MỞ ĐẦU Xã hội ngày càng phát triển nhu cầu về cuộc sống của con người ngày càng tăng sức khỏe con người và bệnh tật là vấn đề quan tâm hàng đầu ngày nay. Trong những năm gần đây, thế giới đặc biệt chú ý đến các cây thuốc và các loại thuốc có nguồn gốc thiên nhiên do phát hiện ra nhiều tác dụng không mong muốn của nhiều loại thuốc được sản xuất bằng con đường tổng hợp hóa học. Vì vậy mà nhu cầu của thế giới về cây thuốc nói riêng và dược liệu nói chung ngày càng tăng trong đó, các dược liệu có tác dụng bổ, tăng lực được chú ý hơn c ả do đời sống ngày càng được nâng cao nên nhu cầu về bảo vệ nâng cao sức khoẻ được con người ngày càng được quan tâm. Nhân sâm là vị thuốc bổ đứng đầu , còn gọi là thuốc trường sinh, đã được con người tín nhiệm từ lâu đời.
Tuy nhiên, Nhân sâm khó trồng, hiếm, thời gian thu hoạch lâu, giá thành cao nên trong khoảng 50 năm qua các nhà khoa học trong và ngoài nước vẫn tìm kiếm những loài khác thuộc họ Nhân sâm (Araliaceae) để thay thế Nhân sâm cho một số tác dụng: bổ, tăng lực, chống stress và đã phát hiện nhiều loài có tác dụng sinh thích nghi và tăng lực tương tự Nhân sâm như Sâm Xi-bê-ri {Eleutherococcus senticocus (Rupr.), Đinh lăng (Polyscias yruticosa (L.) Harms), Ngũ gia bì chân chim ( Schefflera heptaphylla (L.) Frodin), Sâm Mỹ (Panax quinqueỷolium L.), Tam thất (Panax notoginseng (Burk.Chen), Sâm Việt Nam (Panax vietnamensis Ha et. Chúng góp phần trong việc dự phòng và đi ều trị các bệnh lý gây bởi stress vật lý và tâm lý ảnh hưởng đến sự hằng định nội môi (homeostasis) của cơ thể con người và là nguyên nhân của những căn bệnh thời đại như ung thư ,tim mạch ,trầm cảm… Với những lý do trên chúng tôi chọn đề tài “ Nghiên cứu thành phần cao ethylaxtat từ lá cây chân chim không cuống quả Schefflera sessiliflora” (loài mới được phát hiện và định danh năm 2004), là một trong những hướng nghiên cứu đầy triển vọng.1 Đặc điểm họ nhân sâm Araliaceae Thường là cây thân gỗ, đôi khi là cây bụi hoặc bụi nhỏ. Thân cành thường có gai ít ra ở gốc, vỏ và lá thường có mùi thơm. Đặc trưng bởi có lá kèm và khi lá rụng để lại vết sẹo rõ trên cành bởi có rãnh tiết trong các cơ quan dinh dưỡng.
Lá kép chân vịt hay lông chim nhiều lần, mọc cách gốc cuống lá phình thành bẹ ôm lấy thân. Cụm hoa gồm những tán đơn vị tạo thành chuỳ hay chùm. Hoa đều, lưỡng tính, mẫu 5. Nhị đẳng số (5-10) và xen kẽ với cánh hoa, ít khi số nhị gấp đôi hoặc nhiều bất định.
Bầu dưới các cánh hoa rụng sớm nên ít nhìn thấy.Quả nang hay quả hạch 1 hạt trong mỗi ô.Thế giới có 70 chi và 900 loài, phân bố ở vùng Nhiệt đới và Cận nhiệt đới, ít khi có ở vùng Ôn đới. Phân loại: Căn cứ vào đặc điểm cơ quan dinh dưỡng và sinh sản, người ta đã tách ra ọng, ví dụ như: Hedera, Tetrapanax, Brassaiopsis, Trevesia có lá các chi quan tr đơn thường chia thuỳ; trong khi đó Aralia, Polyscias, Acanthopanax, Panax, Schefflera lá kép. Họ này có quan hệ với Apiaceae và Cornaceae. Điều đó được thể hiện qua cụm hoa hình tán, hoa nhỏ, có một noãn trong mỗi ô, bầu dưới.
Giá ịtr kinh tế: Dùng làm thuốc, nổi tiếng là Nhân sâm (Panax pseudogíneng), nhiều cây để làm cảnh Polycias fruticosa.Theo thống kê 1985 (Grushvitsky, Hà Thị Dụng) họ Nhân Sâm ( Araliaceae) ở Việt Nam có 110 loài, thuộc 18 chi (không kể chi Polyscias và các loài được trồng) trong đó có 46 loài và 11 thứ là đặc hữu trong hệ thực vật Việt Nam, đã có 40 loài được sử dụng làm thuốc. Đến nay sồ loài chưa thống kê và cập nhật đầy đủ nhưng trên thực tế số loài trong họ đã tăng lên trên 130 loài với trên 60 loài đặc hữu.2 Chi Schecfflera Chi Schefflera là chi lớn nhất trong họ sâm, phong phú về loài và phân bố rộng. Chi Chân chim Schefflera có trên 400 loài phân bố chủ yếu ở: Nhật Bản, Trung Quốc, Việt Nam, Lào, Campuchia, Thái Lan và một số đảo ở Thái Bình Dương…Ở Việt Nam, chi này có 45 loài, cây phân bố rải rác ở hầu hết các tỉnh miền núi phía bắc (từ Hà Tĩnh trở ra). Ở phía Nam mới gặp ở các tỉnh Gia lai, Kon Tum, Đắc Lắc và Côn 1 Đảo.
Hiện nay số loài Schefflera được sử dụng chưa nhiều, đặc biệt số loài làm thuốc còn khá ít so với tổng số loài đã định danh và khảo sát về mặt phân bố.[2] Những nghiên cứu về tác dụng sinh học và hóa học trên đối tương Schefflera còn rất hạn chế. Chỉ có vài loài được khảo sát tác dụng sinh học và một số cấu trúc hóa học đã được xác định trên những bộ phận d ung được cho là có tác dụng theo kinh nghiệm dân gian. Dưới đây là hình ảnh một số loài chân chim thuộc chi Schefflera thường gặp.1 Schefflera octophylla (Lour.) Harms: Chân chim 8 lá Hình 1. Li: Chân chim hoa chụm 2 Hình 1.3 Schefflera elliptica (Blume) Harms: Chân chim bầu dục Hình 1.4 Schefflera venulosa (Wight & Arn.) Harms: Chân chim mây Hình 1.5 Schefflera myriocarpa Harms: Chân chim ngàn quả 3 Bảng 1.1: Triterpen và saponin triterpen nhóm olean và ursan trong một số loài thuộc chi Schefflera.[4] R1 R2 R3 R4 R5 R6 R7 1 OH β-OH CH2OH CH3 Glc6-Glc4-Rha CH3 H 1a OH β-OH CH2OH CH3 H CH3 H 2 OH β-OH CHO CH3 Glc6-Glc4-Rha CH3 H Urs- 3 H β-O-Ara CH2OH CH3 Glc6-Glc4-Rha CH3 H 12- 4 H α-OH COOH CH3 Glc6-Glc4-Rha CH3 H ene 4a H α-OH COOH CH3 H CH3 H 5 H β-O-GlcA2-Gal2-Glc CH3 CH3 Glc6-Glc4-Rha CH3 H 6 OH β-OH CH3 CH2OH Glc6-Glc4-Rha CH3 H 7 H β-O-GlcA2-Glc2-Rha CH3 CH3 H H CH3 7a H β-OH CH3 CH3 H H CH3 Olea 8 OH β-OH CH2OH CH3 Glc6-Glc4-Rha H CH3 n- 9 OH β-OH CHO CH3 Glc6-Glc4-Rha H CH3 12- 10 H β-O-Ara CH2OH CH3 Glc6-Glc4-Rha H CH3 ene 11 H α-OH COOH CH3 Glc6-Glc4-Rha H CH3 12 H β-O-GlcA2-Gal2-Glc CH3 CH3 Glc6-Glc4-Rha H CH3 13 OH β-OH CH3 CH2OH Glc6-Glc4-Rha H CH3 4 Bảng 1.2: Triterpen và saponin triterpen nhóm olean và lupan trong một số loài thuộc chi Schefflera[4] R1 R2 R3 14 H H CH3 15 H H H GlcA2-Glc2- 16 H CH3 Rha GlcA2-Xyl2- 17 H CH3 Rha 1.3 Vài nét sơ lược về Schefflera sessiliflora Năm 2004, Trần Công Luận và cộng sự đã phát hiện Schefflera sp3 là một loài mới và được đặt tên là -chân chim không cu ống quả có tên khoa học là Schefflera sessiliflora, thuộc họ Nhân sâm (Araliaceae)[1].
Đặc điểm của cây là không cuống, thường mọc chùm 3-7 quả hay riêng lẻ, hình cầu (5 x 4 mm), khi chín màu cam có 5 cạnh[3]. Giới : Plantea Bộ : Apiales Họ:Araliaceae Chi : Schefflera Loài: Sessiliflora 5 Theo số liệu thống kê thì hiện nay trên thế giới hầu như chưa có một nghiên cứu đầy đủ về loài Schefflera sessiliflora. Ở Việt Nam, loài Schefflera sessiliflora cũng có vài công trình nghiên cứu, tuy nhiên cũng chỉ dừng lại là khảo sát sơ bộ về thành phần hóa học, Khảo sát hoạt tính androgen, định lượng saponin tổng và cô lập 2 sapogenin là acid oleanolic và hederagenin từ saponin tổng[3].4 Tác dụng chữa bệnh cây chân chim trong dân gian. Trong dân gian cây chân chim còn được gọi là ngũ gia bì.
Đây là một trong những loại cây kiểng thông dụng, đắt tiền. Ở những vùng ẩm thấp, người ta trồng cây chân chim trong vườn nhà, quanh nhà để vừa làm cây cảnh vừa có tác dụng trừ muỗi. Theo y học hiện đại , thành phần hóa học chính là saponin, tanin, tinh dầu, vỏ thân chứa 0,9-1% tinh dầu; vỏ cành và vỏ rễ chứa saponin triterpen khi thuỷ phân ch o acid oleanic. Bộ phận dùng: v ỏ thân, vỏ rễ, rễ và lá.
Theo y học cổ truyền , Ngũ gia bì chân chim có vị đắng, chát, hơi thơm, tính mát, có tác dụng giải nhiệt, làm ra mồ hôi, kháng viêm, tiêu sưng và làm tan máu ứ. Dịch chiết vỏ cây có tác dụng tăng lực, kích thích thần kinh rõ rệt, chống lạnh, hạ đường huyết. Ngũ gia bì chân chim được dùng chữa đau nhức xương khớp, đau bụng, suy nhược.Trong Đông y, nó là một vị thuốc quý có tác dụng làm mạnh gân cốt, trừ phong, đau nhức xương khớp, đau bụng, trẻ em vận động cơ bắp yếu, hạn chế đi lại, chống suy nhược thần kinh, tăng trí nhớ, kháng viêm, giảm đau, hạ sốt. Ngũ gia bì có tác dụng tốt tr ong điều trị các bệnh mạn tính ở người cao tuổi, tăng sức đề kháng, bồi dưỡng sức khỏe, trị đau nhức khớp ở phụ nữ tuổi tiền mãn kinh.
Nó có tác dụng tốt với bệnh nhân suy giảm chức năng gan, rối loạn nhẹ bilirubin máu toàn phần. Ngũ gia bì còn có tác dụng hạ đường máu ở những bệnh nhân đái tháo đường tụy, điều trị sau phẫu thuật.3 : Tác dụng chữa bệnh của một số loài thuộc chi Schefflera Bộ phận Loài Tác dụng dùng Sch.Bui(Blume) Vỏ và rễ Bổ, hạ nhiệt Harms Bổ, tăng sức khỏe. Trị kém ăn, Sch.pes-avis Viguier Lá, vỏ và rễ mất ngủ Vỏ thân, lá và Sch. tonkinensis Viguier Bổ, hạ nhiệt rễ Kích thích tiêu hóa, ịtrphong Sch.
Elliptica (Blume) Harms Vỏ thân, vỏ rễ thấp, đau nhức gân cốt Sch.Li Vỏ và rễ Chưa phong tháp đau xương Sch. Vỏ, lá Trị ho, cầm máu, đau xương Sch.) Harms Vỏ, rễ, thân, lá Trị cảm, viêm. Bổ Tăng cường sinh lực, Sch. Vỏ, lá trị đau nhức gân cốt Sch.
Vỏ Chữa đau nhức xương Sch. Venulosa (Wight et Arn.) Thân, lá Trị viêm, phong thấp Harms 1.5 Các nghiên cứu về tác dụng dược lý Năm 2001, Trần Công Luận và cộng sự đã thử tác dụng tăng lực trên cả 3 bộ phận lá, thân, vỏ thân. Đối với lá và vỏ thân liều 1 g/kg cho tác dụng rõ, đạt ý nghĩa thống kê với độ tin cây 99%; đã th ử khả năng chịu đựng stress nóng mạnh ở liều 200 mg/kg đối với mẫu thân[5]. Năm 2004, Trần Công Luận và công sự đã thử khả năng tăng lực khi phối hợp cao thân với cao hồng sâm tỉ lệ 1 : 1 ở liều 400 mg/kg thời gian sống trung bình của chuột dài hơn cả lô sử dụng hồng sâm[6,7]; đã thử độ độc tính cấp đường uống cao 7 thân với LD50 = 1255 g/kg (đối với dược liệu) và LD50 = 277,92 g/kg (khi phối hợp với hồng sâm)[6] Năm 2008, Võ Duy Hu ấn, Nguyễn Thị Thu Hương, Trần Công Luận, Huỳnh Thị Cẩm Hồng đã th ử tác dụng chống oxy hóa in vitro của các mẫu cao chiết và các genin bằng phương pháp DPPH (1,1-diphenyl-2-picrylhydrazyl); đã th ử khả năng ức chế peroxy hóa lipid bằng phương pháp MDA (malonyl dialdehyd)[8].