Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Bệnh ung thư là một trong những nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trên thế giới. Từ thập niên 1960, các nhà khoa học đã tập trung tìm kiếm các hoạt chất tự nhiên có khả năng ức chế tế bào ung thư. Trong số đó, paclitaxel (Taxol) chiết xuất từ các loài thông đỏ (Taxus sp.) đã trở thành hoạt chất quan trọng để điều chế thuốc điều trị ung thư buồng trứng, ung thư vú và ung thư phổi di căn. Tuy nhiên, việc khai thác paclitaxel từ tự nhiên gặp nhiều trở ngại lớn: hàm lượng hoạt chất trong vỏ cây rất thấp (khoảng 20 mg paclitaxel từ 1 kg vỏ cây khô, giá thành thị trường khoảng 4,87 USD/mg tại thời điểm nghiên cứu) và để sản xuất một liều điều trị cần sử dụng vỏ của khoảng 6 cây thông đỏ trưởng thành.

Tại Việt Nam, nguồn thông đỏ tự nhiên có nguy cơ tuyệt chủng và đã được đưa vào Sách đỏ Việt Nam. Nhằm giải quyết bài toán nguyên liệu bền vững, Trung tâm Trồng và Chế biến cây thuốc Đà Lạt đã tiến hành trồng thực nghiệm loài thông đỏ lá dài (Taxus wallichiana Zucc.) tại tỉnh Lâm Đồng để cung cấp sinh khối lá phục vụ chiết tách paclitaxel và các tiền chất taxoid. Để phục vụ công tác tiêu chuẩn hóa, kiểm nghiệm và đánh giá chất lượng nguồn dược liệu trồng cũng như các chế phẩm chiết xuất, việc nghiên cứu phân lập và xác định các hợp chất taxoid đặc trưng là nhiệm vụ cấp bách.

Khóa luận được thực hiện nhằm giải quyết 2 mục tiêu nghiên cứu cụ thể:

  1. Phân lập một số hợp chất tự nhiên từ lá cây thông đỏ lá dài;
  2. Tinh chế và xác định cấu trúc các hợp chất đã phân lập.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Lá cây thông đỏ lá dài (Taxus wallichiana Zucc., họ Taxaceae).
  • Phạm vi không gian: Mẫu dược liệu thu hái từ cây trồng tại tỉnh Lâm Đồng; thực nghiệm phân lập và tinh chế thực hiện tại Trung tâm Sâm và Dược liệu TP.HCM phối hợp cùng Khoa Hóa, Trường Đại học Sư phạm TP.HCM; đo các dữ liệu phổ nghiệm tại Viện Hóa học thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam (Hà Nội).
  • Phạm vi thời gian: Đề tài hoàn thành và bảo vệ vào tháng 05 năm 2014.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Nghiên cứu dựa trên cơ sở hóa thực vật học về nhóm hợp chất taxan diterpenoid (taxoid) đặc trưng của chi Taxus, cùng cơ chế dược lý ngăn chặn sự mất kiểm soát phân bào ung thư thông qua việc thúc đẩy tạo thành các vi ống (microtubule) vững chắc nhưng mất chức năng khử trùng hợp tubulin. Về mặt hóa học, khung cấu trúc cơ bản của taxoid gồm 3 vòng (6/8/6 cạnh) hoặc các biến thể chuyển vị như 11(15→1)-abeo-taxan, gắn các nhóm thế chức năng như ester acetyl (-OAc), ester cinnamoyl, nhóm hydroxyl (-OH), vòng oxetan 4 cạnh hoặc cầu nối oxido.

Quy trình thực nghiệm kết hợp các phương pháp chiết xuất, phân tích sắc ký và phổ nghiệm cấu trúc:

  • Phương pháp xử lý mẫu và chiết tách phân đoạn: Sử dụng kỹ thuật chiết phân bố lỏng - lỏng với dung môi kém phân cực petroleum ether (PE) nhằm loại bỏ triệt để các tạp chất màu, lipid, sáp và các thành phần không phân cực trong cao chiết thô methanol (MeOH).
  • Phương pháp sắc ký cột cổ điển (CC): Sử dụng pha tĩnh silica gel pha thuận cỡ hạt 0,040 - 0,063 mm. Khai triển với hai hệ dung môi gradient phân cực tăng dần: Dichloromethan - Aceton (CH₂Cl₂ - Aceton) để phân tách cao tổng và Petroleum ether - Ethyl acetat (PE - EA) để phân tách phân đoạn nhỏ.
  • Phương pháp sắc ký lớp mỏng (TLC): Thực hiện trên bản mỏng nhôm tráng sẵn silica gel 60 F₂₅₄ (Merck Art No.05554), soi dưới đèn tử ngoại ở bước sóng 254 nm và 365 nm, phát hiện vết bằng thuốc thử acid sulfuric 10% trong ethanol (H₂SO₄ 10%/EtOH) và sấy nóng ở 110°C.
  • Phương pháp tinh chế: Kết hợp rửa kết tinh bằng dung môi chọn lọc (MeOH) và kỹ thuật kết tinh phân đoạn lặp lại trong hệ dung môi CH₂Cl₂ - PE.
  • Phương pháp xác định cấu trúc hóa học:
    • Phổ tử ngoại - khả kiến (UV-Vis) và phổ hồng ngoại biến đổi Fourier (FT-IR, đo mẫu ép viên KBr).
    • Phổ khối lượng (MS) trên máy MS-5989B Engine.
    • Phổ cộng hưởng từ hạt nhân 1 chiều (¹H-NMR 500 MHz, ¹³C-NMR 125 MHz, DEPT 90, DEPT 135) và 2 chiều (¹H-¹H COSY, HSQC, HMBC) trên thiết bị Bruker Avance 500 MHz, sử dụng dung môi deuterochloroform (CDCl₃).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan

Chương 1 hệ thống hóa các tài liệu khoa học về loài thông đỏ lá dài (Taxus wallichiana Zucc.) trên các khía cạnh:

  • Thực vật và phân bố: Cây gỗ thường xanh cao đến 20 m, đường kính thân 40 - 50 cm, lá hình dải mọc so le xếp thành 2 dãy, hạt nằm trong áo hạt giả màu đỏ. Tại Việt Nam, chi Taxus có 2 loài chính là Taxus chinensis (thông đỏ lá ngắn) và Taxus wallichiana Zucc. (thông đỏ lá dài, phân bố chủ yếu ở Lâm Đồng, Khánh Hòa, Hà Giang ở độ cao từ 1400 - 1600 m).
  • Lịch sử và cơ chế của taxol: Khái quát công trình phân lập paclitaxel của Wall và Wani (1971) từ Taxus brevifolia, cấu trúc phân tử gồm mạch bên phenylisoserin tại C-13 và khung vòng 6/8/6/4, cơ chế tác động làm bền vững vi ống ngăn chặn chu kỳ nguyên phân của tế bào khối u.
  • Thành phần hóa học: Tổng quan các nhóm hợp chất đã biết gồm taxoid trung gian, taxoid cơ bản, taxoid mang nhóm cinnamoyl, taxoid chứa vòng oxetan, abeo-taxan; nhóm biflavonoid (amentoflavone, 7,7'',4'-tri-O-methylamentoflavon); cùng tinh dầu, triterpenoid, lignan và tannin. Điểm lại các công trình nghiên cứu trong nước của Nguyễn Hữu Toàn Phan, Trần Công Luận, Nguyễn Thị Thanh Tâm.
  • Dược lý và độc tính: Ghi nhận kinh nghiệm y học cổ truyền (Trung Quốc, Ấn Độ, Thổ Nhĩ Kỳ) và các thử nghiệm dược lý hiện đại (kháng khối u, ức chế thụ thai trên chuột cống, chống co giật, giảm đau, hạ sốt, kháng khuẩn, kháng nấm). Nêu rõ độc tính tim mạch của alcaloid taxin và các tác dụng phụ của paclitaxel (suy tủy, giảm bạch cầu, hạ huyết áp, rụng tóc).
  • Phương pháp chiết xuất và phân lập: Tổng kết các kỹ thuật chiết xuất bằng dung môi hữu cơ thông thường, chiết lỏng siêu tới hạn bằng CO₂ (SFE-CO₂) và chiết hỗ trợ sóng siêu âm (MAE).

Chương 2: Phương pháp nghiên cứu

Chương 2 trình bày chi tiết danh mục nguyên vật liệu, thiết bị thực nghiệm và quy trình phân lập:

  • Dược liệu lá thông đỏ lá dài được xử lý chiết ngấm kiệt thu hồi cao tổng methanol.
  • Xử lý 200 g cao thô MeOH: lắc phân bố nhiều lần với tổng cộng 6 lít petroleum ether (PE) để loại sạch phân đoạn kém phân cực và chất béo.
  • Quy trình sắc ký cột silica gel lần 1: Nạp 60 g cao MeOH đã xử lý bằng phương pháp nạp khô lên cột thủy tinh kích thước 7 × 100 cm chứa 1200 g silica gel (chiều cao lớp chất hấp phụ 80 cm). Rửa giải bằng hệ dung môi gradient CH₂Cl₂ - Aceton (từ 100% CH₂Cl₂ đến CH₂Cl₂ - Aceton 50:50), tốc độ dòng 20 ml/phút, thể tích mỗi phân đoạn hứng là 250 ml.
  • Quy trình sắc ký cột silica gel lần 2 trên phân đoạn III: Nạp mẫu lên cột thủy tinh kích thước 4 × 60 cm chứa 150 g silica gel (chiều cao lớp chất hấp phụ 40 cm), giải ly bằng hệ PE - EA (từ 100% PE đến PE - EA 70:30), tốc độ dòng 4 ml/phút, thể tích mỗi phân đoạn hứng là 50 ml.
  • Các bước tinh chế kết tinh thu được và phương pháp đo quang phổ UV-Vis, FT-IR, MS, NMR (1D và 2D) để định danh cấu trúc.

Chương 3: Kết quả và bàn luận

Chương 3 tập trung vào quá trình thực nghiệm phân lập và đánh giá độ tinh khiết:

  • Xử lý cao chiết: Sau khi lắc 200 g cao thô MeOH với 6 lít PE, đã loại bỏ được lượng lớn tạp màu và chất béo kém phân cực.
  • Thăm dò hệ dung môi: Sắc ký lớp mỏng thăm dò xác định hệ CHCl₃ - MeOH (90:10) là hệ dung môi tối ưu để theo dõi cao MeOH xử lý, và hệ PE - EA (70:30) tối ưu cho việc tách phân đoạn III.
  • Phân lập sắc ký cột lớn: Quá trình sắc ký 60 g mẫu trên cột silica gel 1200 g thu được nhiều phân đoạn. Trong đó, phân đoạn VIII sau khi cô quay thu hồi dung môi cho chất kết tinh màu trắng không tan trong MeOH, ký hiệu là P2. Phân đoạn III được gộp lại để tiến hành sắc ký cột tiếp theo.
  • Phân lập sắc ký cột phân đoạn III: Sắc ký cột phân đoạn III thu được 6 phân đoạn nhỏ (từ A đến F). Phân đoạn D sau khi cô đuổi dung môi dưới áp suất giảm thu được chất kết tinh màu trắng, ký hiệu là P1.
  • Tinh chế và kiểm tra độ tinh khiết:
    • Hợp chất P2 được tinh chế bằng cách hòa tan trong lượng tối thiểu CH₂Cl₂, nhỏ từ từ PE vào cho đến khi xuất hiện kết tinh trắng, làm lạnh để kết tinh tối đa, gạn dịch và rửa sạch nhiều lần bằng MeOH.
    • Kiểm tra độ tinh khiết của P1 và P2 trên sắc ký lớp mỏng với 3 hệ dung môi có độ phân cực khác nhau: P1 kiểm tra trên hệ PE - EtOH (90:10), PE - Aceton (70:10), CHCl₃ - MeOH (90:10); P2 kiểm tra trên hệ PE - Aceton (80:20), PE - Aceton (60:40), CHCl₃ - MeOH (90:10). Cả hai hợp chất đều cho một vết đơn duy nhất trên bản mỏng dưới ánh sáng UV 254 nm, UV 365 nm và khi hiện màu bằng thuốc thử H₂SO₄ 10%/EtOH.

Chương 4: Xác định cấu trúc hợp chất taxoid

Chương 4 phân tích chi tiết dữ liệu phổ nghiệm của 2 hợp chất phân lập được:

  • Cấu trúc hợp chất P1:
    • Cảm quan: Tinh thể nhỏ mịn, không màu, lấp lánh; tan tốt trong CHCl₃, ACN, EtOAc, ít tan trong MeOH.
    • Dữ liệu phổ: UV-Vis (MeOH) cho đỉnh hấp thu cực đại tại 217 nm và 279,4 nm. Phổ FT-IR xuất hiện dải hấp thụ của nhóm carbonyl (1684 cm⁻¹), liên kết đôi C=C (1634 cm⁻¹) và liên kết C-O-C (1132, 1070 cm⁻¹). Phổ MS cho ion phân tử [M+Na]⁺ tại m/z = 687,28, tương ứng khối lượng phân tử [M]⁺ là 664 Da và công thức phân tử C₃₅H₄₄O₁₂ (độ bất bão hòa bằng 16).
    • Phổ cộng hưởng từ hạt nhân: ¹H-NMR (500 MHz, CDCl₃) và ¹³C-NMR (125 MHz, CDCl₃)/DEPT chỉ ra 35 carbon gồm: 1 carbon carbonyl ceton tại δC 199,3 (C-13); 4 carbon carbonyl ester (δC 169,7; 169,2...); 4 nhóm methyl đặc trưng khung taxan (trong đó 19-Me tại δH 1,03); 4 nhóm acetoxy (-OAc); 5 carbon bậc 3 mang oxy (δC 68,8 của C-10); 1 nhóm methylen exocyclic liên kết đôi tại δC 118,8 (C-20) tương ứng δH 4,45; cùng nhóm thế cinnamoyl.
    • Kết luận: Cấu trúc của P1 hoàn toàn trùng khớp với Taxinine B (7β-acetate-O-taxinine A).
  • Cấu trúc hợp chất P2:
    • Cảm quan: Tinh thể nhỏ mịn, không màu, lấp lánh; tan trong CHCl₃, CH₂Cl₂, EA, ít tan trong MeOH.
    • Dữ liệu phổ: UV-Vis cho đỉnh cực đại tại 279 nm. Phổ MS ghi nhận ion [M+Na]⁺ tại m/z = 747,05, xác định khối lượng phân tử [M]⁺ là 724 Da, công thức phân tử C₃₉H₄₈O₁₃ (độ bất bão hòa bằng 16).
    • Phổ NMR 1D và 2D: Khẳng định sự hiện diện của 39 carbon gồm 5 nhóm carbonyl ester (δC 170,5 của 13-OAc...); 1 nhóm cinnamoyl ester (C-21 tại δC 165,2); 4 nhóm methyl trên khung taxan (19-Me tại δH 1,53); 1 nhóm hydroxyl alcol (-OH) gắn vào carbon bậc 4 mang oxy tại C-11 (δC 77,3); carbon olefin bậc hai C-20 tại δC 110,9 (tương ứng proton olefin H-20a, H-20b); 4 carbon mang oxy bậc ba. Phổ HMBC, HSQC và COSY giải mã chi tiết toàn bộ tương quan cấu trúc không gian của khung diterpen 6/8/6.
    • Kết luận: Cấu trúc của P2 hoàn toàn trùng khớp với Taxuspine D.

Chương 5: Kết luận và đề nghị

Chương 5 tóm tắt các kết quả đạt được về mặt phương pháp và thực nghiệm, đồng thời đưa ra các đề xuất định hướng nghiên cứu tiếp theo nhằm nâng cao giá trị khoa học và ứng dụng thực tiễn của dược liệu.


Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu đã xây dựng thành công quy trình phân lập và làm sạch 2 hợp chất taxoid tinh khiết từ phân đoạn cao methanol của lá thông đỏ lá dài trồng tại Lâm Đồng.

Thông số / Đặc tính Hợp chất P1 (Taxinine B) Hợp chất P2 (Taxuspine D)
Trạng thái cảm quan Tinh thể nhỏ mịn, không màu, lấp lánh Tinh thể nhỏ mịn, không màu, lấp lánh
Độ tan Dễ tan trong CHCl₃, ACN, EtOAc; ít tan trong MeOH Dễ tan trong CHCl₃, CH₂Cl₂, EA; ít tan trong MeOH
Hấp thu UV-Vis ($\lambda_{max}$) 217 nm và 279,4 nm 279 nm
Hấp thu hồng ngoại (FT-IR) 1684 (C=O), 1634 (C=C), 1132, 1070 (C-O-C) cm⁻¹ Có tín hiệu C=O ester và C=C olefin
Ion khối phổ [M+Na]⁺ ($m/z$) 687,28 747,05
Khối lượng phân tử ($M$) 664 Da 724 Da
Công thức phân tử C₃₅H₄₄O₁₂ C₃₉H₄₈O₁₃
Độ bất bão hòa ($k$) 16 16
Số lượng carbon (¹³C-NMR) 35 carbon 39 carbon
Đặc điểm cấu trúc chính Khung taxan 6/8/6, 1 ceton C-13, 4 nhóm -OAc, 1 nhóm cinnamoyl, nối đôi C-20 Khung taxan 6/8/6, 1 nhóm -OH tại C-11, 5 nhóm -OAc, 1 nhóm cinnamoyl, nối đôi C-20

Bảng thông số kỹ thuật phân lập bằng sắc ký cột silica gel trong khóa luận:

Thông số thực nghiệm Sắc ký cột lần 1 (Cao MeOH xử lý) Sắc ký cột lần 2 (Phân đoạn III)
Khối lượng mẫu nạp cột 60 g (nạp khô trộn silica gel) Mẫu phân tích từ phân đoạn III
Kích thước cột thủy tinh 7 × 100 cm 4 × 60 cm
Khối lượng pha tĩnh silica gel 1200 g (hạt 0,040 - 0,063 mm) 150 g (hạt 0,040 - 0,063 mm)
Chiều cao lớp silica gel 80 cm 40 cm
Hệ dung môi rửa giải CH₂Cl₂ - Aceton (100:0 → 50:50) PE - EA (100:0 → 70:30)
Tốc độ dòng 20 ml/phút 4 ml/phút
Thể tích hứng phân đoạn 250 ml/phân đoạn 50 ml/phân đoạn
Sản phẩm thu nhận Phân đoạn III và kết tinh P2 (phân đoạn VIII) Phân đoạn D cho kết tinh P1

Giải pháp và kiến nghị kỹ thuật đề xuất:

  • Áp dụng bước tiền xử lý cao thô bằng petroleum ether để loại triệt để chất béo, dầu mỡ và sắc tố trước khi chạy sắc ký cột, giúp nâng cao độ bền của cột và hiệu quả phân tách.
  • Kết hợp kỹ thuật kết tinh phân đoạn trong hệ dung môi CH₂Cl₂ - PE và rửa lạnh MeOH để làm sạch taxoid mà không cần qua nhiều lần sắc ký tinh chế phức tạp.

Đóng góp của khóa luận:

  • Phân lập thành công 2 dẫn xuất taxoid có cấu trúc phức tạp là taxinine B và taxuspine D từ nguồn lá thông đỏ lá dài trồng tại tỉnh Lâm Đồng.
  • Cung cấp bộ dữ liệu phổ nghiệm đầy đủ và chi tiết (UV, IR, MS, 1D và 2D NMR) cho 2 hợp chất, đóng góp cơ sở dữ liệu cho việc kiểm soát chất lượng dược liệu và thiết lập chất chuẩn đối chiếu cho các tạp chất liên quan trong quy trình sản xuất paclitaxel tại Việt Nam.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận ghi nhận các giới hạn trong phạm vi nghiên cứu và đề xuất các hướng mở tiếp theo:

  • Hạn chế: Nghiên cứu tập trung vào phân lập và xác định cấu trúc định tính, chưa tiến hành định lượng hàm lượng phần trăm cụ thể của taxinine B và taxuspine D trong sinh khối lá; chưa thực hiện khảo sát hoạt tính sinh học trực tiếp (in vitro/in vivo) trên các dòng tế bào ung thư đối với 2 chất tinh khiết thu được; chưa tiến hành khảo sát hết các phân đoạn còn lại từ sắc ký cột lần 1.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo (do tác giả đề xuất):
    1. Khảo sát hàm lượng của taxinine B và taxuspine D trong lá thông đỏ lá dài và trong các chế phẩm tương ứng bằng phương pháp phân tích định lượng (HPLC).
    2. Thử nghiệm xác định hoạt tính sinh học của taxinine B và taxuspine D nhằm làm sáng tỏ và nâng cao giá trị sử dụng của nguồn dược liệu.
    3. Tiếp tục phân lập, xác định cấu trúc, tiêu chuẩn hóa và thiết lập chất đối chiếu cho các hợp chất taxoid khác có trong các phân đoạn của cao methanol, phục vụ công tác kiểm nghiệm nguồn dược liệu và kiểm soát tạp chất liên quan của paclitaxel.

Giá trị tham khảo

Khóa luận có giá trị tham khảo chuyên môn đối với:

  • Đối tượng: Sinh viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh và cán bộ nghiên cứu thuộc các chuyên ngành Hóa hữu cơ, Hóa hợp chất thiên nhiên, Dược học (Dược liệu, Kiểm nghiệm thuốc) và Công nghệ Hóa - Sinh.
  • Nội dung tham khảo giá trị:
    • Quy trình chiết xuất và kỹ thuật tiền xử lý loại tạp béo từ cao dược liệu thực vật chứa diterpenoid.
    • Điều kiện vận hành sắc ký cột cổ điển phân tách các hợp chất taxoid với hệ dung môi CH₂Cl₂ - Aceton và PE - EA.
    • Phương pháp luận và quy trình phân tích phổ NMR 2 chiều (COSY, HSQC, HMBC) để giải mã cấu trúc lập thể phức tạp của các dẫn xuất khung taxan diterpenoid.

Câu hỏi thường gặp

1. Khối lượng mẫu cao methanol thô ban đầu được tác giả xử lý là bao nhiêu và sử dụng dung môi gì để loại tạp kém phân cực?
Tác giả đã sử dụng 200 g cao thô methanol, tiến hành lắc phân bố nhiều lần với tổng cộng 6 lít petroleum ether (PE) để loại bỏ các thành phần dầu mỡ, chất màu và hợp chất kém phân cực trước khi nạp 60 g cao đã xử lý lên cột sắc ký.

2. Hai hợp chất P1 và P2 phân lập được trong khóa luận có tên khoa học và công thức phân tử là gì?
Hợp chất P1 được định danh là Taxinine B (tên khác: 7β-acetate-O-taxinine A) với công thức phân tử C₃₅H₄₄O₁₂ (khối lượng phân tử 664 Da). Hợp chất P2 được định danh là Taxuspine D với công thức phân tử C₃₉H₄₈O₁₃ (khối lượng phân tử 724 Da).

3. Tác giả đã sử dụng các kỹ thuật phổ nghiệm nào để làm sáng tỏ cấu trúc của hai hợp chất?
Tác giả đã sử dụng phối hợp các kỹ thuật: quang phổ tử ngoại - khả kiến (UV-Vis), quang phổ hồng ngoại (FT-IR ép viên KBr), phổ khối lượng (MS), phổ cộng hưởng từ hạt nhân 1 chiều (¹H-NMR, ¹³C-NMR, DEPT 90, DEPT 135) và phổ cộng hưởng từ hạt nhân 2 chiều (¹H-¹H COSY, HSQC, HMBC) đo trên thiết bị 500 MHz với dung môi CDCl₃.

4. Quy trình tinh chế kết tinh P2 từ phân đoạn sắc ký được tiến hành như thế nào?
Chất P2 thu được từ phân đoạn lẫn nhiều tạp màu được tinh chế bằng cách: hòa tan trong một lượng tối thiểu CH₂Cl₂, nhỏ từ từ PE vào dịch dung dịch cho đến khi xuất hiện kết tinh trắng, làm lạnh để thu hồi lượng kết tinh tối đa, gạn bỏ dịch lỏng, rửa sạch lại tinh thể bằng MeOH và để khô; quy trình này được lặp lại nhiều lần cho đến khi kết tinh đạt độ tinh khiết (cho 1 vết duy nhất trên TLC).

5. Sự khác biệt cơ bản về nhóm chức trên khung taxan giữa Taxinine B (P1) và Taxuspine D (P2) được xác định qua phổ NMR là gì?
Taxinine B (P1) có chứa 1 nhóm carbonyl ceton tại vị trí C-13 (δC 199,3 ppm) và 4 nhóm acetoxy (-OAc). Trong khi đó, Taxuspine D (P2) không có nhóm ceton tại C-13 mà mang 5 nhóm acetoxy (-OAc) kèm 1 nhóm hydroxyl (-OH) gắn tại carbon bậc bốn C-11 (δC 77,3 ppm).


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Trúc Phương đã thực hiện thành công việc phân lập, tinh chế và xác định cấu trúc hóa học của 2 hợp chất taxoid gồm Taxinine B (C₃₅H₄₄O₁₂) và Taxuspine D (C₃₉H₄₈O₁₃) từ dịch chiết methanol của lá thông đỏ lá dài (Taxus wallichiana Zucc.) trồng tại tỉnh Lâm Đồng. Nghiên cứu đã xây dựng được quy trình chiết tách kết hợp xử lý cao bằng petroleum ether, phân đoạn qua sắc ký cột silica gel và tinh chế bằng kết tinh phân đoạn hiệu quả. Kết quả phổ nghiệm 1D và 2D NMR thu được cung cấp cơ sở khoa học quan trọng phục vụ công tác tiêu chuẩn hóa dược liệu, kiểm nghiệm chất lượng và kiểm soát tạp chất liên quan trong sản xuất thuốc chống ung thư từ thông đỏ tại Việt Nam.