vụ cho công tác quản lý.
Các nhà quản lý sẽ nắm bắt được chi phí sản xuất, giá thành thực tế của từng sản phẩm cũng như kết quả hoạt động kinh doanh của toàn bộ doanh nghiệp.