Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ hóa học của nghiên cứu sinh Trương Thị Tố Chinh với đề tài "Nghiên cứu thành phần hoá học của một số loài cây thuộc họ Betulaceae và họ Zingiberaceae", chuyên ngành Hóa học Hữu cơ (mã số: 62 44 27 01), được thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Hà Nội vào năm 2011.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Các hợp chất thiên nhiên giữ vị trí quan trọng trong sản xuất dược phẩm và các ngành khoa học ứng dụng, đóng vai trò là nguyên mẫu cấu trúc dẫn đường cho quá trình nghiên cứu và phát triển thuốc. Theo số liệu của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) được trích dẫn trong luận án, hiện có trên 80% dân số thế giới sử dụng nguồn dược liệu để chăm sóc sức khỏe và điều trị bệnh tật. Việt Nam sở hữu hệ thực vật đa dạng với 337 họ, 2.585 loài, trong đó có khoảng 3.800 loài được sử dụng làm thuốc trong y học dân gian. Việc khảo sát hóa học và hoạt tính sinh học của các cây thuốc là cơ sở để tiêu chuẩn hóa dược liệu và tìm kiếm các chất có hoạt tính sinh học.

Họ Cáng lò (Betulaceae) và họ Gừng (Zingiberaceae) được ghi nhận là hai họ thực vật chứa nhiều nhóm hoạt chất có giá trị như tecpenoit, diarylheptanoit và flavonoit. Tuy nhiên, tại Việt Nam, nhiều loài thuộc hai họ này là cây quý hiếm hoặc mới được phát hiện nhưng chưa được nghiên cứu đầy đủ về thành phần hóa học và hoạt tính sinh học. Cụ thể, các loài Tống quán sủi (Alnus nepalensis D. Don), Gừng môi tím đốm (Zingiber peninsulare I. Theilade) và Riềng maclurei (Alpinia maclurei Merr.) chưa từng có công bố khoa học nào về thành phần hóa học; loài Cáng lò (Betula alnoides Buch. -Ham. ex D. Don) trước đó mới chỉ có duy nhất một thông báo ngắn về sự có mặt của một vài tritecpenoit trong vỏ cây. Đây chính là khoảng trống khoa học mà luận án xác định để giải quyết.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Luận án xác định 5 nội dung nghiên cứu chính:

  1. Xây dựng quy trình chiết và điều chế các phần chiết từ các bộ phận của các cây nghiên cứu.
  2. Phân tích sắc ký các phần chiết, xây dựng các quy trình phân tách và phân lập các hợp chất.
  3. Phân tách sắc ký các phần chiết và phân lập các hợp chất thành phần.
  4. Xác định cấu trúc hóa học của các hợp chất phân lập được bằng các phương pháp vật lý và phổ hiện đại.
  5. Đánh giá hoạt tính sinh học (kháng vi sinh vật kiểm định) của một số hợp chất có cấu trúc tecpenoit và steroit nhận được trong khuôn khổ nghiên cứu.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng thực vật: Gồm 4 loài cây thuộc 2 họ thực vật:
    1. Cây Tống quán sủi (Alnus nepalensis D. Don) - họ Cáng lò (Betulaceae).
    2. Cây Cáng lò (Betula alnoides Buch. -Ham. ex D. Don) - họ Cáng lò (Betulaceae).
    3. Cây Gừng môi tím đốm (Zingiber peninsulare I. Theilade) - họ Gừng (Zingiberaceae).
    4. Cây Riềng maclurei (Alpinia maclurei Merr.) - họ Gừng (Zingiberaceae).
  • Phạm vi không gian và thời gian thu mẫu:
    • Mẫu Tống quán sủi do TS. Trần Ngọc Ninh (Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật thuộc Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam) thu thập tại vùng núi thuộc huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang theo hai thời điểm: mẫu 1 vào tháng 7 năm 2006 và mẫu 2 vào tháng 6 năm 2007.
    • Các loài nghiên cứu được phân bố tự nhiên tại các vùng rừng núi phía Bắc (như Sa Pa, Lào Cai, Hà Giang, Tuyên Quang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Sơn La, Lai Châu) và vùng Tây Nguyên (Gia Lai).
    • Bộ phận khảo sát bao gồm: lá, cành con, vỏ cành (đối với cây Tống quán sủi và Cáng lò) và thân rễ (đối với Gừng môi tím đốm và Riềng maclurei).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu về chi Alnus và Betula (họ Betulaceae)

Theo khảo cứu của tác giả, họ Betulaceae có 6 chi với khoảng 150-200 loài, trong đó Alnus và Betula là hai chi lớn nhất.

  • Chi Alnus: Có khoảng 40 loài trên thế giới. Các nghiên cứu trước đây đã phân lập nhiều nhóm chất:
    • Alnus glutinosa: Các công trình của tác giả [52, 113, 115, 128, 135] đã phân lập diarylheptanoit, flavonoit, sterol; năm 1978 hợp chất 4',5'-dihydroxy-3'-metoxystilben (1) lần đầu được tìm thấy từ chồi cây này.
    • Alnus pendula: Tác giả [152, 153] phân lập axit alnustic và các tritecpenoit kiểu secodammaran như hợp chất (2a), (2b) và axit (20S)-20-hydroxy-24-metylen-3,4-secodammar-4(28)-en-3-oic (3).
    • Alnus hirsuta: Các nghiên cứu [33, 36, 166] tìm thấy heptacosan, tetracosanol, lupenon, glutin-5-en-3-ol, diarylheptanoit; tác giả Lee và cộng sự [94] phân lập ellagitannin hirsunin (7) từ loài phụ microphylla; Lee và cộng sự [95] phân lập oregonin và hirsutanonol từ loài phụ sibirica có khả năng ức chế xyclooxygenaza-2 (COX-2) trong tế bào biểu mô vú người MCF-10A.
    • Alnus japonica: Các công trình [22, 23, 56, 82, 88, 93, 123, 124] công bố 6 tritecpenoit kiểu secodammaran (8, 9, 10a, 10b), diarylheptanoit (11a, 11b, 11c), tanin alnusjaponin A (12), alnusjaponin B (13), cùng các diarylheptanoit vòng oregonoyl A (15) và oregonoyl B (16).
    • Alnus firma: Hợp chất metyl alnustat phân lập từ cây này thể hiện hoạt tính ức chế HIV-1 với giá trị $IC_{50} = 15,8\ \mu M$ [184].
  • Chi Betula: Có khoảng 50-60 loài.
    • Betula papyrifera: Phân lập papyriferozit A (21) [119] có hoạt tính gây độc tế bào carcinoma phổi (A-549) và ung thư trực tràng (DDL-1) với $IC_{50}$ từ 10,3 đến $52\ \mu M$.
    • Betula platyphylla: Các nghiên cứu [55, 64, 74, 85, 107] công bố các tritecpenoit kiểu seco-oleanan và seco-ursan (24, 25, 26, 27) cùng các diarylheptanoit betulaplatozit Ia (28), Ib (29). Tác giả S. Kim và cộng sự (2010) [85] đã chứng minh các arylbutanoit ức chế giải phóng $\beta$-hexosaminidaza ở tế bào RBL-2H3.
    • Betula alnoides: Trước nghiên cứu của luận án, chỉ có duy nhất một thông báo ngắn của nhóm tác giả [73] phân lập được lupeol, axit 3-O-axetoxyoleanolic cùng hỗn hợp betulin và axit betulinic từ vỏ cây.

Các hướng nghiên cứu về chi Zingiber và Alpinia (họ Zingiberaceae)

  • Chi Zingiber: Có khoảng 100-150 loài.
    • Tinh dầu các loài gừng thường giàu sesquitecpen và monotecpen như zingiberen, geranial, caryophyllen [136, 141, 148, 154]. Tại Việt Nam, tinh dầu Z. zerumbet và Z. eberhardtii đã được tác giả [3, 5] khảo sát.
    • Zingiber officinale: Chứa shogaol, gingerol, gingediol và các diarylheptanoit vòng [31, 41, 78, 159, 186]. Hợp chất 6-shogaol thể hiện hoạt tính gây độc tế bào ung thư người A549, SK-OV-3 với $ED_{50} = 1,05-1,76\ \mu g/ml$ [83].
    • Zingiber cassumunar: Chứa các dẫn xuất phenylbutanoit, phenylbutenoit (43-49) và các dẫn xuất curcumin như cassumunin A-C, cassumunarin A-C có khả năng chống oxy hóa và chống viêm [54, 68, 71, 92, 111].
    • Zingiber aromaticum: Phân lập các dẫn xuất kaempferol có khả năng ức chế chuyển hóa enzym cytochrom P450 CYP3A4 và CYP2D6 [165].
  • Chi Alpinia: Chi lớn nhất trong họ Zingiberaceae với khoảng 230 loài.
    • Alpinia officinarum: Phan Tống Sơn và cộng sự [12] xác định tinh dầu chứa 54,6% 1,8-cineol. Thân rễ chứa nhiều diarylheptanoit (64-73) có hoạt tính gây độc tế bào Hep G2, MCF-7 [20] và kháng vi khuẩn Helicobacter pylori với giá trị MIC 9-12 $\mu g/ml$ [185].
    • Alpinia galanga: Phân lập $1'$-axetoxychavicol axetat (ACA) và $1'$-axetoxyeugenol axetat có tác dụng kìm hãm khối u Sarcoma 180 ở chuột [66].
    • Alpinia oxyphylla: Hợp chất nootkaton trong quả có tác dụng chống loét dạ dày ở liều 20 mg/kg chuột [182].

Khoảng trống luận án giải quyết

Mặc dù hai họ Betulaceae và Zingiberaceae đã được nghiên cứu rộng rãi trên thế giới, nhưng 4 loài cây nghiên cứu trong luận án tại Việt Nam hầu hết chưa được khảo sát:

  • Cây Tống quán sủi (Alnus nepalensis D. Don): Chưa có công trình khoa học nào công bố về thành phần hóa học và hoạt tính sinh học.
  • Cây Cáng lò (Betula alnoides Buch. -Ham. ex D. Don): Mới chỉ có 1 công bố sơ bộ về vài hợp chất từ vỏ thân, các bộ phận lá và cành con chưa được nghiên cứu.
  • Cây Gừng môi tím đốm (Zingiber peninsulare I. Theilade): Chưa có công bố khoa học về thành phần hóa học và hoạt tính sinh học.
  • Cây Riềng maclurei (Alpinia maclurei Merr.): Chưa từng được nghiên cứu về hóa học và hoạt tính sinh học.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án tiếp cận theo hướng hóa học thực nghiệm các hợp chất thiên nhiên (Hóa học Hữu cơ).

Quy trình điều chế các phần chiết

Nguyên liệu thực vật sau khi làm sạch được sấy khô ở nhiệt độ 45 °C, xay thành bột mịn và ngâm chiết hồi lưu hoặc ngâm chiết lạnh với dung môi metanol (MeOH) ở nhiệt độ phòng. Quá trình ngâm chiết được lặp lại 4-5 lần (mỗi lần ngâm trong 3 ngày). Dịch chiết metanol gộp lại được cất loại dung môi dưới áp suất giảm để thu cặn chiết tổng số. Cặn chiết metanol được hòa với nước cất, sau đó tiến hành phân bố lỏng - lỏng chọn lọc lần lượt với các dung môi có độ phân cực tăng dần: $n$-hexan, diclometan ($CH_2Cl_2$), etyl axetat ($EtOAc$) và $n$-butanol ($n-BuOH$) để thu các phần chiết tương ứng.

Phương pháp phân tách và phân lập

  • Sắc ký lớp mỏng (TLC): Sử dụng bản mỏng tráng sẵn silica gel DC-Alufolien 60 $F_{254}$, độ dày 0,2 mm của hãng Merck.
    • Thuốc thử hiện màu: Dung dịch vanilin 1,0 g trong 100 ml axit sunfuric đậm đặc (phát hiện tecpenoit cho vệt màu tím, hồng, đỏ, xanh); dung dịch xeri sunfat điều chế từ 2,5 g $Ce(SO_4)_2\cdot 4H_2O$ và 5 g axit photphomolipdic trong 12 ml $H_2SO_4$ đặc, định mức nước cất tới 200 ml (cho vệt màu xanh đen).
  • Sắc ký cột (CC) và sắc ký cột nhanh (FC): Dùng chất hấp phụ silica gel (Merck) với các dải kích thước hạt: 0,063–0,200 mm; 0,063–0,100 mm; 0,040–0,063 mm và 0,015–0,040 mm. Kỹ thuật FC sử dụng khí nén với áp suất đẩy dung môi từ 0,2 đến 0,3 bar.
  • Kết tinh lại: Sử dụng dung môi đơn hoặc hệ hỗn hợp dung môi ($n$-hexan, diclometan, axeton, metanol) để làm sạch chất tinh khiết.

Thiết bị và phương pháp xác định cấu trúc hóa học

Phương pháp phân tích Thiết bị / Hệ thống sử dụng Thông số kỹ thuật / Điều kiện ghi
Đo điểm nóng chảy (đ.n.c) Thiết bị Boetius (Đức) Đo trực tiếp tinh thể
Đo độ quay cực ($[\alpha]_D$) Jasco P-1030 digital polarimeter Đo ở nhiệt độ phòng, bước sóng natri D
Phổ hồng ngoại (FT-IR) Impact 410-Nicolet FT-IR hoặc Horiba FT-710 Đo dạng màng mỏng (film) hoặc ép viên KBr
Phổ khối lượng va chạm electron (EI-MS) HEWLETT PACKARD HP 5989-MS Engine Năng lượng va chạm 70 eV
Phổ khối lượng phun bụi điện tử (ESI-MS) LC/MSD Trap Agilent Series 1100 Cột Zorbax SB C18, pha động 15% MeOH trong ($H_2O$ + axit formic), tốc độ dòng 0,4 ml/phút
Phổ khối lượng phân giải cao (HR-ESI-MS, HR-APCI-MS) Thermo Fischer Scientific LTQ Orbitrap XL Xác định chính xác khối lượng phân tử phân giải cao
Phổ cộng hưởng từ hạt nhân ($^1H$-NMR, $^{13}C$-NMR, DEPT) Bruker Avance 500 MHz Tần số 500 MHz cho $^1H$ và 125 MHz cho $^{13}C$, chuẩn nội TMS
Phổ 2D-NMR ($^1H-^1H$ COSY, HSQC, HMBC, NOESY) Bruker Avance 500 MHz Xác định các tương tác tương quan qua liên kết và không gian

Phương pháp thử hoạt tính sinh học

Hoạt tính kháng vi sinh vật kiểm định (VSVKĐ) in vitro được tiến hành thử nghiệm trên các hợp chất tecpenoit và steroit phân lập được, thực hiện theo phương pháp pha loãng trên phiến vi lượng của Vanden Berghe và Vlietinck [168, 169], xác định nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) và nồng độ ức chế 50% ($IC_{50}$).


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan

Chương 1 hệ thống hóa các tài liệu khoa học về đặc điểm thực vật, thành phần hóa học, hoạt tính sinh học và công dụng làm thuốc của hai họ Betulaceae (trọng tâm là hai chi Alnus và Betula) và Zingiberaceae (hai chi Zingiber và Alpinia). Tiếp đó, chương này mô tả chi tiết đặc điểm hình thái và phân bố của 4 loài cây nghiên cứu:

  • Alnus nepalensis D. Don (Tống quán sủi): Cây gỗ cao 8-15 m (có thể đạt 30 m), vỏ xám bạc; cành non có lông sét; lá mọc so le, phiến bầu dục hoặc xoan ngược; cụm hoa đực dạng đuôi sóc dài 10-16 cm; mọc hoang tại rừng khô Sa Pa (Lào Cai) và vùng Đồng Văn (Hà Giang). Vỏ cây trong y học dân gian Vân Nam (Trung Quốc) dùng chữa thủy thũng, tiêu chảy, lỵ, viêm phổi, đau xương, viêm gan.
  • Betula alnoides Buch. -Ham. ex D. Don (Cáng lò): Cây gỗ nhỏ, thân thẳng tròn, vỏ ngoài nâu xám bong mảng, thịt vỏ màu nâu có mùi thơm hắc; lá hình xoan; hoa đực hình đuôi sóc. Mọc ở các tỉnh miền núi phía Bắc (Lạng Sơn, Sơn La, Lai Châu, Hà Giang, Tuyên Quang, Cao Bằng) và Tây Nguyên. Vỏ và lá được dân gian dùng chữa cảm mạo, đau dạ dày, phong thấp, rắn cắn.
  • Zingiber peninsulare I. Theilade (Gừng môi tím đốm): Cây thảo cao 1-2 m, cụm hoa mọc sát gốc, cánh môi có nhiều đốm tím, phân bố ở vùng râm mát trong rừng thuộc tỉnh Gia Lai và Tây Nguyên.
  • Alpinia maclurei Merr. (Riềng maclurei): Cây thảo cao 1-2 m, cụm hoa thẳng hoặc nghiêng dài 30-40 cm, cánh môi màu vàng ngà có 2 dải sọc nâu đỏ, quả nang hình cầu đường kính 1 cm; phân bố ở vùng rừng núi phía Bắc Việt Nam và Trung Quốc.

Chương 2: Phương pháp và thiết bị nghiên cứu

Chương 2 trình bày chi tiết quy chuẩn thực nghiệm:

  • Phương pháp xử lý nguyên liệu, các dung môi hữu cơ sử dụng gồm $n$-hexan, diclometan, etyl axetat, axeton, metanol, $n$-butanol, đimetyl sunfoxit (DMSO).
  • Kỹ thuật sắc ký: Các loại hạt silica gel Merck dùng cho sắc ký cột thông thường (CC) và sắc ký cột nhanh (FC) với áp suất nén 0,2-0,3 bar; phương pháp giải hấp gradient dung môi.
  • Các điều kiện vận hành thiết bị quang phổ ($^1H$-NMR 500 MHz, $^{13}C$-NMR 125 MHz, EI-MS 70 eV, HR-ESI-MS Orbitrap).
  • Quy trình thử hoạt tính kháng vi sinh vật kiểm định in vitro theo chuẩn của Vanden Berghe và Vlietinck đối với các chủng vi khuẩn Gram âm, Gram dương và nấm mốc.

Chương 3: Phần thực nghiệm

Chương 3 ghi lại toàn bộ quy trình tách chiết, khối lượng nguyên liệu, hiệu suất các phân đoạn và các hằng số vật lý của các chất phân lập được.

1. Cây Tống quán sủi (Alnus nepalensis D. Don)

Nguyên liệu gồm mẫu 1 (tháng 7/2006) và mẫu 2 (tháng 6/2007) thu tại Đồng Văn, Hà Giang.

  • Phân đoạn chiết và phân lập từ lá:
    • Từ phần chiết $n$-hexan mẫu 1 (ALHI, 22 g) phân lập được: A1 (21,3 mg và 50 mg), A2 (2,2 mg), A3 (hợp chất có khối lượng lớn: 30 mg, 28 mg, 49 mg, 40,5 mg), A4 (8 mg).
    • Từ phần chiết etyl axetat mẫu 1 (ALEI, 8 g) phân lập được: A5 (26 mg), A6 (25 mg), A7 (141,5 mg).
    • Từ phần chiết diclometan mẫu 2 (ALDII, 17,5 g) phân lập được: A1 (5 mg), A2 (1 mg), A8 (19,7 mg), A9 (10,7 mg), A10 (6 mg), A11 (1,2 mg), A12 (7 mg), A13 (6,5 mg), AA (1,7 mg), A14 (2,8 mg), A15 (166 mg).
    • Từ phần chiết etyl axetat mẫu 2 (ALEII, 40 g) phân lập được: A16 (5,5 mg), A5 (60 mg qua các phân đoạn), A17 (5 mg), A7 (41 mg qua các phân đoạn), A18 (5 mg).
  • Phân đoạn chiết và phân lập từ cành con:
    • Phần chiết $n$-hexan mẫu 1 (ACHI, 1,3 g) và mẫu 2 (ACHII, 18,87 g) phân lập được: A1 (33 mg và 20 mg), A3 (21,6 mg và 62,6 mg), A19 (10 mg và 160 mg).
    • Phần chiết diclometan gộp (ACD, 14,1 g) phân lập được: A8 (6 mg), A19 (47 mg).
    • Phần chiết etyl axetat gộp (ACE, 16,3 g) phân lập được: A6 (6 mg).
  • Phân đoạn chiết và phân lập từ vỏ cành:
    • Phần chiết $n$-hexan gộp (AVH, 14,76 g) phân lập được: A1 (40 mg), A20 (15 mg), hỗn hợp AVH2 (174,4 mg gồm A1, A3, A20), A3 (120,3 mg), AB (12 mg), A21 (55 mg), A19 (41,1 mg).
    • Phần chiết diclometan gộp (AVD, 10,8 g) phân lập được: A1 (18 mg), A20 (6 mg), A8 (35 mg), A19 (126,6 mg qua các phân đoạn), AC (5 mg).

2. Các loài Cáng lò, Gừng môi tím đốm và Riềng maclurei

  • Cáng lò (Betula alnoides): Điều chế dịch chiết lá, cành con và vỏ cành; phân tách sắc ký cột theo các sơ đồ 3.11 đến 3.17, thu nhận các hợp chất nhóm B (trong đó có B3, B12).
  • Gừng môi tím đốm (Zingiber peninsulare): Thân rễ được chiết phân bố thu các phần $n$-hexan, diclometan, etyl axetat; phân tích thành phần dễ bay hơi bằng GC-MS (Bảng 3.1, Phụ lục 1) và phân lập các hợp chất nhóm Z (Z2, Z5, Z6, Z9) theo các sơ đồ 3.18 đến 3.20.
  • Riềng maclurei (Alpinia maclurei): Phân tích GC-MS phần tinh dầu dễ bay hơi từ thân rễ (Bảng 3.2, Phụ lục 2) và phân tách các phần chiết theo sơ đồ 3.21 và 3.22.

Chương 4: Kết quả và thảo luận

Chương 4 tập trung biện luận và xác định cấu trúc hóa học của các hợp chất dựa trên số liệu phổ thực nghiệm (MS, IR, NMR một chiều và hai chiều):

Ký hiệu Tên hợp chất Phân loại hóa học Dạng tồn tại / Điểm nóng chảy / Dữ kiện phổ đặc trưng
A1 Taraxeryl axetat Tritecpenoit Tinh thể hình que màu trắng
A2 Physcion Anthraquinon Tinh thể hình kim màu cam
A3 1-Nonacosanol Hợp chất béo mạch thẳng Bột vô định hình màu trắng
A4 Axit heptacosanoic Axit béo Bột vô định hình màu trắng ngà
A5 Quercetin Flavonoit Tinh thể hình kim màu vàng
A6 $\beta$-Sitosterol 3-O-$\beta$-D-glucopyranozit Glycozit Steroit Bột vô định hình màu trắng
A7 Quercitrin (Quercetin-3-O-$\alpha$-L-rhamnopyranozit) Flavonoit glycozit Tinh thể hình que màu vàng
A8 Taraxerol Tritecpenoit Tinh thể hình que màu trắng
A9 22-Hydroxyhopan-3-on Tritecpenoit hopan Tinh thể hình que màu trắng
A10 2-Hydroxydiploterol Tritecpenoit Tinh thể hình phiến màu trắng; HR-ESI-MS: $m/z\ 467,3862$ $[M+Na]^+$ (tính toán: 467,3859, ứng với công thức $C_{30}H_{52}O_2Na$)
A11 Axit betulinic Tritecpenoit lupan Bột vô định hình màu trắng
A12 Axit mangiferonic (Axit 3-oxocycloart-24(E)-en-26-oic) Tritecpenoit cycloartan Tinh thể hình đa giác màu trắng; $^1H$-NMR: $\delta$ 0,57 (d, $J=4,0$ Hz, H-19a), 0,79 (d, $J=4,0$ Hz, H-19b)
A13 Axit 24(E)-3-oxodammara-20(21),24(25)-dien-27-oic Tritecpenoit secodammaran Tinh thể hình đa giác màu trắng; HR-ESI-MS: $m/z\ 477,33377$ $[M+Na]^+$; HR-APCI-MS: $m/z\ 455,35129$ $[M+H]^+$ ($C_{30}H_{47}O_3$)
A14 1,5-Epoxy-1-(3',4'-dihydroxyphenyl)-7-(4"-hydroxyphenyl)heptan Diarylheptanoit vòng Tinh thể hình kim màu trắng; HR-ESI-MS: $m/z\ 337,1412$ $[M+Na]^+$ (công thức $C_{19}H_{22}O_4Na$)
A15 Centrolobol Diarylheptanoit Chất rắn màu trắng ngà
A16 Hirsutenon Diarylheptanoit Bột vô định hình màu trắng
A17 Axit gallic Axit phenolic Tinh thể hình que màu trắng đục
A18 Quercetin 3-O-$\beta$-D-galactopyranozit Flavonoit glycozit Tinh thể hình que màu vàng
A19 Betulin Tritecpenoit lupan Bột vô định hình màu trắng
A20 Taraxeron Tritecpenoit Tinh thể hình que màu trắng
A21 $\beta$-Sitosterol Steroit Tinh thể hình que màu trắng

Phần thảo luận cấu trúc của cây Cáng lò, Gừng môi tím đốm và Riềng maclurei trình bày các tương tác HMBC, NOESY (của các hợp chất B3, B12) và quy luật phân mảnh trên phổ khối lượng va chạm electron EI-MS (của Z2, Z5, Z6, Z9). Mục 4.5 tổng hợp các số liệu thử nghiệm sinh học về hoạt tính kháng vi sinh vật kiểm định của các hợp chất tecpenoit và steroit (trình bày tại Bảng 4.5, Phụ lục 3 của luận án).


Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt khoa học lý luận

  1. Luận án là công trình nghiên cứu toàn diện đầu tiên về thành phần hóa học của cây Tống quán sủi (Alnus nepalensis D. Don), cây Gừng môi tím đốm (Zingiber peninsulare I. Theilade) và cây Riềng maclurei (Alpinia maclurei Merr.) tại Việt Nam.
  2. Từ cây Tống quán sủi (Alnus nepalensis), đã phân lập và xác định cấu trúc của 21 hợp chất thuần khiết (từ A1 đến A21) thuộc nhiều nhóm hoạt chất khác nhau:
    • Các tritecpenoit đa dạng thuộc các khung cấu trúc khác nhau: taraxeran (taraxerol, taraxeron, taraxeryl axetat), lupan (betulin, axit betulinic), hopan (22-hydroxyhopan-3-on, 2-hydroxydiploterol), cycloartan (axit mangiferonic) và dammaran (axit 24(E)-3-oxodammara-20(21),24(25)-dien-27-oic).
    • Các diarylheptanoit mạch hở và mạch vòng chứa cầu nối ete: centrolobol, hirsutenon và 1,5-epoxy-1-(3',4'-dihydroxyphenyl)-7-(4"-hydroxyphenyl)heptan.
    • Các hợp chất flavonoit và flavonoit glycozit: quercetin, quercitrin, quercetin 3-O-$\beta$-D-galactopyranozit.
    • Các dẫn xuất anthraquinon (physcion), steroit ($\beta$-sitosterol, $\beta$-sitosterol 3-O-$\beta$-D-glucopyranozit), axit phenolic (axit gallic) và các hợp chất béo chuỗi dài (1-nonacosanol, axit heptacosanoic).
  3. Bổ sung các dẫn liệu khoa học mới về thành phần hóa học của các bộ phận lá, cành con và vỏ cành của cây Cáng lò (Betula alnoides), vượt ra ngoài các thông báo sơ bộ trước đó.
  4. Xác định thành phần hóa học của các phân đoạn dễ bay hơi/tinh dầu từ thân rễ cây Gừng môi tím đốm (Z. peninsulare) và Riềng maclurei (A. maclurei) bằng phương pháp GC-MS.

Đóng góp thực tiễn và giải pháp đề xuất

  • Cung cấp cơ sở dữ liệu vật lý và phổ (độ chảy, IR, MS, 1D và 2D NMR) của các hợp chất thiên nhiên phân lập được, phục vụ làm chất chuẩn đối chiếu cho công tác nghiên cứu hóa thực vật và kiểm nghiệm dược liệu.
  • Cung cấp kết quả thử nghiệm hoạt tính kháng vi sinh vật kiểm định in vitro của các hợp chất tecpenoit và steroit, góp phần làm sáng tỏ cơ sở khoa học cho các bài thuốc kinh nghiệm dân gian sử dụng vỏ và thân rễ các loài cây này để điều trị nhiễm khuẩn, viêm loét và phong thấp.
  • Đề xuất tiếp tục mở rộng khảo sát các hoạt tính sinh học khác (như chống oxy hóa, kháng viêm, gây độc tế bào ung thư) đối với các nhóm chất diarylheptanoit và flavonoit thu nhận được.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế được ghi nhận

  • Phạm vi khảo sát hoạt tính sinh học trong khuôn khổ luận án mới chỉ tập trung đánh giá thử nghiệm in vitro hoạt tính kháng vi sinh vật kiểm định trên một số hợp chất tecpenoit và steroit; chưa tiến hành đánh giá trên toàn bộ các hợp chất diarylheptanoit và flavonoit thu nhận được.
  • Các mẫu nghiên cứu được thu thập tại các địa điểm và thời gian cụ thể (như Tống quán sủi tại Đồng Văn, Hà Giang ở 2 thời điểm tháng 7/2006 và tháng 6/2007), chưa khảo sát biến thiên hàm lượng hoạt chất theo các mùa sinh trưởng khác hoặc tại các vùng sinh thái khác nhau.

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Mở rộng thử nghiệm các mô hình hoạt tính sinh học có định hướng theo y học cổ truyền như hoạt tính chống viêm, chống oxy hóa, ức chế enzyme và gây độc đối với các dòng tế bào ung thư trên các hợp chất diarylheptanoit mạch vòng và hợp chất phenolic.
  • Nghiên cứu sâu hơn về thành phần hóa học của các bộ phận hoa, quả của cây Tống quán sủi và Riềng maclurei khi thu hái đầy đủ mẫu ở các giai đoạn phát triển khác nhau.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo hữu ích cho:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Hóa học Hữu cơ, Hóa học các hợp chất thiên nhiên, Hóa dược và Dược liệu học. Tài liệu cung cấp chi tiết điều kiện thực nghiệm, quy trình sắc ký cột (CC, FC) với các hệ dung môi gradient phân cực khác nhau để phân tách hỗn hợp phức tạp.
  • Giảng viên và các nhà nghiên cứu: Tham khảo cách thức phân tích và giải đoán cấu trúc hóa học của các tritecpenoit và diarylheptanoit phức tạp thông qua việc kết hợp các kỹ thuật phổ 2D-NMR ($^1H-^1H$ COSY, HSQC, HMBC, NOESY) và phổ khối lượng phân giải cao HR-ESI-MS / HR-APCI-MS.
  • Cơ quan quản lý và các viện nghiên cứu dược liệu: Cung cấp dữ liệu khoa học về thành phần hóa học của các loài thực vật bản địa chưa từng nghiên cứu tại Việt Nam, làm cơ sở cho công tác bảo tồn, khai thác bền vững nguồn gen cây thuốc.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án nghiên cứu thành phần hóa học của những loài cây cụ thể nào?

Luận án tập trung nghiên cứu 4 loài thực vật thuộc 2 họ:

  • Cây Tống quán sủi (Alnus nepalensis D. Don) thuộc họ Cáng lò (Betulaceae).
  • Cây Cáng lò (Betula alnoides Buch. -Ham. ex D. Don) thuộc họ Cáng lò (Betulaceae).
  • Cây Gừng môi tím đốm (Zingiber peninsulare I. Theilade) thuộc họ Gừng (Zingiberaceae).
  • Cây Riềng maclurei (Alpinia maclurei Merr.) thuộc họ Gừng (Zingiberaceae).

2. Phương pháp chiết xuất và phân bố phân đoạn được thực hiện như thế nào?

Bột nguyên liệu thực vật khô được ngâm chiết lặp lại 4-5 lần (mỗi lần 3 ngày) bằng metanol ở nhiệt độ phòng. Sau khi cất thu hồi metanol, cặn chiết được hòa với nước cất rồi tiến hành chiết phân bố lỏng - lỏng lần lượt với các dung môi có độ phân cực tăng dần: $n$-hexan, diclometan, etyl axetat và $n$-butanol để thu nhận các phần chiết có độ phân cực khác nhau trước khi đưa vào sắc ký cột.

3. Tác giả đã phân lập và xác định được bao nhiêu hợp chất từ cây Tống quán sủi (Alnus nepalensis)?

Tác giả đã phân lập và làm sáng tỏ cấu trúc hóa học của 21 hợp chất tinh khiết (ký hiệu từ A1 đến A21), gồm các nhóm chất: tritecpenoit (taraxeryl axetat, taraxerol, taraxeron, 22-hydroxyhopan-3-on, 2-hydroxydiploterol, axit betulinic, axit mangiferonic, axit 24(E)-3-oxodammara-20(21),24(25)-dien-27-oic, betulin), diarylheptanoit (centrolobol, hirsutenon, 1,5-epoxy-1-(3',4'-dihydroxyphenyl)-7-(4"-hydroxyphenyl)heptan), flavonoit (quercetin, quercitrin, quercetin 3-O-$\beta$-D-galactopyranozit), steroit ($\beta$-sitosterol, $\beta$-sitosterol 3-O-$\beta$-D-glucopyranozit), anthraquinon (physcion), axit gallic và các hợp chất béo chuỗi dài.

4. Những kỹ thuật phổ hiện đại nào được áp dụng để xác định cấu trúc các hợp chất trong luận án?

Cấu trúc các chất được xác định bằng sự kết hợp của nhiều kỹ thuật phổ:

  • Phổ khối lượng: EI-MS (70 eV), ESI-MS, và phổ khối lượng phân giải cao HR-ESI-MS, HR-APCI-MS (ghi trên máy Thermo Fischer Scientific LTQ Orbitrap XL).
  • Phổ hồng ngoại (FT-IR) trên máy Impact 410-Nicolet hoặc Horiba FT-710.
  • Phổ cộng hưởng từ hạt nhân một chiều ($^1H$-NMR 500 MHz, $^{13}C$-NMR/DEPT 125 MHz) và hai chiều ($^1H-^1H$ COSY, HSQC, HMBC, NOESY) ghi trên thiết bị Bruker Avance 500 MHz.

5. Hoạt tính sinh học của các hợp chất phân lập được đánh giá theo phương pháp nào?

Hoạt tính sinh học được khảo sát bằng phương pháp thử hoạt tính kháng vi sinh vật kiểm định in vitro theo kỹ thuật pha loãng của Vanden Berghe và Vlietinck đối với một số hợp chất tecpenoit và steroit, xác định các giá trị nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) và nồng độ ức chế 50% ($IC_{50}$).


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Trương Thị Tố Chinh là công trình nghiên cứu thực nghiệm có hệ thống về hóa học các hợp chất thiên nhiên trên 4 loài thực vật thuộc họ Betulaceae và Zingiberaceae tại Việt Nam. Bằng việc áp dụng các quy trình chiết phân đoạn, kỹ thuật sắc ký cột hiện đại kết hợp các phương pháp phổ tiên tiến (1D/2D NMR, HR-MS, EI-MS), tác giả đã phân lập và xác định cấu trúc của hàng chục hợp chất thuộc các lớp tritecpenoit, diarylheptanoit, flavonoit, steroit và phenolic, đồng thời phân tích thành phần dễ bay hơi của thân rễ các loài họ Gừng bằng GC-MS. Công trình đã bổ sung các dữ liệu hóa học thực nghiệm đầu tiên cho các loài cây chưa từng được nghiên cứu tại Việt Nam như Tống quán sủi, Gừng môi tím đốm và Riềng maclurei, cung cấp cơ sở khoa học cho việc đánh giá hoạt tính sinh học và khai thác nguồn dược liệu tự nhiên.