Chương 1 NHỮN VẤN Ý U N VÀ PH P U T V I U TRA H NH SỰ CỦA C QUAN H I QUAN 1. Những vấn đề lý luận 1. Khái niệm đi u tra hình sự Điều tra hình sự là một hoạt động đặc thù được Nhà nước thông qua các quy định của pháp luật về hình sự như Bộ luật TTHS, Luật TCCQĐTHS, BLHS… giao quyền cho một số cơ quan nhất định tiến hành. Hiện tại chưa có một khái niệm, định nghĩa thống nhất về hoạt động ĐTHS.
Khái niệm ĐTHS cũng chưa được quy định, nêu rõ trong bất c văn bản quy phạm pháp luật nào. Trong cuốn Từ điển tiếng Việt của Trung tâm từ điển học, Nhà xuất bản Đà Nẵng phát hành năm 2011 (Hoàng Phê chủ biên) nêu: “Điều tra: Tìm hỏi, xem xét để biết rõ sự thật” [18, tr.513]; “Hình sự: Việc trừng trị những tội xâm phạm nghiêm trọng đến an ninh quốc gia, trật tự xã hội” [18, tr. Cuốn Đại từ điển tiếng Việt của Nhà xuất bản Đại học quốc gia TP Hồ Chí Minh phát hành năm 2013 (Nguyễn Như chủ biên) nêu khái niệm như trên. Theo giáo trình Lý luận chung về ĐTHS do Học viện An ninh nhân dân xuất bản năm 2002 thì “điều tra hình sự là một hoạt động tố tụng hình sự của Nhà nước và là một trong những biện pháp cơ bản trong công tác công an nhằm khám phá, làm rõ tội phạm, đồng thời đáp ng các yêu cầu đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm” [10, tr.
Xuất phát từ khái niệm đó, có quan điểm cho rằng phải hiểu hoạt động điều tra hình sự ở hai góc độ: một, hoạt động điều tra hình sự là một hoạt động tố tụng hình sự của Nhà nước (được hiểu là một biện pháp quan trọng trong biện pháp pháp luật); hai, hoạt động điều tra hình sự là một hoạt động nghiệp vụ nằm trong hệ thống các biện phap nghiệp vụ cơ bản của cơ quan điều tra. 8 Trong từ điển bách khoa Công an nhân dân tái bản năm 2005 thì điều tra hình sự là hoạt động tố tụng hình sự của cơ quan điều tra và cơ quan khác được giao một số hoạt động điều tra theo luật định, được tiến hành theo trình tự, thủ tục trong Bộ luật TTHS đối với những vụ án đã xảy ra để xác định tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội, lập hồ sơ đề nghị truy tố. Hoạt động điều tra vừa là hoạt động TTHS của nhà nước, vừa là hoạt động nghiệp vụ của lực lượng công an nhân dân. Quá trình tiến hành các hoạt động điều tra cần vận dụng linh hoạt các chiến thuật, thủ thuật, phương pháp của khoa học điều tra hình sự và phối hợp chặt chẽ với các biện pháp nghiệp vụ khác, nhất là các hoạt động trinh sát nhằm nâng cao hiệu quả công tác điều tra, góp phần thúc đẩy các hoạt động nghiệp vụ khác phát triển.
Như vậy có thể hiểu ĐTHS là một giai đoạn của quá trình TTHS, trong đó các cơ quan có thẩm quyền áp dụng các biện pháp do Bộ luật TTHS quy định để xác định tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội làm cơ sở cho việc xét xử của Tòa án. ĐTHS là hoạt động TTHS do người và cơ quan có thẩm quyền thực hiện nhằm xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ làm cơ sở cho việc truy c u hay không truy c u trách nhiệm hình sự. Xét theo phương diện pháp lý tố tụng hình sự thì ĐTHS là giai đoạn th hai mà trong đó cơ quan điều tra và các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra căn c vào các quy định của pháp luật TTHS dưới sự kiểm sát của Viện kiểm sát được phép thực hiện các biện pháp điều tra nhằm thu thập và củng cố các ch ng c , phân tích các tình tiết của vụ án, nghiên c u nhằm phát hiện nhanh chóng và đầy đủ tội phạm, các tình tiết khác có liên quan như người có lỗi trong việc thực hiện tội phạm để truy c u trách nhiệm hình sự, đồng thời bảo đảm cho việc bồi thường thiệt hại về vật chất do tội phạm gây nên và trên cơ sở đó quyết định: Đình chỉ điều tra vụ án 9 hình sự hoặc là; Chuyển toàn bộ các tài liệu của vụ án đó cho Viện kiểm sát và đề nghị truy tố bị can. Theo quan niệm chung hiện nay thì hoạt động điều tra là của cơ quan điều tra và các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra nhằm xác định hành vi phạm tội và người đã thực hiện hành vi phạm tội đó, lập hồ sơ đề nghị truy tố, xác định nguyên nhân và điều kiện phạm tội, yêu cầu các cơ quan t ch c hữu quan áp dụng các biện pháp khắc phục; tô trọng sự thật, tiến hành điều tra một cách toàn diện, đầy đủ, làm rõ những ch ng c ch ng minh sự vô tội, những tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo.
Thực chất hoạt động điều tra là hoạt động của thủ trưởng, phó thủ trưởng, điều tra viên, cán bộ điều tra, được áp dụng các biện pháp điều tra do pháp luật tố tụng hình sự cho phép. Mọi hoạt động điều tra phải tuận theo các nguyên tắc và quy định của pháp luật. Hoạt động đi u tra hình sự của c quan H i quan. Cơ quan Hải quan không phải là cơ quan điều tra chuyên trách, chỉ được giao một số hoạt động điều tra nên có những mặt giống và đặc điểm riêng biệt trong quá trình thực hiện công tác ĐTHS.
- Về cơ bản, hoạt động ĐTHS của cơ quan Hải quan phải đáp ng, đảm bảo các yêu cầu về công tác điều tra hình sự chung được quy định trong pháp luật hình sự như: + Hoạt động điều tra phải tôn trọng sự thật, tiến hành một cách khách quan, đầy đủ. + Phát hiện chính xác, nhanh chóng mọi hành vi pham tội, làm rõ ch ng c xác định có tội và ch ng c xác định vô tội, những tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. + Mọi hoạt động điều tra phải tuân theo quy định của BLHS, Bộ luật TTHS, Luật TCCQĐTHS. 10 + Chỉ những t ch c, cá nhân được pháp luật cho phép mới được tiến hành các hoạt động điều tra hình sự.
+ Các biện pháp được áp dụng trong hoạt động điều tra hình sự gồm khởi tố, tạm giam, tạm giữ, lấy lời khai, khám xét, thu thập ch ng c , giám định… phải được tiến hành theo đúng trình tự, thủ tục và tuân thủ theo quy định của pháp luật TTHS. - Tuy nhiên, so với hoạt động điều tra nói chung, của các cơ quan điều tra nói riêng, hoạt động ĐTHS của cơ quan Hải quan có một số nét, đặc điểm riêng sau: + Th nhất, hoạt động ĐTHS của cơ quan Hải quan chỉ tập trung làm rõ tội phạm trong lĩnh vực Hải quan. Cụ thể là tập trung điều tra, xác minh, khởi tố đối với tội buôn lậu và tội vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới, từ năm 2018 b sung thêm tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (theo quy định của BLHS 2015). + Th hai, pháp luật chỉ cho phép một số ít cá nhân nhất định thuộc lực lượng Hải quan được tiến hành một số hoạt động điều tra.
Cụ thể cả Bộ luật TTHS 2003 và Bộ luật TTHS 2015 cũng như Luật TCCQĐTHS đều quy định chỉ có Cục trưởng Cục ĐTCBL, Cục trưởng Cục Kiểm tra sau thông quan, Cục trưởng Cục Hải quan tỉnh, liên tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Chi cục trưởng Chi cục HQCK và cấp phó (bao gồm Phó Cục trưởng Cục ĐTCBL, Phó Cục trưởng Cục Kiểm tra sau thông quan, Phó Cục trưởng Cục Hải quan tỉnh, liên tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Phó Chi cục trưởng Chi cục HQCK) được tiến hành một số hoạt động ĐTHS. + Th ba, mặt dù pháp luật quy định chỉ có một số cá nhân nêu trên trong lực lượng Hải quan mới được thực hiện một số hoạt động ĐTHS. Tuy nhiên trong thực tế phần lớn các hoạt động điều tra của Hải quan lại được tiến hành theo thủ tục hành chính bởi các công ch c Hải quan khác. Các cá nhân 11 được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra thường chỉ thực tế thực hiện nhiệm vụ được giao thông qua hoạt động khởi tố vụ án.
+ Th tư, về quy định thì cơ quan Hải quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra sau khi khởi tố vụ án như lấy lời khai; tạm giữ người, tạm giữ hàng hóa, vật ch ng; giám định; khám xét. Tuy nhiên trong thực tế, hầu như tất cả các hoạt động trên đều được thực hiện trước khi khởi tố vụ án – t c toàn là các hoạt động “ti n đi u tra”. Vì tất cả các vụ án được cơ quan Hải quan khởi tố xong đều làm thủ tục chuyển cho cơ quan điều tra ch không đủ thời gian, diều kiện để thực hiện các hoạt động điều tra nào nữa. + Th năm, các hoạt động ĐTHS của cơ quan Hải quan chủ yếu được thực hiện thông qua các hình th c như khởi tố vụ án; lấy lời khai/biên bản làm việc; thu giữ/bảo quản vật ch ng; khám xét hàng hóa; giám định.
Còn các biện pháp khác như đối chất, nhận dạng, hỏi cung bị can, khám nghiệm hiện trường, tạm giam… không được thực hiện. Một phần vì pháp luật chưa cho phép, một phần nữa là một số hoạt động khác cho phép nhưng chưa có khả năng, điều kiện, thời gian, nhân lực để triển khai thực hiện. C sở lý luận v quy định hoạt động đi u tra hình sự của c quan H i quan. Mặc dù không phải là cơ quan điều tra chuyên trách, không thuộc lực lượng tư pháp (cơ quan điều tra, tòa án, viện kiểm sát), tuy nhiên lực lượng Hải quan vẫn được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra.
Đây không phải là quy định ngẫu nhiên mà rất có căn c , xuất phát từ thực tiễn cũng như các cơ sở lý luận sau: Th nhất, Hải quan là cơ quan thuộc lực lượng hành pháp, không phải là tư pháp nên không phải là cơ quan điều tra chuyên trách.