CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Tính cấp thiết của đề tài Kể từ khi xuất hiện, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) luôn thể hiện vai trò quan trọng đối với nền kinh tế Việt Nam, được coi là cú huých nhằm giúp nước ta thoát khỏi "vòng luẩn quẩn" về kinh tế. Điều đó được thể hiện qua những con số ấn tượng, trong những năm qua, tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam luôn ở mức cao, tốc độ tăng trưởng trung bình giai đoạn 2005 – 2017 đạt 6. Trong đó, yếu tố vốn đóng góp đến hơn 60% GDP (APO, 2016).
Thực tế cho thấy, tỷ trọng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trong tổng mức vốn đầu tư toàn xã hội tại Việt Nam liên tục tăng từ 14. Nghị Quyết Đại hội Đảng Khóa 12 (Tháng 1/2016) đã thông qua phương hướng nhiệm vụ của toàn xã hội trong giai đoạn 2016 – 2020, tầm nhìn tới 2030 với mục tiêu “đổi mới toàn diện và đồng bộ, phát triển nhanh, bền vững, sớm đưa Việt Nam cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại hóa, nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới”. Để đạt được mục tiêu này, FDI được dự đoán sẽ vẫn là một trong những nhân tố quan trọng. Theo Bộ Kế Hoạch và Đầu Tư (2016), “để đạt mục tiêu GDP bình quân đầu người đạt 3,200 – 3,500 USD vào năm 2020, và vốn đầu tư toàn xã hội đạt 32 - 34% GDP thì trung bình hàng năm Việt Nam cần khoảng 90 tỷ USD vốn đầu tư xã hội”.
Trong khi nguồn vốn tích lũy nội địa còn hạn chế thì Việt Nam đang cố gắng hết mức tận dụng nguồn vốn bên ngoài như ODA, vay thương mại, và FDI. Theo kinh nghiệm thu hút vốn đầu tư trong gần 30 năm qua ở Việt Nam, 70% vốn đầu tư xã hội là nguồn vốn trong nước, 30% là nguồn vốn ngoại. Với tỷ lệ này, trong giai đoạn 2016 – 2020 trung bình hàng năm sẽ phải huy động 17 – 18 tỷ USD vốn FDI trong tổng số 23 – 25 tỷ USD vốn nước ngoại. Hơn nữa, ODA ngày một giảm dần và không được ưu đãi như trước, kể từ khi Việt Nam được công nhận là quốc gia có thu nhập trung bình vào năm 2010.
Hiện nay, World Bank đã dừng cung cấp nguồn vốn vay 2 ODA đối với Việt Nam, còn vay thương mại hiện không đáng kể. Điều đó cũng có nghĩa để bù đắp việc giảm ODA, vốn FDI sẽ được coi trọng hơn. Dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đến các nước đang phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng chịu tác động của nhiều nhân tố như quy mô thị trường, thu nhập quốc dân, trình độ lao động, sự ổn định về kinh tế, xã hội… Việc xác định mức độ ảnh hưởng của các yếu tố này cũng có ý nghĩa rất quan trọng, để xác định xu hướng và mức độ tác động của các nhân tố với dòng vốn FDI, từ đó tìm ra các giải pháp để các nước nhận đầu tư có thể thu hút nhiều hơn luồng vốn này cho phát triển kinh tế. Bởi vậy, học viên đã chọn đề tài “Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng tới việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam” 1.
Tổng quan các nghiên cứu Trong thời gian qua, có nhiều các công trình nghiên cứu về các nhân tố tác động có ảnh hưởng đến việc thu hút FDI, đặc biệt là nghiên cứu tại các quốc gia đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng tới việc thu hút FDI tai các quốc gia đang phát triển Nghiên cứu của Agarwal (1980) “Determinants of foreign direct investment: A survey”: Nghiên cứu thực hiện khảo sát các nhân tố có tác động đến dòng vốn FDI tại các quốc gia đang phát triển đã chỉ ra 03 nhân tố quan trọng tác động đến việc thu hút FDI bao gồm: sự bất ổn chính trị - nhân tố ngăn cản FDI, sự ưu đãi dành cho các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài – nhân tố khuyến khích FDI, chi phí lao động rẻ - lợi thế so sánh của các nước đang phát triển so với các nước phát triển. Nghiên cứu của Shamsuddin (1994) “Economic Determinants of Foreign Direct Investment in Less Developing Countries”: Shamsuddin sử dụng dữ liệu chéo cho năm 1983 tại 36 quốc gia đang phát triển cho thấy biến GDP/người đại diện cho quy mô thị trường được coi là là nhân tố quan trọng nhất có ảnh hưởng đến FDI. Các nhân tố quan trọng cũng có ảnh hưởng đến dòng FDI bao gồm chi phí lao động (lương), môi trường đầu tư đại diện bởi nợ bình quân đầu người.
Ngoài ra, 3 FDI còn chịu ảnh hưởng bởi một số các nhân tố khác như mức viện trợ bình quân đầu người từ các nước tư bản (bao gồm cả hỗ trợ phát triển chính thức song phương, đa phương), mức độ ổn định của nền kinh tế được đại diện bởi mức thay đổi trong giá cả, năng lượng sẵn có của nước nhận đầu tư cũng có tác động đáng kể lên quyết định đầu tư. Quy mô thị trường lớn hơn cùng với sự gia tăng trong viện trợ công sẽ thu hút được nhiều FDI hơn, ngược lại chi phí lương cao hơn, môi trường đầu tư nghèo nàn, kinh tế bất ổn sẽ làm giảm sút lượng FDI vào nước chủ nhà. Nghiên cứu của Loree và Guisinger (1995) “Policy and non-policy determinants of U. equity foreign direct investment”: Dựa vào dữ liệu khảo sát đầu tư ra nước ngoài được thực hiện bởi Phòng thương mại Mỹ năm 1977 và 1982, Loree và Guisinger (1995) bàn luận về chủ đề “Các nhân tố thuộc về chính sách và phi chính sách của nước nhận đầu tư tác động lên quyết định đầu tư ra nước ngoài của các nhà đầu tư Mỹ” nhằm mục đích xác định các yếu tố thực sự ảnh hưởng đến việc thu hút đầu tư của các nhà đầu tư Mỹ tại các quốc gia trong danh mục khảo sát.
Trong công trình nghiên cứu của mình, Loree và Guisinger đã sử dụng kết hợp mô hình dữ liệu chéo và phân mẫu dữ liệu của mình thành hai nhóm: các nước đang phát triển và các nước phát triển. Kết quả hồi quy cho thấy, một số biến có ý nghĩa thống kê thay đổi qua các năm. Cụ thể là, biến rủi ro quốc gia có ý nghĩa thống kê trong năm 1982 nhưng không có ý nghĩa thống kê trong năm 1977, điều này có thể do các nhà đầu tư Mỹ trở nên thận trọng hơn đối với sự ổn định của quốc gia đó bởi vào đầu những năm 1980 khi kinh tế thế giới đang trong giai đoạn suy thoái tồi tệ kể từ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai và quy mô nợ công của các quốc gia đang phát triển tăng lên mạnh mẽ. Biến khác biệt văn hóa và GDP/ người có ý nghĩa thống kê trong năm 1977 nhưng không có ý nghĩa thống kê trong năm 1982.
Ngược lại các biến đại diện cho cơ sở hạ tầng như thông tin liên lạc và giao thông vận tải tác động cùng chiều với FDI và có ý nghĩa thống kê trong cả hai năm. 4 Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng các biến thuộc về chính sách như ưu đãi đầu tư (hệ số mang dấu dương), những quy định về hoạt động kinh doanh (hệ số mang dấu âm), thuế suất có hiệu lực của nước chủ nhà có tác động ngược chiều với FDI và có sự khác biệt khá lớn giữa những nước đang phát triển với nước phát triển, giữa năm 1977 và năm 1982. Nghiên cứu của Peter Nunnenkamp (2002) “Determinants of FDI in developing countries: Has globalization changed the rules of the game?”: Người ta tin rằng xu hướng toàn cầu hóa sản xuất và marketing có ý nghĩa quan trọng giúp các nước đang phát triển thu hút nguồn vốn FDI vào nước mình. Sự bùng nổ của dòng vốn FDI vào những nước này bắt đầu từ những năm 1990 đã cho thấy quan điểm của các công ty quốc gia xem đây là khu vực tìm kiếm lợi nhuận tiềm năng.
Bên cạnh đó, nhiều chuyên gia cho rằng yếu tố quyết định và động lực thúc đẩy FDI sẽ thay đổi trong quá trình toàn cầu hóa. Do đó, các nước này sẽ không còn khả năng duy trì sự hấp dẫn kích thích dòng vốn FDI vào nước mình. Để kiểm định điều này, Peter Nunnenkamp (2002) đã thực hiện bài nghiên cứu “Các nhân tố tác động FDI tại các nước đang phát triển: Liệu toàn cầu hóa có làm thay đổi luật chơi?” tại 28 quốc gia đang phát triển được khảo sát trong ERT (2000) từ những năm cuối 1980 nhằm xem xét tác động của nhóm biến truyền thống và nhóm biến phi truyền thống đến vỉệc thu hút FDI tại những nước đang phát triển. Nhóm biến truyền thống bao gồm quy mô thị trường (dân số, GDP/người), tăng trưởng của GDP, tắc nghẽn hành chính, hạn chế đầu tư, rủi ro quốc gia.
Nhóm biến phi truyền thống bao gồm các yếu tố đầu vào mà một sản phẩm cạnh tranh quốc tế cần tại các quốc gia đang phát triển, trình độ lao động, các nhân tố chi phí liên quan đến thuế, điều kiện làm việc, quy định của thị trường lao động và tác động của công đoàn, sự thay đổi trong tỷ trọng thương mại đại diện cho mức độ mở cửa thương mại của nước chủ nhà, hạn chế nhập cảnh, quy định kỹ thuật. Kết quả cho thấy các yếu tố thuộc về truyền thống liên quan đến thị trường vẫn là yếu tố chi phối FDI. Các yếu tố phi truyền thống như chi phí sản xuất, các yếu tố bổ sung của sản xuất, mặc dù có tác động kỳ vọng với FDI nhưng thường không trở nên quan trọng hơn với tiến trình toàn cầu hóa. 5 Nghiên cứu của Elizabeth Asiedu (2005) “Foreign Direct Investment in Africa: The Role of Natural Resources, Market Size, Government Policy, Institutions and Political Instability”: Nghiên cứu thực nghiệm của Elizabeth Asiedu (2005) về vấn đề “Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Châu Phi: Vai trò của tài nguyên thiên nhiên, quy mô thị trường, chính sách của chính phủ, các tổ chức và bất ổn chính trị”.
Nghiên cứu này xem xét dựa quy mô mẫu gồm 22 quốc gia trong SSA (các quốc gia nằm ở phía Nam Sahara, châu Phi) trong giai đoạn 1984 -2000. Để đánh giá các nhân tố tác động đến việc thu hút FDI tại các nước SSA, trong công trình nghiên cứu của mình, Elizabeth Asiedu kết hợp phương pháp dữ liệu bảng với tác động cố định. Kết quả đã chỉ ra rằng, cơ sở hạ tầng tốt, lạm phát thấp, tỷ lệ người dân có trình độ văn hóa cao, độ mở thương mại lớn, ít tham nhũng, chính trị ổn định và hệ thống pháp luật đang tin cậy là những nhân tố quan trọng trong việc thúc đẩy FDI.