Chương 1: Cơ sở lý luận về vốn và hiệu quả sử dụng vốn. s* Chương 2: Nghiên cứu thống kê hiệu quả sử dụng vốn của Công ty Cổ phan Group Trường Phú giai đoạn 2009-2018 1X CHUONG 1: CƠ SO LÝ LUẬN VE VON VÀ HIỆU QUA SỬ DỤNG VON 1. MỘT SO VAN DE CHUNG VE NGUON VON 1. Khái niệm, đặc trưng, vai trò của nguồn von 1.
Khái niệm của nguồn vốn Vôn đóng vai trò vô cùng quan trọng đôi với nên kinh tê nói chung và sự tôn tại, phát triên của doanh nghiệp nói riêng. Có rat nhiêu quan diém cũng như nhận định khác nhau về nguôn von tùy theo đặc diém và hoàn cảnh kinh tê. Một sô quan điêm, nhận định về vôn như sau: Vốn là một khối lượng tiền tệ nào đó được đưa vào lưu thông nhằm mục đích kiếm lời, tiền đó để mua sắm tư liệu sản xuất và trả công cho người lao động, nhằm hoàn thành công việc sản xuất kinh doanh hay dịch vụ nào đó với mục đích là thu về số tiền lớn hơn ban đầu. Do đó vốn mang lại giá trị thặng dư cho doanh nghiệp.
Quan điểm này tuy chỉ rõ mục tiêu của quản lý là sử dụng vốn nhưng lại mang tính trừu tượng, hạn chế về ý nghĩa đối với hạch toán và phân tích quản lý và sử dụng vốn của doanh nghiệp. Theo nghĩa hẹp: Von được hiểu là tiềm lực tài chính của mỗi cá nhân, mỗi doanh nghiệp hay mỗi quốc gia. Theo nghĩa rộng: Vốn bao gồm toàn bộ các yếu tố kinh tế được bố trí dé sản xuất hàng hoá, dịch vụ: tài sản hữu hình, tài sản vô hình, các kiến thức kinh tế, kỹ thuật của doanh nghiệp được tích luỹ, sự khéo léo về trình độ quản lý và tác nghiệp của các cán bộ điều hành, cùng đội ngũ cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp, uy tín của doanh nghiệp. Quan điểm này có ý nghĩa quan trọng trong việc khai thác đầy đủ hiệu quả của vốn trong nền kinh tế thị trường.
Tuy nhiên, việc xác định vốn theo quan điểm này rất khó khăn và phức tạp nhất là khi trình độ quản lý kinh tế ở nước ta còn nhiều hạn chế và pháp luật chưa thực sự hoàn chỉnh. Theo quan điểm của Karl Marx: “Vén (tư bản) không phải là một vật, là tư liệu sản xuất, nó có giá trị tạm thời trong lịch sử. Tư bản là giá trị mang lại giá trị thặng dư băng cách bóc lột lao động của công nhân làm thuê.” Với quan điểm này, bản chất của vốn là giá trị tuy được thé hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như: tài sản cố định, tiền công hay nguyên vật liệu. Đây là một định nghĩa có tầm khái quát lớn vì nó bao gồm đầy đủ những bản chất và vai trò của vốn.
Song, định nghĩa mới chỉ bó hẹp trong khu vực 10 sản xuât vật chât và cho răng chỉ có quá trình sản xuât mới tạo ra giá trị thặng dư cho nên kinh tê nên đây chính là một hạn chê trong quan niệm về vôn của ông. Theo quan điểm của P.Samuelson - nhà kinh tế học người Hoa Kỳ theo trường phái Tân cổ điển đã kế thừa các quan điểm cua trường phái cổ điển và định nghĩa vốn nhự sau: “Vốn là những hàng hóa sản xuất ra dé phục vụ cho quá trình sản xuất mới, là 1 trong 3 yếu tố đầu vào của hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp (vốn, lao động, dat đai)”. Như vây, vốn không chi tồn tại đưới hình thái bằng tiền mà còn tôn tại dưới hình thái hiện vật như: Nguyên vật liệu, thiết bị, máy móc,. Trong quan niệm trên, Samuelson không đề cập đến các tài sản tài chính, những tài sản có giá có thể đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp.
Như vậy, ông đã đồng nhất vốn với tài sản của doanh nghiệp. Theo quan điểm cua David Begg, Stenley Ficher, Rudiger Darubused trong cuon “Kinh té hoc” da dua ra hai dinh nghia về von: “Vốn là một loại hàng hóa nhưng được sử dụng tiếp tục và quá trình sản xuất và kinh doanh tiếp theo. Có 2 loại vốn là vốn hiện vật và vốn tài chính. Vốn hiện vật là dự trữ các loại hàng hóa đã sản xuất ra các loại hàng hóa và dịch vụ khác.
Vốn tài chính là tiền mặt, tiền gửi ngân hàng. Đất đai không được coi là vốn.” Với quan điểm này, nguồn gốc hình thành vốn cũng như trạng thái biểu hiện của vốn được thể hiện một cách rõ nét, tuy nhiên có một hạn chế cơ bản là chưa chỉ ra được mục đích của việc sử dụng vôn. Theo quan điển của một số nhà kinh tế học khác: Vốn là sản phẩm tạm thời phải hi sinh cho tiêu dùng hiện tại của nhà đầu tu, dé day mạnh sản xuất tiêu dùng trong tương lai. Quan điểm này chủ yếu phan ánh động cơ về đầu tư nhiều hơn là nguồn vốn và biểu hiện của nguồn vốn.
Vì vậy, quan điểm này cũng không đáp ứng được nhu cầu nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cũng như phân tích vốn. Điểm chung cơ bản về vốn được các nhà kinh tế học thống nhất là: Vốn là một loại hàng hoá đặc biệt. Là yếu tố đầu vào cơ bản của quá trình sản xuất kinh doanh, được sử dụng để sản xuất ra hàng hoá và dịch vụ cung cấp cho thị trường. Như vậy, vốn của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ vật tư, tài sản, được đầu tư vào sản xuất kinh doanh.
Trong nền kinh tế thị trường, vốn được coi là một loại hàng hóa. Điểm giống nhau giữa vốn và các loại hàng hóa là đều có chủ sở hữu nhất định. Tuy nhiên, người sở hữu này có thé bán quyền sử dụng vốn trong thời gian nhất định. Giá của vốn hay còn gọi là lãi suất chính là cái giá phải trả của quyền sử dụng vốn.
Chính nhờ sự tách rời về quyền I1 sở hữu và quyền sử dụng vốn nên vốn có thé lưu chuyền trong đầu tư kinh doanh và sinh lời. xe Trong phạm vi doanh nghiệp: Vốn kinh doanh của doanh nghiệp được hiểu là số tiền ứng trước vé toan bộ tài san hữu hình và tài san vô hình phục vụ cho san xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhằm mục đích kiếm lời. Vốn luôn thường xuyên vận động và chuyên hóa hình thái biểu hiện, vừa tồn tại đưới hình thái tiền tệ vừa tồn tại dưới hình thái vật tư hoặc tài sản vô hình, nhưng kết thúc Vòng tuần hoàn lại trở về hình thái tiền tệ ban đầu. Quá trình đó được gọi là sự tuân hoàn của vốn.
Quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh diễn ra liên tục, không ngừng. Do đó, sự tuần hoàn của chu kì vốn kinh doanh cũng diễn ra liên tục, lặp đi lặp lại mang tính chất chu kì tạo thành sự chu chuyển của vốn kinh doanh. Sự chu chuyên này chịu chi phối rất lớn từ đặc điểm ngành nghề kinh doanh mà doanh nghiệp kinh doanh. Ngành nghề khác nhau thì vòng tuần hoàn của vốn và sự chu chuyên của vôn cũng khác nhau.
Tóm lại, vốn kinh doanh của doanh nghiệp có thé hiểu là biéu hiện bằng tiền của toàn bộ giá trị tài sản được huy động và sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích sinh lời. Đặc trưng của nguồn von Thứ nhất, vốn được biểu hiện bằng một lượng tài sản có thực: (Đặc trưng rất cơ bản của vốn kinh doanh), vốn là một lượng tiền tệ đại diện cho một lượng hàng hoá nhất định, một tài sản có thực. Nói cách khác, vốn là biểu hiện bằng giá tri của các tai sản trong doanh nghiệp. Thứ hai, vốn phải được tích tụ, tập trung thành một lượng nhất định, du sức dau tự vào một phương án kinh doanh: Việc huy động vốn của doanh nghiệp cần đạt tới một giới hạn nhất định nào đó thì mới đủ sức phát huy tác dụng, cũng như đáp ứng được những yêu cầu, đòi hỏi của phương án đầu tư.
Do đó để đầu tư vào sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp không những khai thác các tiềm năng về vốn mà còn phải tìm mọi cách dé thu hút vốn. Thứ ba, vốn phải vận động sinh lời: Đặc trưng này xuất phát từ nguyên tắc: tiền tệ chỉ được coi là vốn khi chúng được đưa vao sản xuất kinh doanh, vận động biến đổi 12 hình thái biểu hiện nhưng điểm khởi đầu và điểm kết thúc của vòng tuần hoàn này van phải là tiền, lượng tiền thu về phải lớn hơn lượng tiền bỏ ra - tức là kinh doanh phải có lãi. Thứ tư, vốn có giá tri về mặt thời gian: Một đồng vốn ở thời điểm này có giá trị khác với giá trị của một đồng vốn ở thời điểm khác. Nguyên nhân của điều này là do các nhân tố như: giá cả thị trường, lạm phát, khủng hoảng.
Do đó, việc huy động và sử dụng vốn kip thời là hết sức quan trọng đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp. Thứ năm, vốn gắn liên với chủ sở hữu: Von luôn phải gắn liền với chủ sở hữu trong nền kinh tế thị trường. Đồng vốn vô chủ sẽ gây những ảnh hưởng xấu đến việc sử dụng vốn lăng phí, hiệu quả thấp. Ngược lại, những đồng vốn gắn liền với chủ sở hữu, gan với lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu thì được sử dụng đúng mục đích, tiết kiệm có hiệu quả và sinh lời.
Thứ sáu, vốn được coi như một loại hàng hoá đặc biệt: Khi có vốn nhàn rỗi, nhiều người sẽ đưa vốn vào thị trường, còn khi cần vốn, họ sẽ tìm đến nguồn vốn đó dé mua “Quyền sử dụng vốn” và trả cho người bán một lượng tiền tệ nhất định đuợc gọi là “chi phí sử dụng vốn”. Vì vậy, vốn khi “bán ra” sẽ chỉ mat đi quyền sử dụng mà không bị mat đi quyền sở hữu, người mua sẽ được quyền sử dụng vốn trong một thời gian nhất định. Đây là đặc trưng quan trọng giúp cho các doanh nghiệp có phương thức huy động vốn linh hoạt. Thứ bảy, vốn bao gém cả giá trị của tài sản vô hình: Giá trị thực của một doanh nghiệp không chỉ là phép cộng giản đơn vốn có định và vốn lưu động hiện có, mà còn tính đến giá tri của một số tài sản có khả năng sinh lời như: vi tri địa lý, uy tín, thương hiệu, công nghệ sản xuất, bằng phát minh sáng chế.
Chúng được gọi là tài sản vô hình của doanh nghiệp. Vai trò của nguồn von Khi muôn thực hiện một hành động nào đó, trước hêt phải có tiên đê cơ bản. Giông như khi muôn nâu được com thì trước hét phải có gạo và nước, von cũng như vậy.