Chương 1: Ly luận chung về kế toán tài sản cố định hữu hình trong doanh nghiệp. Chương 2: Thực trạng kế toán tài sản cô định hữu hình tại Công ty cổ phan dau tư xdy dung FODACON. Chương 3: Một số giải pháp va kiến nghị nham hoàn thiện kế toán tài sản cố định hitu hình tai Công ty cổ phân dau tư xây dựng FODACON. LÝ LUẬN CHUNG VE KE TOÁN TÀI SAN CÔ ĐỊNH HỮU HÌNH TRONG DOANH NGHIỆP 1.
KHÁI QUÁT VE TSCDHH TRONG DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của TSCDHH trong doanh nghiệp 1.1 Khái niệm Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh doanh nghiệp cần phải có đầy đủ các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất bao gồm: tư liệu lao động, đối tượng lao động và sức lao động. Theo Điều 5, CMKT Việt Nam số 03 (VAS03) về TSCĐ hữu hình: “Tai sản có định hữu hình là những tài sản có hình thái vật chất do doanh nghiệp nắm giữ để sử dung cho hoạt động sản xuất, kinh doanh phù hợp với tiêu chuẩn ghi nhận TSCĐ hữu hình ”. TSCD có thé là các tư liệu lao động có hình thái hiện vật cụ thể như nhà xưởng, máy móc, thiết bị, dụng cụ quản lý.
Ngoài ra, còn có những tài sản không có hình thái hiện vật nhưng cũng tham gia vào nhiều chu kì sản xuất kinh doanh như quyền sử dụng đất, bằng phát minh sáng chế. Song không phải mọi tư liệu lao động đều là TSCD mà chỉ những tài sản thỏa mãn các điều kiện quy định của chuẩn mực kế toán và chế độ tài chính- kế toán của Nhà nước quy định cụ thể trong từng thời kỳ. Theo CMKT Việt Nam số 03 (VAS03) về TSCĐ hữu hình và Thông tư số 45/2013/TT-BTC Hướng dẫn chế độ quản lý, sử dụng và trích khấu hao TSCĐHH do Bộ Tài chính ban hành ngày 25/04/2013 quy định tiêu chuẩn ghi nhận TSCDHH: “Một tài sản thỏa mãn đông thời cả 4 tiêu chuẩn dưới đây thì được coi là TSCĐ: - Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sử dụng tài sản đó. - Nguyên giá tài sản phải được xác định một cách tin cậy - Có thời gian sử dụng trên một năm - Có giá trị từ 30.Đặc điểm Từ VAS 03 có thể nhận thấy các yêu cầu TSCDHH được nêu trong định nghĩa đó là: - Mục đích sử dụng: phải sử dụng cho hoạt động sản xuất kinh doanh và hoạt động hành chính khác.
- Giá trị: phải có giá trị lớn, điều này có thể hiểu là tài sản đó phải có giá trị trên mức tối thiểu quy định hoặc thỏa mãn các điều kiện tương tự để có thể xác định được giá trị tài sản đó là lớn so với các tài sản khác trong doanh nghiệp. - Thời gian sử dụng: sử dụng trong nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh. Điều này để phân biệt với tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp chỉ được sử dụng trong một chu kỳ sản xuất kinh doanh. Vì những đặc tính nay mà trong quá trình TSCDHH tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh với vai trò là các công cụ lao động thì hình thái vật chất và đặc tính sử dụng ban đầu cả TSCDHH không thay đổi.
Tuy nhiên giá trị của TSCDHH sẽ chuyển dịch dần dần, từng phần vào giá trị của các sản phẩm dịch vụ được sản xuất ra qua các kỳ sản xuất chứ không kết chuyển một lần như đối với các tài sản ngắn hạn như nguyên vật liệu hay công cụ dụng cụ. Giá trị dịch chuyển này được gọi là phần khấu hao và cầu thành một yếu tố chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và được bù đắp mỗi khi sản phẩm được tiêu thụ. Ngoài ra, TSCDHH chỉ thực hiện được một vòng luân chuyển khi giá trị của nó được thu hồi toàn bộ, tức là khi thu hồi đủ tiền khấu hao TSCDHH. TSCDHH cũng như một hang hóa thông thường khác, có những đặc tinh như một loại hàng hóa khi có thể chuyển quyền sở hữu và quyền sử dụng từ chủ thể này sang chủ thể khác thông qua quan hệ mua bán, trao đổi trên thị trường.
Vai trò của TSCDHH TSCĐHH có vai trò, vị trí hết sức quan trọng trong mỗi doanh nghiệp, nên việc quản lý và sử dụng TSCDHH như thế nào để nó mang lại hiệu quả cao nhất trong hoạt động sản xuất kinh doanh, đòi hỏi phải có các quyết định sáng suốt của những nhà quản lý. Mặt khác, TSCDHH trong các doanh nghiệp được đổi mới, hiện đại hóa thường xuyên và tăng nhanh về mặt số lượng theo sự phát triển của nền sản xuất xã hội và những tiến bộ khoa học kỹ thuật. Trong bối cảnh đó, TSCĐHH đã trở thành một bộ phận thiết yếu của quá trình sản xuất xã hội, đồng thời cũng là bộ phận quan trọng quyết định sự tồn tại và sống còn của doanh nghiệp. Trước đây, khi khoa học kĩ thuật chưa được áp dụng rộng rãi vào sản xuất, các doanh nghiệp phải sử dụng nhiều lao động thủ công làm chỉ phí lao động trực tiếp cao, tiêu hao nguyên vật liệu lớn mà không đạt được hiệu quả cao trong công việc, khó khăn trong vấn đề cạnh tranh khi thị trường ngày càng thu hẹp.
Nhưng ngày nay, với việc áp dụng máy móc hiện đại vào sản xuất kinh doanh thay cho lao động thủ công, các doanh nghiệp đã rút ngắn được thời gian sản xuất, giảm cường độ và tăng năng suất lao động. Cùng với việc tổ chức sản xuất khoa học, quy trình công nghệ hiện đại, doanh nghiệp tiết kiệm được nhiều về khoản chỉ phí nguyên vật liệu và lao động trực tiếp, cải thiện chất lượng và tăng số lượng sản phẩm, tăng hiệu quả kinh doanh. TSCD có ý nghĩa trong việc giảm biên chế, giải phóng lao động thủ công nặng nhọc, đảm bảo an toàn cho người lao động. Quyết định về TSCD đúng hướng sé tạo ra lợi thế cho doanh nghiệp trong việc chiếm lĩnh thị trường trong nước, thị trường khu vực cũng như thị trường quốc tế.
Vì vậy, TSCĐHH là nhân tố giúp thúc đẩy quá trình sản xuất kinh doanh thông qua việc nâng cao năng suất lao động. TSCDHH được xem như là thước đo trình độ công nghệ, năng lực sản xuất và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, là yếu tố then chốt quyết định sự tồn tại của doanh nghiệp nói riêng và toàn bộ nền kinh tế nói chung. Do vậy, việc quản lý, sử dụng tài sản cố định có hiệu quả và đổi mới tài sản phù hợp từng thời kỳ sẽ góp phần tạo nên sức mạnh cho mỗi doanh nghiệp trong nền kinh tế. Phân loại TSCĐHH trong doanh nghiệp TSCDHH gom nhiều loại khác nhau về giá tri, công dung, tình trạng va nguồn hình thành khác nhau.
Phân loại để biết được doanh nghiệp có những TSCDHH nao, TSCDHH được dùng cho từng mục đích gì, số lượng và giá trị TSCDHH dùng cho từng mục đích cũng như nguồn hình thành của chúng. Theo các mục đích đó, TSCDHH của doanh nghiệp được phân loại theo các tiêu thức sau: *Theo đặc trưng kinh tế kỹ thuật: Theo TT147/2016/TT-BTC do Bộ Tài chính ban hành ngày 13 tháng 10 năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ 28/11/2016 và áp dụng từ năm tài chính 2016), Điều | khoản 2 quy định việc sửa đổi, bổ sung TT45/2013/TT-BTC về việc phân loại TSCDHH như sau: - Loại 1: Nhà cửa, vật kiến trúc: nhà làm việc, nhà xưởng, nhà ở, nhà kho, cửa hàng. được hình thành sau quá trình thi công, xây dựng. - Loại 2: Máy móc, thiết bị: là toàn bộ các loại máy móc, thiết bị dùng trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
- Loại 3: Phương tiện vận tải, thiết bị truyền dẫn: là các loại phương tiện vận tải gồm phương tiện vận tải và các thiết bị truyền dẫn - Loại 4: Thiết bị, dụng cụ quản lý: là những thiết bị, dụng cụ dùng trong quản lý hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp - Loại 5: Cây lâu năm, súc vật làm việc và cho sản phẩm (trong các doanh nghiệp nông nghiệp). - Loại 6: Các tài sản cố định là kết cấu hạ tầng, có giá trị lớn do Nhà nước đầu tư xây dựng từ nguồn ngân sách nhà nước giao cho các tổ chức kinh tế quản lý, khai thác, sử dụng. - Loại 7: Các loại tài sản cố định khác: là toàn bộ các tài sản cố định khác chưa liệt kê vào sáu loại trên. * Theo nguôn vốn hình thành tài sản: - TSCĐ hình thành bằng nguồn vốn chủ sở hữu: là những TSCĐ được hình thành do các chủ sở hữu góp vốn, do nhận liên doanh, liên kết, do ngân sách cấp.
- TSCĐ hình thành bằng vốn vay, nợ dài hạn, biếu tặng, các quỹ doanh nghiệp * Theo công dung và tình hình sử dung: - TSCĐ HH dang dùng cho mục đích kinh doanh:gồm những TSCD đang hoạt động trong sản xuất và dang dùng ngoài sản xuất như các TSCD dùng cho hoạt động bán hàng, quản lý doanh nghiệp, hoặc đang sử dụng cho hoạt động kinh doanh khác như đầu tư, cho thuê. - TSCD HH chưa dùng: gồm những TSCĐ được phép dự trữ để sử dụng cho tương lai. - TSCĐ HH chờ xử lý: là những TSCĐ hư hỏng chờ thanh lý, TSCĐ không cần dùng chờ nhượng bán, di chuyên đi, TSCĐ thiếu chờ giải quyết - TSCD đang dùng cho các mục dich phúc lợi, sự nghiệp, an ninh quốc phòng. - TSCĐ bảo quản hộ, giữ hộ.
* Theo quyên sở hữu: - TSCD HH thuộc quyền sở hữu của chủ sở hữu doanh nghiệp: là các TSCĐ được xây dựng, mua sam và hình thành từ nguôn vôn ngân sách cap, cap trên cấp, nguồn vốn vay, nguồn vốn liên doanh, các quỹ của doanh nghiệp và các TSCD được biếu tặng thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp. - TSCD HH thuê ngoài: là những TSCĐ được hình thành tư việc đi thuê để sử dụng nên không thuộc quyén sở hữu của doanh nghiệp. Khi đi thuê tài sản, doanh nghiệp thỏa thuận với bên cho thuê về việc chuyển quyền sử dụng tài sản cho bên đi thuê trong khoảng thời gian nhất định để được nhận tiền cho thuê một lần hoặc nhiều lần. Tùy theo hợp đồng thuê mà chia thành TSCD thuê tài chính và TSCD thuê hoạt động.
Đánh giá TSCDHH Đánh giá TSCD là vận dụng phương pháp tinh giá để xác định giá trị của TSCD ở những thời điểm nhất định theo những nguyên tắc chung. Đánh giá TSCĐ là điều kiện cần thiết để hạch toán và trích khấu hao TSCD. Kế toán phải xác định giá trị ban đầu khi tăng TSCĐ và xác định gia tri trong quá trình sử dụng.