Luận văn tốt nghiệp nghiên cứu thành phần hóa học và hoạt tính chống oxy hóa in vitro của dịch chiết thân lá loài gừng orlow distichochlamys orlowii

Luận văn tốt nghiệp hóa học nghiên cứu Luận văn tốt nghiệp nghiên cứu thành phần hóa học và hoạt tính chống oxy hóa in vitro của dịch, điều tra thực trạng, phân tích số liệu, đề

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Dược học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2022

56
3
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Tổng quan về cây

1.1.1. Tổng quan về họ gừng (Zingibeaceae)

1.1.2. Tổng quan về Chi Distichochlamys

1.1.3. Đặc điểm thực vật và phân bố của loài Distichochlamys orlowii

1.2. Tổng quan về chiết xuất

1.2.1. Khái niệm chiết xuất

1.2.2. Các kỹ thuật chiết xuất

1.3. Tổng quan về oxy hóa

1.3.1. Gốc tự do

1.3.2. Hệ thống chống oxy hóa trong cơ thể

1.3.3. Một số phương pháp đánh giá tác dụng chống oxy hóa

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Hóa chất sử dụng

2.3. Thiết bị, dụng cụ sử dụng trong nghiên cứu

2.4. Phương pháp nghiên cứu

2.4.1. Chiết xuất thân lá Gừng Orlow (Distichochlamys orlowii) bằng phương pháp chiết soxhlet

2.4.2. Chiết xuất thân lá Gừng Orlow (Distichochlamys orlowii) bằng phương pháp chiết lắc

2.4.3. Chiết xuất thân lá Gừng Orlow (Distichochlamys orlowii) bằng phương pháp chiết siêu âm

2.4.4. Phương pháp xác định khả năng quét gốc tự do DPPH

2.4.5. Xác định khả năng quét gốc tự do ABTS

2.4.6. Xác định hàm lượng phenolic tổng và flavonoid tổng có trong cao chiết thân lá loài D.

2.4.7. Sắc ký khí - Khối phổ (GC-MS)

2.4.8. Phương pháp xử lý số liệu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ

3.1. Hiệu suất chiết

3.2. Khả năng chống oxy hóa in vitro của các cao chiết thân lá Distichochlamys orlowii

3.2.1. Khả năng quét gốc tự do DPPH

3.2.2. Khả năng quét gốc tự do ABTS

3.3. Thành phần hóa học của dịch chiết thân lá loài Distichochlamys orlowii

3.3.1. Hàm lượng phenolic toàn phần, flavonoid toàn phần của thân lá Distichochlamys orlowii

3.3.2. Xác định thành phần tinh dầu trong cao chiết thân lá D.

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Về hiệu suất chiết

4.2. Về khả năng chống oxy hóa

4.2.1. Khả năng quét gốc tự do DPPH

4.2.2. Khả năng quét gốc tự do ABTS

4.3. Về thành phần hóa học

4.3.1. Tổng hàm lượng phenolic và tổng hàm lượng Flavonoid

4.3.2. Đánh giá các thành phần tinh dầu trong dịch chiết thân lá loài D.

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Nghiên cứu thành phần hóa học của dịch chiết gừng Orlowii

Nghiên cứu thành phần hóa học của dịch chiết gừng Orlowii (Distichochlamys orlowii) đã chỉ ra rằng loài này chứa nhiều hợp chất có giá trị. Các hợp chất phenolic và flavonoid là hai nhóm chính được xác định trong dịch chiết. Các nghiên cứu cho thấy hàm lượng phenolic tổng và flavonoid tổng trong dịch chiết gừng Orlowii có khả năng chống oxy hóa cao. Điều này cho thấy gừng Orlowii không chỉ là một loại gia vị mà còn là một nguồn nguyên liệu quý giá trong y học cổ truyền. Theo các kết quả phân tích, dịch chiết gừng Orlowii có chứa các hợp chất như geranyl acetat, β-elemene, và β-caryophellene, những hợp chất này đã được chứng minh có tác dụng chống oxy hóa mạnh mẽ. Việc xác định thành phần hóa học của dịch chiết gừng Orlowii không chỉ giúp hiểu rõ hơn về giá trị dinh dưỡng của nó mà còn mở ra hướng nghiên cứu mới trong việc phát triển các sản phẩm chức năng từ thiên nhiên.

1.1 Hàm lượng phenolic và flavonoid

Hàm lượng phenolic và flavonoid trong dịch chiết gừng Orlowii được xác định thông qua các phương pháp phân tích hiện đại. Kết quả cho thấy dịch chiết này có hàm lượng phenolic cao, điều này chứng tỏ khả năng quét gốc tự do của nó. Các hợp chất phenolic có khả năng chống oxy hóa mạnh mẽ, giúp bảo vệ tế bào khỏi sự tổn thương do gốc tự do gây ra. Flavonoid cũng đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ sức khỏe, với nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng chúng có thể giảm nguy cơ mắc các bệnh mãn tính. Việc nghiên cứu hàm lượng phenolic và flavonoid trong dịch chiết gừng Orlowii không chỉ có ý nghĩa trong việc phát triển sản phẩm chức năng mà còn góp phần vào việc bảo tồn và phát triển nguồn tài nguyên thực vật quý giá này.

II. Hoạt tính chống oxy hóa của dịch chiết gừng Orlowii

Hoạt tính chống oxy hóa của dịch chiết gừng Orlowii đã được đánh giá thông qua các phương pháp in vitro như DPPH và ABTS. Kết quả cho thấy dịch chiết này có khả năng quét gốc tự do DPPH và ABTS với nồng độ ức chế IC50 thấp, cho thấy hiệu quả chống oxy hóa cao. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng gừng Orlowii có thể là một nguồn cung cấp chất chống oxy hóa tự nhiên, giúp bảo vệ cơ thể khỏi các bệnh liên quan đến stress oxy hóa. Việc sử dụng dịch chiết gừng Orlowii trong thực phẩm và dược phẩm có thể mang lại nhiều lợi ích cho sức khỏe. Điều này mở ra cơ hội cho việc phát triển các sản phẩm từ gừng Orlowii, không chỉ trong lĩnh vực thực phẩm mà còn trong ngành dược phẩm, nhằm nâng cao sức khỏe cộng đồng.

2.1 Khả năng quét gốc tự do DPPH

Khả năng quét gốc tự do DPPH của dịch chiết gừng Orlowii được xác định thông qua các thí nghiệm in vitro. Kết quả cho thấy dịch chiết này có khả năng ức chế gốc tự do DPPH với nồng độ IC50 thấp, cho thấy hiệu quả chống oxy hóa mạnh mẽ. Điều này chứng tỏ rằng gừng Orlowii có thể là một nguồn cung cấp chất chống oxy hóa tự nhiên, giúp bảo vệ tế bào khỏi sự tổn thương do gốc tự do gây ra. Việc nghiên cứu khả năng quét gốc tự do DPPH không chỉ có ý nghĩa trong việc phát triển sản phẩm chức năng mà còn góp phần vào việc nâng cao nhận thức về giá trị dinh dưỡng của gừng Orlowii trong chế độ ăn uống hàng ngày.

2.2 Khả năng quét gốc tự do ABTS

Khả năng quét gốc tự do ABTS của dịch chiết gừng Orlowii cũng được đánh giá trong nghiên cứu này. Kết quả cho thấy dịch chiết này có khả năng ức chế gốc tự do ABTS với nồng độ IC50 tương đối thấp, cho thấy hiệu quả chống oxy hóa cao. Điều này cho thấy gừng Orlowii không chỉ có giá trị trong ẩm thực mà còn có tiềm năng lớn trong việc phát triển các sản phẩm chức năng hỗ trợ sức khỏe. Việc nghiên cứu khả năng quét gốc tự do ABTS giúp khẳng định thêm giá trị của gừng Orlowii trong việc bảo vệ sức khỏe con người, đồng thời mở ra hướng nghiên cứu mới trong lĩnh vực dược liệu.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

đặt vấn đề thời vụ thu hái để đảm bảo hoạt chất mong muốn có hàm lượng cao nhất.2 Các kỹ thuật chiết xuất Có rất nhiều kỹ thuật và thiết bị chiết khác nhau được áp dụng cho hai phương pháp chiết như: chiết ở nhiệt độ thường (ngâm lạnh, ngấm kiệt ở nhiệt độ thường) hay nhiệt độ cao (chiết nóng, hãm, sắc, ngấm kiệt nóng), chiết với các thiết bị như soxhlet, kumagawa,…tùy yêu cầu, điều kiện mà lựa chọn kỹ thuật chiết thích hợp. Các phương pháp chiết gồm có ngâm và ngấm kiệt. Trong phương pháp ngâm dược liệu được ngâm trong một lượng thừa dung môi trong một thời gian nhất định để các chất tan trong dược liệu hòa tan vào dung môi. Dịch chiết sau đó được rút hết ra và dung môi mới được thêm vào và quá trình ngâm chiết được lặp lại cho tới khi lấy hết các chất khỏi dược liệu.

Trong phương pháp ngấm kiệt, dung môi được dịch chuyển trong khối dược liệu theo một chiều xác định với một tốc độ nhất định. Trong quá trình dịch chuyển, các chất tan trong dược liệu tan vào dung môi và nồng độ dung dịch tăng dần cho tới khi bão hoà ở đầu kia của khối dược liệu. Như vậy, ngấm kiệt là 1 quá trình chiết ngược dòng với nồng độ dịch chiết tăng dần từ đầu tới cuối khối dược liệu. Dung môi mới tiếp xúc với dược liệu có lượng hoạt chất thấp nhất do vậy quá trình chiết được thực hiện hoàn toàn hơn.

Dung môi chiết cũng tùy theo từng loại hoạt chất mà chọn cho thích hợp. Về nguyên tắc, để chiết các chất phân cực (các glycosid, các muối của alcaloid, các hợp chất polyphenol.) thì phải sử dụng các dung môi phân cực. Để chiết các chất kém phân cực (chất béo, tinh dầu, carotenoid, các triterpen và steroid tự do,…) thì phải sử dụng các dung môi kém phân cực. Ngoài các kỹ thuật chiết cổ điển như trên ra, các kỹ thuật chiết mới như chiết với sự hỗ trợ của sóng siêu âm, vi sóng, chiết chất lỏng quá tới hạn, chiết dưới áp suất cao…đã được phát triển để nâng cao hiệu quả cũng như chất lượng chiết xuất [14].

Chiết với sự hỗ trợ của siêu âm Trong quá trình chiết xuất, đôi khi sóng siêu âm cũng được áp dụng để tăng hiệu quả chiết. Sóng siêu âm với tần số trên 20 kHz thường được sử dụng. Sóng siêu âm có tác dụng làm tăng sự hoà tan của chất tan vào dung môi và 8 Luan van tăng quá trình khuếch tán chất tan. Sóng siêu âm cường độ cao cũng có thể tăng quá trình khuyếch tán chất tan.

Sóng siêu âm cường độ cao cũng có thể phá vỡ cấu trúc tế bào, thúc đẩy quá trình chiết [14]. Ưu điểm: chiết xuất với sự trợ giúp của siêu âm thể hiện sự hiệu quả, đơn giản và ít tốn kém so với các kỹ thuật chiết xuất thông thường. Ưu điểm chính của phương pháp này là làm tăng khối lượng chiết xuất và động học của quá trình chiết xuất cũng nhanh hơn nên rút ngắn được thời gian chiết xuất. Siêu âm cũng có thể làm giảm nhiệt độ chiết xuất, cho phép chiết xuất các hợp chất kém bền với nhiệt.

So với chiết xuất bằng vi sóng và siêu tới hạn thì thiết bị chiết siêu âm rẻ hơn và tiến hành dễ dàng hơn. Hơn nữa, trong chiết xuất siêu âm có thể sử dụng nhiều loại dung môi để chiết xuất một khoảng rộng các hoạt chất [15]. Nhược điểm: siêu âm trong chiết xuất có thể làm biến đổi các chất chiết do nhiệt độ tăng cao và sự hình thành hydroqeroxyl, nhất là dung môi có nước. Một số hoạt chất trong dược liệu khi sử dụng siêu âm dễ bị phân hủy.

Vì vậy phải cẩn thận khi chọn điều kiện chiết xuất cũng như phương pháp phát hiện sản phẩm phân hủy [15]. Chiết với sự hỗ trợ của vi sóng Khi chiếu bức xạ điện từ ở tần số 2450 MHz (bức xạ trong vùng vi sóng của dải sóng điện từ) vào môi trường các chất phân cực, các phân tử sẽ chịu đồng thời 2 tác động: sự dẫn truyền ion và sự quay lưỡng cực dưới tác dụng của điện trường. Cả hai tác động này làm sinh ra nhiệt trong lòng khối vật chất làm cho việc gia nhiệt nhanh và hiệu quả hơn rất nhiều so với phương pháp dẫn nhiệt truyền thống. Trong chiết xuất, khi chiếu xạ vi sóng vào môi trường có chứa các tiểu phân dược liệu và dung môi phân cực, các phân tử dung môi và các chất phân cực sẽ dao động và nóng lên nhanh chóng làm tăng khả năng hoà tan các chất vào dung môi.

Thêm vào đó, vi sóng cũng làm phá huỷ cấu trúc vách tế bào thực vật làm các chất tan giải phóng trực tiếp vào dung môi chiết làm cho quá trình chiết chuyển thành hoà tan đơn giản. Điều này làm cho việc chiết xuất nhanh hơn nhưng cũng làm cho dịch chiết nhiều tạp chất hơn [14]. 9 Luan van Chiết bằng chất lỏng quá tới hạn Những năm gần đây phương pháp chiết xuất bằng chất lỏng quá giới hạn hoặc chất lỏng siêu tới hạn (Super-critical fluid extraction, SFE) cũng được áp dụng để chiết xuất trong định tính cũng như công nghiệp các hợp chất tự nhiên. Nguyên tắc của phương pháp này như sau: trong điều kiện áp suất bình thường, khi nâng nhiệt độ một chất lỏng tới điểm sôi của nó, chất lỏng sẽ hóa hơi.

Tuy nhiên nếu tiếp tục tăng nồng độ và đồng thời tăng áp suất của hệ lên quá một nhiệt độ và một áp suất nhất định nào đó, người ta sẽ thu được một “chất lỏng” đặc biệt gọi là chất lỏng quá tới hạn. Chất lỏng này không giống với trạng thái lỏng thông thường mà mang cả đặc tính của cả chất khí và chất lỏng. Trong phòng thí nghiệm, SFE được dùng để chiết mẫu cho phân tích dư lượng thuốc trừ sâu, các chất hữu cơ độc hại trong môi trường,…[14] Chiết dưới áp suất cao Một kỹ thuật chiết hiện cũng được sử dụng trong chiết xuất hiện đại là chiết dưới áp suất cao (pressurized liquid extraction, PLE). Khả năng hòa tan của các chất trong dung môi phụ thuộc nhiều và nhiệt độ.

Khi nhiệt độ tăng khả năng hòa tan các chất tăng. Vì thế trong chiết xuất, người ta có xu hướng tăng nhiệt độ để giảm lượng dung môi sử dụng và giảm thời gian chiết. Tuy nhiên, trong điều kiện bình thường, việc tăng nhiệt độ chiết có giới hạn của nó là nhiệt độ sôi của dung môi. Khi hóa hơi, dung môi không còn khả năng hòa tan các chất nữa.

Để khắc phục điều này, người ta tiến hành chiết các chất dưới áp suất cao dựa vào nguyên tắc: nhiệt độ sôi của chất lỏng tăng khi áp suất tăng. Khi đó ta có phương pháp chiết chất lỏng sưới áp suất [14].3 Tổng quan về oxy hóa 1.1 Gốc tự do Gốc tự do là trạng thái cấu trúc của phân tử có 1 điện tử lẻ ở quỹ đạo điện tử ngoài cùng [16], trong khi các phân tử của hệ sinh học đều có số điện tử chẵn ở lớp ngoài cùng [17, 18]. Vì vậy gốc tự do có đặc điểm là rất kém ổn định, chúng sẵn sàng phản ứng với phân tử hoặc nguyên tử lân cận, cho đi hoặc nhận thêm một điện tử để hoàn chỉnh quỹ đạo điện tử ngoài cùng của mình [18]. Đây là lý do, tại sao các gốc tự do có khả năng phản ứng cao và có thể 10 Luan van phản ứng với protein, lipid, carbohydrate và DNA.

Những gốc tự do này tấn công các phân tử ổn định gần nhất để “đánh cắp” electron để trở thành trạng thái bền vững. Khi phân tử bị tấn công mất điện tử, nó sẽ trở thành một gốc tự do mới, bắt đầu phản ứng dây chuyền, cuối cùng dẫn đến phá hủy tế bào [16]. Cấu tạo gốc tự do [19] Các gốc tự do hay nói chính xác là các chất hoạt động chứa oxy (Reactive Oxygen Species - ROS ) và các chất hoạt động chứa nito (Reactive Nitrogen Species - RNS) là các dẫn xuất dạng khử của oxy và nito phân tử. Chúng được chia thành hai nhóm lớn là các gốc tự do và các dẫn xuất không phải là gốc tự do (tiền thân của các gốc tự do).

Các chất hoạt động chứa oxy và nito chính [20] O2. OH Hydroxyl Gốc tự do NO. Nitric Oxide NO2. Nitrogen dioxid H2O2 Hydrogen peroxid Các dẫn xuất không Hypochlorous acid HOCl phải là các gốc tự do ONOO- Peroxy nitrit 11 Luan van ROS được coi là một trong những nguyên nhân chính gây tổn thương mô.

Tuy nhiên, sự cân bằng giữa sự sản sinh ROS và hoạt động của hệ thống chống oxy hóa trong cơ thể sống giúp duy trì sự phá hủy của quá trình oxy hóa ở mức độ thấp. Khi sự mất cân bằng xảy ra nghiêm trọng, sản sinh nhiều ROS sẽ gây ra stress oxy hóa. ROS là nguyên nhân gây ra các bệnh tim mạch, tiểu đường, viêm khớp dạng thấp, ung thư và rối loạn thần kinh …[21]. Tương tự như ROS, RNS có vai trò kép, vừa cho tác dụng có lợi vừa có thể gây hại cho hệ thống sống.

Nitric oxid là chất được biết sớm nhất với vai trò là phân tử làm giãn nở mạch máu, kiểm soát lượng máu lưu thông đến các bộ phận của cơ thể. Đồng thời, nó có thể là trung gian gây độc tế bào do phá hủy các enzym chuyển hóa bằng phản ứng với superoxid, peroxynitrit [20]. Các ROS và RNS được tạo ra một cách tất yếu trong quá trình trao đổi chất và tùy thuộc vào nồng độ mà chúng có tác động xấu, tốt đến cơ thể [20, 22]. Ở nồng độ thấp, các ROS và các RNS là các tín hiệu làm nhiệm vụ [22]: + Điều hòa phân ly tế bào + Kích hoạt các yếu tố phiên mã (NFkB, p38-MAP kinase,.) cho các gen tham gia quá trình miễn dịch, kháng viêm.

+ Điều hòa biểu hiện các gen mã hóa cho các enzym chống oxy hóa. Ở nồng độ cao, các ROS và RNS oxy hóa các đại phân tử sinh học gây nên [22]: + Đột biến ở DNA + Biến tính protein + Oxy hóa lipid 1.2 Hệ thống chống oxy hóa trong cơ thể Chất chống oxy hóa là những phân tử ổn định đủ để nhận hoặc nhường electron cho các gốc tự do và trung hòa chúng, do đó làm giảm hoặc mất khả năng gây hại tới tế bào của ROS [23].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Nghiên cứu thành phần hóa học và hoạt tính chống oxy hóa in vitro của dịch chiết thân lá gừng Orlowii" của tác giả Lê Thị Hồng, dưới sự hướng dẫn của TS. Lê Hồng Luyến và ThS. Nguyễn Xuân Tùng, thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội, tập trung vào việc phân tích các thành phần hóa học có trong dịch chiết từ gừng Orlowii và đánh giá khả năng chống oxy hóa của nó. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp thông tin quý giá về giá trị dinh dưỡng và tiềm năng ứng dụng của gừng trong y học mà còn mở ra hướng đi mới cho việc phát triển các sản phẩm bảo vệ sức khỏe từ thiên nhiên.

Để mở rộng thêm kiến thức về các nghiên cứu liên quan đến hoạt tính sinh học và hóa học, bạn có thể tham khảo bài viết Luận án tiến sĩ về hoạt tính sinh học của hợp chất tử vi nấm biển tại miền Trung Việt Nam, nơi nghiên cứu về các hợp chất tự nhiên và hoạt tính sinh học của chúng. Ngoài ra, bài viết Luận văn thạc sĩ: Nghiên cứu thành phần hóa học và hoạt tính kháng viêm của cây hầu vĩ tóc Uraria crinita cũng sẽ cung cấp thêm thông tin về các hoạt chất tự nhiên và tác dụng của chúng. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về Nghiên cứu thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của tinh dầu và trích ly phenolic từ củ riềng Alpina galanga Willd, một nghiên cứu khác về các hoạt chất tự nhiên và lợi ích sức khỏe của chúng. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn sâu sắc hơn về lĩnh vực nghiên cứu hóa học và hoạt tính sinh học.