Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Công tác xã hội với đề tài "Hoạt động sinh kế của người dân tộc thiểu số ở xã Kon Pne, huyện K'Bang, tỉnh Gia Lai" được thực hiện bởi sinh viên Nguyễn Thị Thanh Mỹ, Khoa Tâm Lý học, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, dưới sự hướng dẫn của Th.S Nguyễn Đình Ký, hoàn thành năm 2024.

Bối cảnh thực tiễn: Sau 38 năm đổi mới (1986–2024), mặc dù Việt Nam đạt nhiều thành tựu trong xóa đói giảm nghèo, khoảng cách giàu–nghèo giữa nhóm dân tộc thiểu số (DTTS) và dân tộc đa số vẫn còn rất lớn. Người DTTS chỉ chiếm 15% dân số nhưng chiếm tới 70% nhóm đối tượng cực nghèo (World Bank, 2013). Năm 2020, tỷ lệ hộ nghèo người DTTS chiếm 61,29% tổng số hộ nghèo cả nước; thu nhập bình quân đầu người của đồng bào DTTS chỉ bằng 0,3 lần mức bình quân chung cả nước. Đến năm 2023, tỷ lệ nghèo đa chiều tại các vùng DTTS là 23,7% (Tổng cục Thống kê, 2022).

Gia Lai là tỉnh có tỷ lệ người DTTS chiếm hơn 46% dân số và thuộc nhóm có tỷ lệ nghèo đa chiều cao nhất cả nước (22,7% theo Nghị định 07/2021/NĐ-CP). Trong đó, xã Kon Pne, huyện Kbang được đánh giá là xã khó khăn và xa trung tâm huyện nhất, với tỷ lệ hộ nghèo 47,54% và hộ cận nghèo 20,37%, chủ yếu là đồng bào dân tộc Bahnar. Xuất phát từ trải nghiệm thực tập tại địa bàn, tác giả xác định đây là vấn đề cần nghiên cứu chuyên sâu để có cơ sở đề xuất giải pháp phù hợp thực tế.

Mục tiêu nghiên cứu: Nghiên cứu hoạt động sinh kế của người DTTS ở xã Kon Pne, từ đó đề xuất và kiến nghị các giải pháp hỗ trợ phát triển sinh kế phù hợp với thực tế, nhằm góp phần nâng cao đời sống cho người dân tộc thiểu số.

Nhiệm vụ nghiên cứu (theo văn bản):

  1. Xây dựng cơ sở lý luận về hoạt động sinh kế của người dân tộc thiểu số.
  2. Khảo sát thực trạng hoạt động sinh kế của người dân tộc thiểu số tại xã Kon Pne.
  3. Đề xuất, kiến nghị các giải pháp phát triển sinh kế của người dân tộc thiểu số.

Giả thuyết nghiên cứu:

  • Giả thuyết 1: Thực trạng đáp ứng của các hoạt động sinh kế về kinh tế, xã hội, tâm lý của người DTTS tại xã Kon Pne ở mức trung bình.
  • Giả thuyết 2: Thực trạng đáp ứng sinh kế về đảm bảo lương thực thực phẩm, phương tiện vật chất và hệ sinh thái địa phương ở mức thấp.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Khách thể: 207 người dân tộc Bahnar tại xã Kon Pne, huyện Kbang, tỉnh Gia Lai.
  • Đối tượng: Hoạt động sinh kế của người DTTS tại xã Kon Pne.
  • Phạm vi không gian: 3 làng thuộc xã Kon Pne (Làng Kon Hleng, Làng Kon Ktonh, Làng Kon Krinh).
  • Phạm vi thời gian: Từ tháng 9/2023 đến tháng 4/2024.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết và khái niệm

Tác giả vận dụng khung sinh kế bền vững (Sustainable Livelihoods Framework) do tổ chức DFID (Cục Phát triển Quốc tế Vương quốc Anh) xây dựng năm 1999 và 2001 làm công cụ phân tích chính. Khung này bao gồm 5 nhóm chỉ tiêu: bối cảnh gây tổn thương, tài sản sinh kế (5 loại vốn), chuyển đổi thể chế và chính sách, chiến lược sinh kế, và mục tiêu sinh kế. Năm loại vốn sinh kế cụ thể gồm: vốn tự nhiên (N), vốn vật chất (P), vốn tài chính (F), vốn xã hội (S), vốn con người (H).

Khái niệm sinh kế được tác giả tổng hợp từ nhiều nguồn: Chambers & Conway (1992), Carney (1998), DFID (1999, 2001), Ellis (1998, 2000, 2005), và Bùi Văn Tuân (2015). Trong khóa luận, sinh kế được hiểu là "cách thức và phương tiện tạo ra thu nhập của con người bao gồm các nguồn lực tự nhiên, kinh tế, xã hội và văn hóa mà các cá nhân, hộ gia đình hoặc cộng đồng xã hội sở hữu, có thể tạo ra thu nhập để nâng cao đời sống vật chất và tinh thần hoặc có thể được sử dụng, trao đổi để đáp ứng nhu cầu của họ trong cuộc sống."

Khái niệm dân tộc thiểu số được áp dụng theo Nghị định số 5/2011/NĐ-CP của Chính phủ: "Dân tộc thiểu số là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam."

Khóa luận cũng tham chiếu đến hệ thống văn bản pháp luật và chính sách liên quan đến người DTTS, bao gồm: Hiến pháp 2013, Bộ luật Dân sự 2005, Bộ luật Lao động 2012, Luật Đầu tư 2014, Nghị định 75/2015/NĐ-CP, Nghị quyết 120/2020/QH14, các Chương trình 134, 135 (qua 4 giai đoạn), và Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi giai đoạn 2021–2030.

Về lý thuyết đo lường, tác giả Việt hóa và điều chỉnh thang đo livelihoods của N. Shivalingaiah (NV Shwetha và YN Shivalingaiah, 2019) để xây dựng bảng hỏi phù hợp với bối cảnh địa bàn.

Phương pháp nghiên cứu

Tác giả sử dụng phối hợp bốn phương pháp:

  1. Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp: Tổng hợp tài liệu từ tạp chí, báo cáo, trang web chính thức của địa bàn và thông tin do cán bộ UBND xã cung cấp, nhằm xây dựng cơ sở lý luận.

  2. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Chọn mẫu theo công thức n = N/(1+Ne²), với e = 0,05 (mức chính xác 95%, sai số 5%) và N = 427 hộ trong xã Kon Pne, xác định n = 207. Bảng hỏi được khảo sát thử, đánh giá độ tin cậy các thang đo trước khi triển khai chính thức.

  3. Phương pháp phỏng vấn bán cấu trúc (PVBCT): Phỏng vấn các hộ dân tộc Bahnar để làm rõ hơn các câu trả lời trong bảng hỏi; nội dung xoay quanh hoạt động sinh kế và nhận định của người dân.

  4. Phương pháp toán thống kê: Sử dụng phần mềm SPSS phiên bản 22.0 để xử lý số liệu. Ngoài ra, tác giả sử dụng công cụ xếp hạng ưu tiên vấn đề (ranking tool trong phát triển cộng đồng) để bổ sung và làm rõ nội dung nghiên cứu.

Quan điểm tiếp cận: Tiếp cận hệ thống – cấu trúc và tiếp cận thực tiễn.


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận về hoạt động sinh kế của người dân tộc thiểu số

Chương 1 thiết lập nền tảng lý luận cho toàn bộ nghiên cứu thông qua ba nội dung chính.

Tổng quan nghiên cứu trong và ngoài nước hệ thống hóa các công trình tiêu biểu từ Chambers & Conway (1991, 1992), DFID, CARE Quốc tế, Ellis (2000), Hahn và cộng sự (2009), Davis và cộng sự (2010), Bhandari (2013), Mplande (2016), Manlosa và cộng sự (2017), Shanta Paudel Khatiwada và cộng sự (2017), Shuxin Mao và cộng sự (2020), Nadhavadekar và cộng sự (2021), đến các tác giả trong nước như Đào Hữu Hòa và cộng sự (2016), Nguyễn Đăng Hiệp Phố (2016), Lê Tấn Hiển (2017), Phạm Hồng Hải (2019), Cà Thị Sới và Phạm Thanh Lan (2020), Nguyễn Thị Giáng Hương và Đào Thị Kim Lân (2022), Ngô Thanh Vũ và Quan Minh Nhựt (2022), Nguyễn Đức Bảo và cộng sự (2023). Tác giả xác định khoảng trống nghiên cứu: đến thời điểm thực hiện đề tài chưa có nghiên cứu nào về hoạt động sinh kế của đồng bào Bahnar tại Gia Lai, và các nghiên cứu hiện có chưa đi sâu vào đánh giá đa chiều mức độ đáp ứng sinh kế (lương thực, kinh tế, tâm lý, xã hội, vật chất, hệ sinh thái).

Cơ sở lý luận trình bày hệ thống các khái niệm (sinh kế, hoạt động sinh kế, dân tộc, DTTS), đặc điểm của người DTTS Việt Nam (về nguồn gốc lịch sử, lãnh thổ cư trú, phong tục tập quán, đặc điểm sinh kế truyền thống), các chương trình chính sách của Nhà nước dành cho đồng bào DTTS, các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động sinh kế (khả năng tiếp cận vốn vay, phương tiện sản xuất, tham gia tổ chức xã hội, cơ sở hạ tầng, thiên tai/biến đổi khí hậu, đào tạo nghề).

Lý thuyết khung sinh kế bền vững của DFID được trình bày chi tiết với 5 loại vốn sinh kế và các mối liên hệ giữa bối cảnh tổn thương, tài sản sinh kế, cơ cấu thể chế, chiến lược sinh kế và mục tiêu sinh kế. Tác giả phân tích cả điểm mạnh và điểm yếu của khung này (theo tổng hợp của Caroline Moser và Trịnh Thị Hạnh, 2021) trước khi vận dụng vào địa bàn xã Kon Pne.

Chương 2: Thực trạng hoạt động sinh kế của người dân tộc thiểu số tại xã Kon Pne, huyện Kbang, tỉnh Gia Lai

Chương 2 trình bày toàn bộ kết quả khảo sát thực địa, được cấu trúc theo bốn nhóm nội dung lớn.

Thiết kế và tổ chức nghiên cứu mô tả địa bàn, mẫu nghiên cứu và công cụ đo lường. Mẫu 207 hộ (n=207) có đặc điểm: 53,14% nam, 46,86% nữ; nhóm tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất là 18 đến dưới 30 tuổi (35,75%); trình độ học vấn chủ yếu là tiểu học (42,5%) và không biết chữ (21,7%); thu nhập bình quân tháng dưới 1 triệu đồng chiếm 72% khách thể. Công cụ thu thập dữ liệu gồm bảng hỏi được Việt hóa và điều chỉnh từ thang đo của Shivalingaiah, cùng hướng dẫn phỏng vấn bán cấu trúc.

Thực trạng hoạt động sinh kế và các yếu tố ảnh hưởng phân tích các hình thức sinh kế chính của người Bahnar xã Kon Pne (chủ yếu là sản xuất nông nghiệp tự cung tự cấp, chăn nuôi thả rông, khai thác tài nguyên rừng), và làm rõ vai trò của các yếu tố cản trở như địa hình cách trở (cách trung tâm huyện 85 km), giao thông khó khăn, trình độ học vấn thấp, phong tục tập quán, tư tưởng trông chờ vào bao cấp.

Thực trạng nguồn vốn sinh kế phân tích 5 loại vốn theo khung DFID: vốn tự nhiên (hiện trạng các loại đất năm 2022), vốn tài chính (tỷ lệ người tiếp cận các hình thức vốn vay, tỷ lệ thu nhập/người/tháng, tỷ lệ sử dụng tiết kiệm), vốn vật chất (hiện trạng các điểm dân cư, cơ sở hạ tầng thiết yếu), vốn con người (trình độ học vấn, số thành viên gia đình), vốn xã hội (tham gia các tổ chức đoàn hội, quan hệ cộng đồng). Số liệu được trình bày qua các biểu đồ và bảng thống kê mô tả kèm điểm trung bình (DTB) và độ lệch chuẩn (DLC).

Thực trạng đáp ứng sinh kế được đo lường theo 6 chiều cạnh thông qua các bảng số liệu khảo sát (n=207):

Chiều cạnh đáp ứng sinh kế Bảng số liệu
Đảm bảo lương thực thực phẩm Bảng 2
Kinh tế, tài chính Bảng 3
Hệ sinh thái địa phương Bảng 4
Xã hội Bảng 5
Tâm lý Bảng 6
Phương tiện vật chất Bảng 7

Phân tích khung sinh kế bền vững tại xã Kon Pne tóm tắt toàn bộ thực trạng vào một khung tổng hợp (Bảng 8 – "Tóm tắt khung sinh kế bền vững tại xã Kon Pne"), đối chiếu với lý thuyết DFID để nhận diện điểm mạnh, điểm yếu và các nhân tố cần can thiệp trong từng loại vốn sinh kế.


Kết quả và đóng góp

Kết quả chính

Đề tài xác nhận cả hai giả thuyết nghiên cứu: thực trạng đáp ứng sinh kế của người Bahnar tại xã Kon Pne về kinh tế, xã hội và tâm lý ở mức trung bình; còn đáp ứng sinh kế về đảm bảo lương thực thực phẩm, phương tiện vật chất và hệ sinh thái địa phương ở mức thấp. Một số số liệu đáng chú ý từ văn bản:

  • Thu nhập: 72% hộ gia đình có tổng thu nhập bình quân dưới 1 triệu đồng/tháng.
  • Học vấn: 64,2% người được khảo sát chỉ đạt trình độ tiểu học hoặc không biết chữ (tiểu học 42,5%, không biết chữ 21,7%).
  • Tỷ lệ nghèo tại địa bàn: Hộ nghèo chiếm 47,54%, hộ cận nghèo chiếm 20,37%.
  • Cơ cấu dân số địa bàn: 94% dân số xã là đồng bào Bahnar, sống tập trung tại 3 làng dọc sông Đắk Pne.

Nguồn vốn tài chính của hộ gia đình rất hạn chế; việc tiếp cận vốn vay chính thức còn thấp; nhiều hộ sử dụng kênh tín dụng phi chính thức. Hoạt động sinh kế chủ yếu là nông nghiệp tự cung tự cấp, chưa áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên. Vốn con người (trình độ học vấn, kỹ năng lao động) và vốn tài chính là hai loại vốn sinh kế yếu nhất của người dân.

Giải pháp và kiến nghị của tác giả

Từ thực trạng phân tích, tác giả đề xuất các giải pháp và kiến nghị hướng đến nâng cao từng nhóm vốn sinh kế, bao gồm: cải thiện khả năng tiếp cận tín dụng chính thức, nâng cao trình độ học vấn và đào tạo nghề, cải thiện cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất và lưu thông hàng hóa, tăng cường hỗ trợ phương tiện sản xuất, phát huy vai trò của các tổ chức xã hội địa phương, và xây dựng các mô hình sinh kế phù hợp với đặc điểm văn hóa và điều kiện sinh thái của người Bahnar tại Kon Pne.

Đóng góp so với nghiên cứu trước

Theo tác giả tự nêu, đóng góp chính của đề tài bao gồm: (1) Lấp khoảng trống nghiên cứu khi chưa có công trình nào về sinh kế của người Bahnar tại Gia Lai; (2) Đánh giá mức độ đáp ứng sinh kế theo 6 chiều cạnh cụ thể (lương thực, kinh tế, xã hội, tâm lý, vật chất, hệ sinh thái) thay vì chỉ phân tích nguồn vốn hoặc chiến lược sinh kế như các nghiên cứu trước; (3) Vận dụng và điều chỉnh thang đo livelihoods của Shivalingaiah (2019) vào bối cảnh DTTS tại Việt Nam với mẫu n=207 trên địa bàn đặc thù vùng sâu xa.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về hạn chế, tác giả thừa nhận điều kiện thời gian, kinh nghiệm và năng lực còn hạn chế trong quá trình thực hiện. Phạm vi nghiên cứu chỉ dừng lại ở 3 làng thuộc xã Kon Pne với 207 hộ người Bahnar, chưa đại diện cho toàn bộ đồng bào DTTS tại huyện Kbang hay tỉnh Gia Lai. Khoảng thời gian thu thập dữ liệu (tháng 9/2023 – tháng 4/2024) ngắn, chưa cho phép theo dõi biến động sinh kế theo mùa vụ hay chu kỳ nhiều năm.

Từ phạm vi nghiên cứu của đề tài, có thể nhận thấy một số hướng mở tiếp theo: mở rộng mẫu ra các xã DTTS khác trong huyện hoặc tỉnh để so sánh; nghiên cứu tác động của biến đổi khí hậu đến sinh kế người Bahnar tại Tây Nguyên; đánh giá hiệu quả cụ thể của từng chương trình/chính sách (như Chương trình 134, 135) đối với sinh kế hộ gia đình tại địa bàn này.


Giá trị tham khảo

Khóa luận có giá trị tham khảo trước hết với sinh viên chuyên ngành Công tác xã hội, Xã hội học, Phát triển cộng đồng đang tìm hiểu về phương pháp đánh giá sinh kế theo khung DFID, cách xây dựng và Việt hóa thang đo livelihoods, và cách vận dụng công cụ phát triển cộng đồng (xếp hạng ưu tiên vấn đề) trong nghiên cứu thực địa.

Sinh viên ngành Dân tộc học, Kinh tế nông thôn, Chính sách công sẽ tìm thấy dữ liệu thứ cấp và sơ cấp cụ thể về đặc điểm kinh tế–xã hội người Bahnar tại Gia Lai, cùng phần hệ thống hóa các văn bản pháp luật và chương trình chính sách dành cho người DTTS từ cấp Hiến pháp đến các chương trình mục tiêu quốc gia.

Cán bộ làm công tác giảm nghèo, cán bộ UBND cấp xã ở vùng DTTS Tây Nguyên có thể tham khảo Bảng tóm tắt khung sinh kế bền vững (Chương 2) như một công cụ chẩn đoán nhanh các điểm yếu trong từng loại vốn sinh kế tại địa phương, từ đó xác định ưu tiên can thiệp.

Phần tổng quan tài liệu (Chương 1, mục 1.1) cũng là nguồn tham khảo tốt cho những ai cần nắm hệ thống các nghiên cứu quốc tế và trong nước về sinh kế DTTS từ năm 1991 đến 2023.


Câu hỏi thường gặp

1. Xã Kon Pne có đặc điểm dân số và kinh tế như thế nào mà tác giả chọn làm địa bàn nghiên cứu? Xã Kon Pne nằm cách trung tâm huyện Kbang 85 km về phía Tây Bắc, có 94% dân số là người Bahnar sống tại 3 làng dọc sông Đắk Pne. Đây là xã được đánh giá toàn diện là khó khăn và xa trung tâm huyện nhất trong toàn huyện, với tỷ lệ hộ nghèo 47,54% và hộ cận nghèo 20,37%. Tác giả lựa chọn địa bàn này xuất phát từ trải nghiệm thực tập tại chỗ và xác định đây là địa bàn chưa có nghiên cứu chuyên sâu về sinh kế người Bahnar.

2. Thang đo dùng để khảo sát thực trạng đáp ứng sinh kế được xây dựng như thế nào? Tác giả kế thừa thang đo livelihoods của NV Shwetha và YN Shivalingaiah (2019) – vốn được xây dựng để đo an ninh sinh kế của nông dân Nam Karnataka, Ấn Độ – sau đó tiến hành Việt hóa và điều chỉnh cho phù hợp với bối cảnh người DTTS Bahnar tại Kon Pne. Bảng hỏi được khảo sát thử và đánh giá độ tin cậy các thang đo trước khi triển khai với n=207. Số liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS 22.0.

3. Tỷ lệ người có thu nhập bình quân dưới 1 triệu đồng/tháng trong mẫu khảo sát là bao nhiêu? Theo kết quả khảo sát (n=207), có 149 khách thể chiếm 72% có tổng thu nhập bình quân tháng của hộ gia đình dưới 1 triệu đồng. Đây là nhóm chiếm tỷ lệ lớn nhất trong cơ cấu thu nhập của mẫu, phản ánh mức sống rất thấp và sự thiếu hụt tài chính nghiêm trọng của người dân tại địa bàn.

4. Tác giả đánh giá mức độ đáp ứng sinh kế trên những chiều cạnh nào và dựa vào đâu để phân loại? Tác giả đánh giá mức độ đáp ứng sinh kế theo 6 chiều cạnh: đảm bảo lương thực thực phẩm, kinh tế/tài chính, hệ sinh thái địa phương, xã hội, tâm lý, và phương tiện vật chất. Mức độ phân loại dựa trên quy đổi điểm trung bình (DTB) theo thang đo đã xây dựng, cùng công cụ xếp hạng thứ tự ưu tiên vấn đề trong phát triển cộng đồng để bổ sung và kiểm chứng. Kết quả tổng hợp được trình bày trong Bảng tóm tắt khung sinh kế bền vững tại xã Kon Pne.

5. Các chương trình chính sách nào của Nhà nước đối với người DTTS được tác giả đề cập trong phân tích? Tác giả đề cập đến nhiều văn bản và chương trình cụ thể: Chương trình 134 (Quyết định 134/2004/QĐ-TTg về hỗ trợ đất ở, nhà ở, nước sinh hoạt cho DTTS nghèo), Chương trình 135 qua 4 giai đoạn (1997–2006, 2006–2010, 2012–2015, 2016–2020), Nghị quyết 120/2020/QH14 và Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi giai đoạn 2021–2030 với kinh phí tối thiểu 137.000 tỷ đồng, bao gồm 10 dự án và 14 tiểu dự án triển khai trên địa bàn 49 tỉnh. Ngoài ra còn có Nghị định 75/2015/NĐ-CP, Nghị quyết 52/NQ-CP (2016), Nghị quyết 539/NQ-UBTVQH13 (2012) và nhiều văn bản pháp quy khác.


Kết luận

Khóa luận cung cấp bức tranh có hệ thống về thực trạng hoạt động sinh kế của người dân tộc Bahnar tại xã Kon Pne, huyện Kbang, tỉnh Gia Lai – một địa bàn đặc thù vùng sâu xa với tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo ở mức rất cao. Bằng cách vận dụng khung sinh kế bền vững của DFID cùng bộ công cụ khảo sát định lượng (n=207) kết hợp phỏng vấn bán cấu trúc, đề tài đã lượng hóa mức độ đáp ứng sinh kế theo 6 chiều cạnh và chỉ ra vốn tài chính cùng vốn con người là hai điểm nghẽn chính trong hệ sinh kế của người Bahnar tại đây. Đây là nghiên cứu đầu tiên tiếp cận đồng bào Bahnar ở Gia Lai từ góc độ Công tác xã hội, bổ sung vào khoảng trống trong tài liệu về sinh kế DTTS tại Tây Nguyên, đồng thời đặt cơ sở cho các đề xuất can thiệp phù hợp điều kiện thực tế địa phương.