Chương I, Điều 4) không qui định về điểm đến du lich nhưng lại qui định về điểm du lich, “ Điểm du lịch là nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn, phục vụ nhu cầu tham quan của khách du lịch" Như vậy, điểm đến du lịch và điểm du lịch là khác nhau. Xét theo mỗi quan niệm thì có thể thấy rằng điểm du lịch chỉ là nơi có tài nguyên du lịch tức là yếu tố tạo nên điểm hấp dẫn du lịch. Điểm du lịch chính là một phần của điểm đến du lịch Việt Nam có nhiều điểm đến hấp dẫn du khách trong nước và quốc tế Nam 2014, Dao Phú Quốc, cát Mũi Né, Đồng bằng sông Cửu Long, Sa Pa va dia dao Củ Chỉ là 5 trong số 19 điểm đến được báo Huffington Post của 10 Mỹ xếp vào danh sách những điểm đến ở Đông Nam Á “có thể thay đổi cuộc sống của bạn” Điểm đến là nơi thu hút du khách đến tham gia một kỳ nghỉ tạm thời với các hoạt động có liên quan đến du lịch (Pike, 2004). Buhalis (1999) cho rằng một m đến có thẻ được coi là một sự kết hợp, của tất cả các sản phẩm, dich vụ và trải nghiệm được cung cấp tại địa phương.
Các điểm đến thường được khách du lịch cảm nhận bao gồm thương. hiệu và dịch vụ của các nhà cung cấp (Buhalis, 1999). Trước khi thực sự đến tham quan thì hình ảnh của những điểm đến được du khách tìm hiểu thông qua kinh nghiệm của bạn bè, gia đình, báo chí và quảng cáo trước đó. Những hình ảnh du khách cảm nhận được sau chuyến thăm quan sẽ xây dựng ấn tượng chung của họ về đích đến 1.
Quản lý điểm đến a. Định nghĩa về quản lý điểm đến Quản lý điểm đến đã được thảo luận bởi nhiều tác giả, và đã đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau. Pearce & Schanzel (2013) lập luận rằng xác định khái niệm quản lý điểm đến có tầm quan trọng rất lớn. Nó liên quan đến một số vấn đề quan trọng đó là: những ai và những gì phải được quản lý, và nó sẽ được quản lý bởi ai và quản lý như thế nào.
Thực tế, tầm quan trọng của phương pháp quản lý điểm đến nằm ở việc xem xét sự tham gia của các bên liên quan. Hơn nữa, một thách thức lớn của quản lý điểm đến là đảm bảo sự thành công lâu dài của điểm đến không chỉ bằng cách bảo quản đặc điểm cạnh tranh của các điểm đến, mà còn đảm bảo tính du lịch bền vững(Goeldner & Ritchie, 2003). Dé canh tranh có hiệu quả, các điểm đến phải tạo ra cho du khách những trải nghiệm và giá trị tuyệt vời. Kinh doanh du lịch mang tính phức tạp, sự trải nghiệm của du khách phụ thuộc vào nhiều dịch vụ và trải nghiệm khác nhau bao gồm các dịch vụ công cộng và tư nhân, môi trường và 11 thái độ của cộng đồng.
Việc tạo ra giá trị du lịch tốt phụ thuộc nhiều vào việc các tổ chức phối hợp làm việc với nhau như thế nào. Quản lý điểm đến đòi hỏi sự liên kết của các lợi ích khác nhau cùng làm việc vì một mục tiêu chung nhằm đảm bảo sự sống và sự toàn vẹn cho điểm đến hiện tại và trong tương lai. Marketing điểm đến là một yếu tố quan trọng trong quản lý điểm đến Tuy nhiên, đảm bảo tính bền vững trong một ngành công nghiệp du lịch khu vực là một thách thức thực sự cho quản lý điểm đến và vai trò chính của nó là phải giải quyết nhi lề xung đột phát sinh giữa các bên liên quan khác nhau (Howie, 2003). Theo Beritelli, Bieger & Laesser (2013) quan lý điểm đến đối phó với các vấn đề và nhiệm vụ khác nhau.
Nhiều nhu cầu ở những nơi khác nhau và trong các giai đoạn khác nhau cần phải được quản lý. Các bên liên quan tham gia vào điểm đến được định hướng theo hình thức riêng của doanh nghiệp mình hoặc theo quan điểm của chính phủ hoặc cả hai b. Chức năng quản lý điểm đến linh nghĩa cơ bản của quản lý điểm đến chúng ta có thể thấy rằng quản lý các địa điểm du lịch phải được kết nối với quy hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm soát các nơi phục vụ khách du lịch. Tuy nhiên, chúng ta cũng phải xem tiếp thị và truyền thông là một chìa khóa đẻ phát triển hình ảnh tích cực của điểm đến.
Hiệu quả của việc tiếp thị hình ảnh tích cực tạo nên được thành công kinh tế của điểm đến. Theo Heath & Wall (1992) chức năng lập kế hoạch chiến lược marketing. là chìa khóa thành công của điềm đến. Ngoài ra, Freyer (1993) phát biểu rằng các chức năng quan trọng nhất là sự hình thành cung du lịch và các hoạt động.
Hơn nữa, Kaspar (1996) bổ sung rằng quy hoạch và tiếp thị là các chức năng tạo nên lợi nhuận trong ngành du lịch. 12 Bieger (2005) phân loại bốn chức năng chính của quản lý điểm đến như sau: lập kế hoạch, phát triển chuỗi cung ứng, lợi ích các bên và marketing Theo ông, trong mỗi chức năng ở trên; mỗi điểm đến du lịch phải tiến hành một loạt các hoạt động chỉ tiết cụ thể. Chức năng đầu tiên là lên kế hoạch. Trong chức năng này quản lý điểm đến phải xây dựng tầm nhìn và các chiến lược dài hạn.
Trong chức năng thứ hai, phát triển chuỗi cung ứng, quản lý điểm đến phải đảm bảo chất lượng của hệ thống thông tin, đảm bảo chất lượng dịch vụ với mục đích cuối cùng đáp ứng nhu cầu của khách du lịch, đảm bảo năng lực và kỹ năng của con người thông qua giáo dục và tư vấn cho các công ty du lịch nhỏ hơn, đa dạng hóa sản phẩm du lịch và tài nguyên. Chức năng thứ ba, quyền lợi các bên, nâng cao nhận thức của công chúng về tầm quan trọng của du lịch, và để trao đôi thông tin và đảm bảo. mạng lưới giữa các bên liên quan du lịch. Marketing, chức năng cuối cùng, của quản lý điểm đến nên tiến hành phân tích thị trường; làm cho chiến lược tiếp thị điểm đến liên quan đến tắt cả các bên liên quan, đề phát triển hình ảnh điểm đến, phát triển các chiến lược xây dựng thương hiệu, phát triển các sản phẩm sáng tạo mới.
Tổ chức quản lý điểm đến. Tổ chức Marketing điểm „ viết tắt là DMOs được định nghĩa là bất kỳ tổ chức ở cấp độ nào, có trách nhiệm cho việc Marketing để nhận dạng một điểm đến (Pike , 2004 ). Các hoạt động của DMOs bao gồm lập kế hoạch và các biện pháp thực. hiện chiến lược, các chính sách, tài chính và ngân sách, nguồn nhân lực, quản lý khủng hoảng, xây dựng thương hiệu, truyền thông, nghiên cứu thị trường, khuyến mãi.
Vai trò quan trọng nhất của họ ở tất cả cấp độ là Marketing. với mục đích cót lõi là tăng cường năng lực cạnh tranh bền vững lâu dài của điểm đến (Pike, 2004). Marketing của DMOs có thể được gọi là "quá trình kết hợp 13 các nguồn lực của điểm đến với cơ hội môi trường " (Pike, 2004). "DMOs đại diện cho một phạm vi rộng lớn và đa dạng của các thuộc tính điểm đến, bao gồm đặc điểm tự nhiên, trung tâm thương mại, con người.
Ví dụ như các điểm tham quan thương mại, nơi ăn nghỉ, hoạt động mạo hiểm ngoài trời, ăn uống và cuộc sóng về đêm, mua sắm và các chợ, di tích lịch sử và những cảnh thiên nhiên, bãi biển, khí hậ , bảo tàng, đặc điểm cảnh quan. Các DMOs phải nhắn mạnh lợi thế so sánh hay lợi thế cạnh tranh của một điểm đến dé xây dựng một chiến lược du lịch thành công. Lợi thế so sánh có thể được thừa hưởng chẳng hạn như môi trường tự nhiên, văn hóa, con người và tài nguyên. Lợi tl cạnh tranh có thê được phát triển như tài chính, pháp lý, hoạt động tổ chức, thông tin, các mối quan hệ và việc thực hiện các nguồn lực đó.
Một điểm đến bao gồm nhiều loại hình các bên liên quan, tất cả có liên quan với việc Marketing sản phẩm của họ. Tổ chức du lịch ở các cấp độ khác nhau có liên quan đến việc Marketing điểm đến, nhưng DMOS hoạt động như là phương tiện tập hợp những việc Marketing toàn diện điểm đến tới người tiêu dùng (Wang , 2008 ) 1. Marketing điểm đến, các hoạt động trong Marketing điểm đến. Marketing điểm đến du lịch được định nghĩa là "Quy trình quản lý thông qua đó các tổ chức du lịch quốc gia, các doanh nghiệp du lịch xác định khách du lịch thực tế và tiềm năng lựa chọn điểm đến của mình, giao tiếp với du khách để xác định và có những tác động ảnh hưởng đến mong muốn, nhu cầu, động cơ, thích và không thích của du khách, trên các cấp địa phương , vùng, quốc gia và quốc tế, xây dựng và điều chỉnh sản phẩm du lịch cho phù hợp để đạt được sự hài lòng của khách du lịch qua đó tối ưu mục tiêu của mình " (Wahab, 1976; trích dẫn trong Pike , 2004) 14 Do sự phức tạp của các mối quan hệ của các bên liên quan ở địa phương và sự đa dạng của các bên liên quan tham gia vào việc phát triển và sản xuất các sản phẩm du lịch, các điểm đến là.
các thực thể khó khăn nhất để quản lý và Marketing (Buhalis, 1999). Trong nhiều trường hợp mục tiêu kinh doanh của các điểm đến được chịu trách nhiệm bởi đại diện các bên liên quan dù mục tiêu kinh doanh là đa dạng cho các thành phần khác nhau trong tổng số cung cấp (Wang và Xiang, 2007). Để cạnh tranh, việc Marketing điểm đến nên làm việc hợp tác với nhau. Nếu các bên liên quan thực hiện riêng lẻ, hình ảnh của các điểm đến sẽ không được Marketing một cách toàn diện và điểm đến sẽ không thể thành công trong thời gian dài (Wang và Xiang, 2007).
Marketing điểm đến cần tối ưu hóa tác động của du lịch và tối đa hóa lợi ích cho các khu vực (Buhalis, 1999). Hợp tác đã được định nghĩa là "một quá trình chia sẻ việc ra quyết định giữa các bên liên quan chủ chốt về một vấn đề của điểm đến và về tương lai của điểm đến đó" (Wang, 2008). Trong ngành công nghiệp du lịch hợp tác có nghĩa là việc ra quyết định chung giữa các bên liên quan tại một đến trong việc phát triển và Marketing du lịch điểm đến (Wang, 2008). Nó cũng được định nghĩa là sự kết hợp kiến thức, chuyên môn và nguồn lực vốn có để dẫn đến những cơ hội mới, giải pháp sáng tạo và một mức độ hiệu quả lớn hơn, điều đó sẽ không thể đạt được nếu các đối tác hành động một mình (Wang, 2008).