CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Tổng quan về bệnh Béo phì 1. Đại cương về bệnh Béo phì Tổ chức Y tế Thế giới định nghĩa thừa cân và béo phì được xác định là tình trạng tích lũy chất béo bất thường hoặc quá mức có thể ảnh hưởng đến sức khỏe[2]. Theo một số ước tính của WHO, trong năm 2016 có hơn 1,9 tỷ người trưởng thành từ 18 tuổi trở lên bị thừa cân, trong đó có hơn 650 triệu người bị béo phì.
Cũng theo số liệu thống kê năm 2016, có 39% người trưởng thành từ 18 tuổi trở lên (39% nam giới và 40% nữ giới) bị thừa cân. Nhìn chung, khoảng 13% dân số trưởng thành trên thế giới (11% nam giới và 15% nữ giới) bị béo phì vào năm 2016. Tỉ lệ béo phì trên toàn thế giới đã tăng gần gấp 3 lần chỉ từ năm 1975 đến năm 2016[2]. Tình trạng thừa cân béo phì này còn đáng báo động ở trẻ em khi số liệu năm 2019 ước tính có khoảng 38,2 triệu trẻ em dưới 5 tuổi bị thừa cân hoặc béo phì.
Không chỉ được coi vấn đề của các quốc gia có thu nhập cao, hiện nay tình trạng thừa cân và béo phì cũng đang gia tăng ở các quốc gia có thu nhập thấp và trung bình, đặc biệt là ở các đô thị. Ở Châu Phi, số trẻ em dưới 5 tuổi thừa cân đã tăng gần 24% kể từ năm 2000, còn ở châu Á chiếm tới gần một nửa số trẻ em dưới 5 tuổi bị thừa cân hoặc béo phì vào năm 2019[2]. Tỷ lệ thừa cân và béo phì ở trẻ em và thanh thiếu niên trong độ tuổi 5- 19 đã tăng đáng kể từ chỉ 4% vào năm 1975 lên hơn 18% vào năm 2016 với tổng số lượng hơn 340 triệu người[2]. Theo tổ chức Y tế Thế giới, chỉ số khối cơ thể (BMI) là một chỉ số đơn giản về tương quan giữa trọng lượng và chiều cao thường được sử dụng để phân loại thừa cân và béo phì ở người lớn.
Chỉ số khối cơ thể được định nghĩa là trọng lượng của một người tính bằng kilogam chia cho bình phương chiều cao tính bằng mét (kg/m2)[2,8].1 Phân loại tình trạng cân nặng theo BMI[9]. Phân loại BMI (kg/m2) Thiếu cân < 18,5 Bình thường 18,5 đến < 25 Thừa cân 25,0 đến < 30 Béo phì độ I 30 đến < 35 Béo phì độ II 35 đến < 40 Béo phì độ III ( nghiêm trọng) > 40 1. Nguyên nhân dẫn đến thừa cân và béo phì 1. Thực phẩm và hoạt động thể chất Nguyên nhân cơ bản của béo phì và thừa cân là sự mất cân bằng năng lượng giữa lượng calo tiêu thụ và lượng calo tiêu hao[2].
Chế độ ăn uống không lành mạnh có quá nhiều calo và thiếu rau củ quả, ăn nhiều thức ăn nhanh, đồ uống nhiều calo, bao gồm cả rượu và khẩu phần ăn quá khổ dẫn đến tăng cân. Trong lối sống giảm hoạt động thể chất, việc hấp thụ nhiều calo mỗi ngày nhiều hơn lượng calo đốt cháy. Thời gian hoạt động thể chất càng ít thì nguy cơ tăng cân càng cao[10]. Môi trường Sự thay đổi của xã hội gắn với sự phát triển của kinh tế được coi là nguyên nhân tiềm năng cho sự gia tăng tỉ lệ béo phì.
Sự gia tăng béo phì trên toàn cầu chủ yếu là do các yếu tố môi trường như tiêu thụ nhiều thực phẩm, đồ uống có nhiều đường, ít hoạt động thể chất, giải trí với các thiết bị điện tử,… hơn là các yếu tố sinh học. Ngày nay, do quá trình toàn cầu hóa xã hội dẫn đến việc tiếp cận nhiều hơn các loại thực phẩm giàu chất béo với lượng calo cao, hợp khẩu vị và ít tốn kém hơn. Lối sống hiện đại đặt các cá nhân sống trong một môi trường béo phì, tác động làm họ ăn nhiều hơn và tập thể dục ít hơn. Gần đây, ngày càng có nhiều sự công nhận về các yếu tố kinh tế xã hội góp phần gây ra bệnh béo phì[11].
Yếu tố di truyền Các nghiên cứu gia đình cho thấy BMI của trẻ có mối tương quan cao với tình trạng béo phì của bố mẹ. Trẻ có cả bố và mẹ đều béo phì có nguy cơ béo phì cao hơn so với trẻ có bố hoặc mẹ không béo phì. Sự phát triển của bệnh béo phì có sự đóng góp rõ ràng của môi trường, nhưng những đứa trẻ mang yếu tố di truyền béo phì có chỉ số BMI và sự phân bố mỡ trên cơ thể cao hơn khoảng từ 40% đến 70% so với những đứa trẻ không có yếu tố di truyền này. Một số gen đơn lẻ tạo ra kiểu hình béo phì đã được xác định, tuy nhiên những đột biến này rất hiếm và chiếm tỉ lệ tương đối nhỏ.
Di truyền có tính trội và yếu tố di truyền làm cho khả năng phân chia tế bào mỡ dễ dàng hơn[11,12]. Béo phì liên quan tới tình trạng bệnh lí - Hội chứng Prader–Willi: Tầm vóc thấp; bàn tay và bàn chân nhỏ, chậm phát triển trí tuệ, hạ huyết áp sơ sinh và không phát triển mạnh, tiền điện tử; mắt hình quả hạnh và ‘’miệng cá’’. - Hội chứng Alstrom: Mù lòa ở trẻ em do thoái hóa võng mạc, điếc thần kinh; acanthosis nigricans, bệnh thận mãn tính, suy sinh dục nguyên phát chỉ ở nam giới, đái tháo đường không phụ thuộc insulin, hoặc béo phì ở trẻ sơ sinh có thể giảm ở tuổi trưởng thành. - Hội chứng Bardet-Biedl: Viêm võng mạc sắc tố, thiểu năng trí tuệ, thừa ngón, suy sinh dục vùng dưới đồi, hoặc hiếm khi không dung nạp glucose, điếc hoặc bệnh thận.
- Hội chứng Carpenter: Thiểu năng trí tuệ, chứng não ngắn, thừa ngón hoặc dính ngón hoặc thiểu năng sinh dục (chỉ ở nam giới). - Hội chứng Cohen: Thiểu năng trí tuệ, tật đầu nhỏ, tầm vóc ngắn hoặc tướng dị hình. - Tổn thương vùng dưới đồi mắc phải: Giảm tế bào mỡ với nhức đầu nhẹ và rối loạn thị giác, chứng cuồng ăn, hypodipsia, chứng buồn ngủ, co giật, suy sinh dục trung ương-suy giáp-suy tuyến thượng thận, đái tháo nhạt, tăng prolactin máu hoặc cường insulin, tăng lipid máu loại IV. 5 - Hội chứng Cushing: phân bố mỡ ở mặt (béo phì trung tâm), giảm khối lượng cơ thể nạc, không dung nạp glucose hoặc tầm vóc thấp bé.
- Suy giáp: chủ yếu gây phù và không phải nguyên nhân gây béo phì đáng kể. - Cường insulin nguyên phát: do u tụy tiết insulin quá mức, làm tăng cảm giác thèm ăn, tăng dị hóa glucose và đồng hóa mô mỡ[13]. Nguyên nhân do thuốc: Tăng cân hoặc phân phối lại chất béo trong cơ thể là tác dụng phụ phổ biến của nhiều loại thuốc được sử dụng rộng rãi. Số lượng tăng cân thay đổi từ vài kg đến tăng 10% hoặc hơn so với trọng lượng cơ thể ban đầu đã được mô tả.
Thường đi kèm với việc tăng cân này là các rủi ro sức khỏe ngày càng trầm trọng, bao gồm tăng tỷ lệ mắc hội chứng chuyển hóa, bệnh tiểu đường týp 2 và các yếu tố nguy cơ tim mạch khác. Với nhiều nhóm thuốc, chẳng hạn như thuốc đối kháng thụ thể beta, thuốc chống loạn thần, corticosteroid, thuốc hướng thần kinh và những thuốc được sử dụng trong điều trị HIV, cả tăng cân đáng kể và rối loạn chuyển hóa đều xảy ra ở những bệnh nhân nhạy cảm[14]. Hậu quả của bệnh Béo phì Béo phì hiện là một trong những vấn đề sức khỏe cộng đồng toàn cầu quan trọng nhất và là nguyên nhân gây bệnh và tử vong có thể ngăn ngừa được. Theo số liệu thống kê năm 2004, ước tính rằng chỉ số BMI tăng gây ra 2,8 triệu ca tử vong; nếu kết hợp với không hoạt động thể chất thì tổng số ca tử vong là 6,0 triệu, vượt qua tỷ lệ tử vong liên quan đến thuốc lá và gần bằng với yếu tố nguy cơ tử vong hang đầu là cao huyết áp.
Có nhiều bằng chứng chỉ ra sự liên quan giữa béo phì và tình trạng bệnh lý của cơ thể bao gồm đái tháo đường týp 2, suy tim, tăng huyết áp, bệnh tim mạch vành, rối loạn chức năng hô hấp, bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu và viêm gan nhiễm mỡ và sỏi mật. Tỉ lệ mắc bệnh ung thư ở người béo phì cao hơn và kết quả điều trị thường ít thành công hơn so với người bình thường. Hậu quả tâm lý xã hội và tâm thần của bệnh béo phì cũng ngày càng được công nhận[15]. Điều trị bệnh Béo phì Xác định một mục tiêu giảm cân thực tế và có ý nghĩa là bước quan trọng đầu tiên.
Mặc dù giảm cân bền vững ở mức nhỏ nhất là 3-5% trọng lượng cơ thể có thể giúp giảm một số yếu tố nguy cơ tim mạch có ý nghĩa lâm sàng, nhưng giảm cân nhiều hơn sẽ mang lại lợi ích lớn hơn. Năm 2013, một hướng dẫn dựa trên bằng chứng được cập nhật về việc quản lý thừa cân và béo phì được cơng bố bởi Hiệp hội Béo phì (TOS), Hiệp hội Tim mạch Hoa Kỳ (AHA), và Hiệp hội các trường đại học tim mạch Hoa Kỳ (ACC) khuyến cáo mục tiêu giảm cân ban đầu cho người lớn là khoảng 5% đến 10% trọng lượng cơ bản trong khoảng thời gian 6 tháng[3]. Các lựa chọn điều trị cho việc kiểm soát béo phì mạn tính bao gồm giảm lượng calo hấp thụ, can thiệp lối sống toàn diện, sử dụng thuốc, cấy ghép thiết bị y tế và phẫu thuật. Bước đầu với điều trị không dùng thuốc được khuyến cáo cho hầu hết các bệnh nhân bằng cách giảm lượng calo hấp thu, tăng hoạt động thể chất và thay đổi các hành vi không có lợi.
Lượng calo giảm trên 500 kcal/ngày thường có thể đạt được với chế độ ăn uống 1200-1500 kcal/ngày đối với nữ giới và 1500-1800 kcal/ngày đối với nam giới. Các khuyến cáo giảm cân bằng phương pháp can thiệp lối sống toàn diện thường quy định tăng hoạt động thể chất hiếu khí (ví dụ như đi bộ nhanh) ít nhất 150 phút/tuần tương đương 30 phút/ngày hầu hết các ngày trong tuần. Bệnh nhân cần được khám sức khỏe trước khi giảm cân và được tư vấn bắt đầu từ từ sau đó tang dần cường độ[3]. Liệu pháp dược lý được khuyến cáo cho những bệnh nhân có chỉ số BMI ≥ 30 kg/m2 hoặc BMI ≥ 27 kg/m2 với các bệnh kèm theo và không thể giảm cân bằng cách can thiệp lối sống đơn thuần[16].
Theo FDA đã phê duyệt một số loại thuốc mới để điều trị béo phì ngắn hạn và kể từ khi Lorcaserin bị thu hồi, chỉ có bốn thuốc gồm Naltrexone- Bupropion (Contrave), Orlistat (Xenical, Alli), Liraglutide (Saxenda) và Phentermine-Topiramate (Qsymia) đã được phê duyệt. Ngoài ra, hiện tại Gelesis là thuốc thứ năm đã được phê duyệt để sử dụng lâu dài.