phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 3 chương: Chương1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về doanh nghiệp công nghiệp ngoài nhà nước và hiệu quả sử dụng vốn Chương 2: Xác định hệ thống chỉ tiêu và một số phương pháp thống kê phân tích hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp công nghiệp công nghiệp ngoài nhà nước Chương 3: Vận dụng một số phương pháp thống kê để phân tích hiệu quả sử dụng vốn của các doanh nghiệp công nghiệp ngoài nhà nước ở Việt Nam giai đoạn 2000 - 2008 4 CHƢƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ DOANH NGHIỆP CÔNG NGHIỆP NGOÀI NHÀ NƢỚC VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN 1. TỔNG QUAN VỀ DOANH NGHIỆP CÔNG NGHIỆP NGOÀI NHÀ NƢỚC 1. Khái niệm doanh nghiệp ngoài nhà nước và doanh nghiệp công nghiệp ngoài nhà nước Doanh nghiệp được hiểu: “Là một tổ chức kinh tế được thành lập để thực hiện các hoạt động kinh doanh, thực hiện các chức năng sản xuất, mua bán hàng hóa hoặc làm dịch vụ, nhằm thỏa mãn nhu cầu con người và xã hội, và thông qua hoạt động hữu ích đó mà kiếm lời”. Doanh nghiệp công nghiệp là những doanh nghiệp thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh theo phương pháp công nghiệp để sản xuất ra hàng hóa dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu của con người và xã hội.
Tuy nhiên, tùy theo lĩnh vực và khía cạnh quản lý còn có những khái niệm về doanh nghiệp khác như: - Dưới giác độ quản lý, doanh nghiệp là một đơn vị kinh tế do nhà nước hoặc các đoàn thể hoặc tư nhân đầu tư vốn nhằm mục đích chủ yếu là thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc các hoạt động công ích góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội của đất nước. Như vậy, doanh nghiệp được hiểu là một tổ chức nhằm thực hiện một số hoạt động sản xuất kinh doanh để sinh lời hoặc phục vụ lợi ích công cộng. - Dưới giác độ luật pháp, doanh nghiệp được hiểu là một tổ chức kinh tế có tên, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, đã đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm thực hiện các hoạt động kinh doanh. Hiểu theo cách này thì doanh nghiệp sẽ bao gồm toàn bộ các loại hình doanh nghiệp kể cả doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Các hoạt động kinh doanh ở đây được hiểu là việc thực hiện một hoặc một số công đoạn từ sản xuất đến tiêu 5 thụ hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích kiếm lời. Tuy nhiên, các khái quát này lại không nhấn mạnh đến các doanh nghiệp công ích Như vậy, doanh nghiệp phải là một tổ chức tiến hành các hoạt động kinh doanh để kiếm lời. Doanh nghiệp có thể có những hoạt động không sinh lời trong những trường hợp cụ thể nào đó nhưng bản chất được thành lập ra là để kiếm lời. Việc phân định giữa doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp ngoài nhà nước còn có nhiều quan điểm khác nhau, những khái niệm trên đây hầu như nhấn mạnh hơn về mặt kinh doanh của các doanh nghiệp.
Đây chính là đặc điểm quan trọng nhất của các doanh nghiệp ngoài nhà nước. Tóm lại, doanh nghiệp công nghiệp ngoài nhà nước là một tổ chức kinh tế không thuộc sở hữu hoàn toàn hoặc sở hữu khống chế của nhà nước, có tên, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định và đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm thực hiện các mục tiêu nhất định trong sản xuất kinh doanh công nghiệp. Doanh nghiệp công nghiệp ngoài nhà nước là những doanh nghiệp công nghiệp không thuộc sở hữu nhà nước hoặc sở hữu khống chế của nhà nước. Theo luật doanh nghiệp nhà nước thì sở hữu khống chế nhà nước là sở hữu trên 50%.
Ngoài ra luật còn quy định các doanh nghiệp là doanh nghiệp nhà nước khi nhà nước sở hữu số vốn lớn gấp đôi sở hữu tư nhân lớn nhất. Tuy nhiên, dưới giác độ nghiên cứu về thuế thì sở hữu khống chế ở đây được hiểu là quyền sở hữu của nhà nước gắn liền với quyền kiểm soát và sử dụng doanh nghiệp đó như là công cụ điều tiết của nhà nước. Như vậy, ranh giới giữa doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp ngoài nhà nước sẽ rõ ràng hơn khi nhà nước có nắm quyền kiểm soát và sử dụng doanh nghiệp đó khi cần thiết hay không. Mục đích chính của sở hữu nhà nước cũng là nhằm khống chế và sử dụng doanh nghiệp để điều tiết.
Cách hiểu này sẽ nảy sinh vấn đề khi phân định loại hình doanh nghiệp trong hai trường hợp sau: 6 Một là, các doanh nghiệp trong đó nhà nước chiếm tỷ trọng vốn lớn nhất với tư cách là phân chia lợi nhuận đơn thuần và nhà nước không có mục đích sử dụng doanh nghiệp đó như là công cụ điều tiết. Hai là, các doanh nghiệp trong đó các thành phần kinh tế khác có chiếm phần sở hữu lớn hơn nhà nước nhưng họ chỉ có mục đích thu lợi nhuận đơn thuần nên nhà nước vẫn duy trì quyền kiểm soát và điều tiết. Những tình huống đặc biệt làm nảy sinh ranh giới phân chia doanh nghiệp nhà nước và ngoài nhà nước không đơn thuần là tên gọi mà phải phân tích sâu xa hơn về bản chất của những loại hình này. Hai trường hợp trên thực chất là những tình huống cụ thể.
Trường hợp thứ nhất vẫn nên coi là doanh nghiệp nhà nước vì xét theo giác độ luật pháp thì nhà nước có quyền điều tiết doanh nghiệp này nhưng có thể chưa tiến hành sử dụng làm công cụ điều tiết trong một giai đoạn nào đó. Trường hợp thứ hai thì ngược lại, nhà nước chỉ tận dụng sở hữu vốn của mình tại doanh nghiệp đó để tham gia điều tiết trong từng giai đoạn cụ thể. Về bản chất, thì sở hữu tư nhân lớn nhất vẫn có quyền phủ quyết mặc dù họ có thể chưa sử dụng quyền hợp pháp này. Chính vì vậy doanh nghiệp loại này nên xếp vào doanh nghiệp ngoài nhà nước.
Do đó, tiêu chí phân định loại hình doanh nghiệp nhà nước và ngoài nhà nước chính là hình thức sở hữu vốn. Xu hướng phân định các doanh nghiệp nhà nước và ngoài nhà nước sẽ tập trung vào vấn đề sở hữu vốn. Quyền kiểm soát sẽ là đặc trưng cơ bản của doanh nghiệp nhà nước nên có thời điểm nhà nước sử dụng cũng có thời điểm nhà nước không sử dụng đến. Những đặc điểm cơ bản của doanh nghiệp công nghiệp ngoài nhà nƣớc Trong công nghiệp, doanh nghiệp có rất nhiều loại hình khác nhau.
Nếu căn cứ vào hình thức sở hữu vốn, có doanh nghiệp công nghiệp nhà nước và doanh nghiệp công nghiệp ngoài nhà nước. Doanh nghiệp công nghiệp ngoài nhà nước như phân tích ở trên chủ yếu bao gồm các doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH, công ty cổ phần, … 7 Các doanh nghiệp công nghiệp ngoài nhà nước chủ yếu theo đuổi các mục tiêu kinh tế còn các doanh nghiệp công ích ngoài chức năng kinh doanh sẽ còn phải thực thi các mục tiêu kinh tê – xã hội. Sự khác nhau cơ bản ở đây là mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp. Mục tiêu kinh tế - xã hội là mục tiêu chính của các doanh nghiệp nhà nước.
Xu hướng nhà nước cũng chỉ nắm giữ các doanh nghiệp có vai trò đặc biệt trong nền kinh tế để thực hiện các chức năng quản lý nhà nước với nền kinh tế. Trên cơ sở đã trình bày và quan điểm của các nhà kinh tế học trong nước và trên thế giới có thể đưa ra những đặc điểm cơ bản của hai loại hình doanh nghiệp này như sau: Bảng 1.1: Các đặc điểm cơ bản của DNCNNNN và DNCNNN TT Tiêu chí DNCNNNN DNCNNN - Hàng hóa cá nhân là chủ - Hàng hóa công cộng là chủ 1 Sản phẩm yếu yếu - Người tiêu dùng cụ thể - Nhiều đối tượng khác nhau Đối tượng 2 - Thị trường mục tiêu - Ngành, khu vực kinh tế - xã phục vụ hội - Hiệu quả tài chính - Phát triển kinh tế - xã hội - Lợi nhuận - Hiệu quả kinh tế - xã hội Mục tiêu - Mục tiêu “đơn”: Kinh - Hiệu quả tài chính và đóng 3 hoạt động doanh góp cho ngân sách - Mục tiêu “kép” giữa xã hội và kinh doanh - Trong phạm vi hẹp của - Nhiều người, nhiều cấp người quản lý tham gia quyết định, chỉ đạo Ra quyết - Ràng buộc bởi luật pháp - Ràng buộc bởi luật pháp, 4 định và các nguyên tắc quản lý quy chế đối với DNNN và và triết lý kinh doanh của nguyên tắc triết lý kinh công ty doanh - Thị trường yếu tố tự do - Thị trường yếu tố tự do 5 Nguồn lực - Đối tượng chính sách - Thanh toán trực tiếp - Đôi khi người sử dụng theo giá thỏa thuận không phải trả tiền hoặc trả 6 Thanh toán dưới mức giá trị thật - Người trả tiền đôi khi lại không phải là người sử dụng 8 Như vậy, giữa DNCNNN và DNCNNNN có những đặc điểm rất khác nhau đặc biệt là về mục tiêu, cách quản lý sản xuất kinh doanh. DNCNNNN có mục tiêu chính là lợi ích về kinh tế trong khi đó DNCNNN có mục tiêu “kép” vừa phải thực thi mục tiêu hiệu quả xã hội vừa phải tiến hành sản xuất kinh doanh có hiệu quả. Các căn cứ để các DNCNNNN ra quyết định kinh doanh hoàn toàn phụ thuộc vào mục tiêu kinh doanh và các yếu tố đầu vào.
Một khía cạnh khác biệt về thứ tự ưu đãi thanh toán khi phá sản của DNCNNNN cũng rất rõ nét. Thông thường các DNCNNNN sẽ ưu tiên trả các khoản vay nợ theo thứ tự đối với người lao động, ngân hàng, quỹ tín dụng, nhà đầu tư, cổ đông. Đặc trưng này thể hiện sự ưu tiên của các khoản thanh toán đối với người lao động sau đó đến các chủ nợ và cuối cùng mới đến các chủ đầu tư. Trong khi các DNCNNN sẽ ưu tiên thanh toán cho người lao động, các cổ đông tư nhân, các khoản vay tư nhân sau đó mới đến các khoản vay tài chính nhà nước và cuối cùng là ngân sách nhà nước.
Những đặc điểm cơ bản trên đây đã cho thấy DNCNNNN là doanh nghiệp kinh doanh rất nhanh nhạy trong cơ chế thị trường. Để quản lý tốt các doanh nghiệp công nghiệp ngoài nhà nước, đòi hỏi các cấp, các ngành phải hiểu rõ các đặc điểm này và nắm được cơ chế thị trường và các quy luật kinh tế khách quan để vận dụng.