Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. Khái niệm về nông hộ Nông hộ là những hộ mà các hoạt động của họ gắn liền với lĩnh vực nông nghiệp [30] Theo Nguyễn Phúc Thịnh, 2017 [24]: Hộ là một đơn vị kinh tế cơ sở mà ở đó diễn ra quá trình phân công, tổ chức lao động, chi phí cho sản xuất, tiêu thụ, thu nhập, phân phối và tiêu dùng. Với tư cách là một đơn vị kinh tế, hộ được phân tích từ nhiều gốc độ: - Chủ sở hữu và sử dụng các nguồn lực kinh tế: đất đai, lao động, vốn. - Là đơn vị tham gia vào các hoạt động kinh tế, phân theo ngành nghề, vùng, lãnh thổ,.
- Trình độ phát triển của kinh tế hộ. - Hiệu quả hoạt động của kinh tế hộ. - Trong nông thôn Việt Nam hiện nay, hộ bao gồm gia đình và hộ nông dân. Các khái niệm liên quan đến sản xuất 1.
Khái niệm sản xuất Theo quan niệm phổ biến trên thế giới thì sản xuất được hiểu là quá trình tạo ra sản phẩm hoặc dịch vụ. Theo nghĩa rộng, sản xuất bao hàm bất kỳ hoạt động nào nhằm thỏa mãn nhu cầu của con người. Như vậy, kết quả cuối cùng của sản xuất là sản phẩm. Sản phẩm có thể là hàng hóa hay dịch vụ.
Trong chuỗi hàng hóa, mỗi thành viên đều tạo ra được sản phẩm riêng của mình. Sản phẩm của thành viên trước là chi phí trung gian của các thành viên kề sau nó. Sản phẩm của tác nhân cuối cùng trước khi đến tay người tiêu dùng là sản phẩm cuối cùng của chuỗi. Các nguồn lực đầu vào của quá trình sản xuất i) Vốn Vốn được xem như là mộ yếu tố nhập lượng bao gồm tất cả các trang thiết bị, máy móc được sử dụng trong quá trình sản xuất.
Hơn nữa vốn còn được thể hiện thông qua sản phẩm của những hoạt động trước đó, mà liên quan đến hoạt động sản xuất hiện tại. Nhìn chung, vốn được kết hợp với các yếu tố nhập lượng khác như lao động, năng lượng và những nguyên vật liệu trong quá trình sản xuất ra một hoặc một số loại sản phẩm cụ thể nào đó. Vốn được đo lường bằng giá trị mà chúng được sử dụng trong quá trình sản xuất và được xem như là một thứ hàng hóa. Vì vậy trong mỗi giai đoạn sản xuất sẽ xuất hiện một khoảng chi phí liên quan đến việc sử dụng vốn như chi phí khấu hao máy móc thiết bị và các khoản chi phí mang tính thời kỳ cho việc sử dụng các nguồn lực như lãi suất.
ii) Lao động Lao động là một nguồn lực cần thiết trong bất kỳ một hoạt động nào trong xã hội nói chung cũng như trong nền kinh tế nói riêng. Phạm vi tham gia của lao động vào các hoạt động sản xuất nhiều hay ít phụ thuộc vào đặc điểm của từng ngành nghề cụ thể, cũng như đòi hỏi người lao động phải đáp ứng trình độ nhất định. Tuy nhiên, một trong những khó khăn trong việc đo lường giá trị của lao động là xuất phát từ sự khác nhau về chất lượng lao động của các cá nhân khác nhau. Nhìn chung, với mức chất lượng lao động khác nhau thì sẽ tương ứng với mức thu nhập (tiền lương) khác nhau và xuất hiện khái niệm nguồn nhân lực (human capital).
Vì vậy, khoản thu nhập của người lao động phải được bao gồm khoản thanh toán cho việc sử dụng lao động và khoản thu nhập đối với nguồn nhân lực. c 6 iii) Đất đai Đất đai được xem như là một trong ba nguồn lực sản xuất. Giống như lao động, đất đai cũng là một nguồn lực không đồng nhất. Chất lượng đất khác nhau phụ thuộc vào vị trí, đặc điểm về địa lý,… Vì vậy, có sự chênh lệch thanh toán cho việc sử dụng đất trong quá trình sản xuất, bao gồm chi phí thuê đất để sản xuất.
Hơn nữa chất lượng của đất cũng ảnh hưởng phần nào đến hiệu quả, năng suất của công nghệ được áp dụng trong sản xuất. Bên cạnh các nguồn lực đầu vào vốn, lao động, đất đai, còn có các nguồn lực đầu vào khác như năng lượng điện, nước, phân bón,… Mỗi yếu tố có một đặc điểm riêng mà chúng có thể trở thành nhân tố thiết yếu trong hoạt động sản xuất. Hiệu quả sản xuất Theo David Begg (1992) [29] “Hiệu quả sản xuất diễn ra khi xã hội không thể tăng sản lượng một loại hàng hóa này mà không cắt giảm một loại hàng hóa khác” và Ông còn khẳng định “Hiệu quả sản xuất nghĩa là không lãng phí”. Các quan điểm này đúng trong nền kinh tế thị trường ở các nước phát triển nhưng khó xác định vì chưa đề cập đến chi phí để tạo ra sản phẩm, nhất là ở các nước đang phát triển hay chậm phát triển.
Các nhà kinh tế học thị trường như Samuelson (2002) [31] cho rằng “Hiệu quả sản xuất là một tình trạng mà trong đó các nguồn lực của xã hội được sử dụng hết để mang lại sự thỏa mãn tối đa cho người tiêu dùng” Theo Phạm Ngọc Kiểm (2009) [8] “Hiệu quả sản xuất là một phạm trù kinh tế, biểu hiện sự phát triển kinh tế theo chiều sâu. Nó phản ánh trình độ khai thác các nguồn lực và trình độ tiết kiệm chi phí các nguồn lực đó trong quá trình tái sản xuất nhằm thực hiện các mục tiêu kinh doanh”. Quan điểm này ưu việt hơn trong đánh giá hiệu quả đầu tư theo chiều sâu, hoặc hiệu quả của việc ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật. c 7 Từ những quan điểm khác nhau về hiệu quả sản xuất như trên ta thấy rằng hiệu quả sản xuất là một phạm trù trọng tâm và rất cơ bản của hiệu quả kinh tế và quản lý.
Hơn nữa việc xác định hiệu sản xuất quả là vấn đề hết sức khó khăn và phức tạp về lý luận và cả thực tiễn. Bản chất của hiệu quả xuất phát từ mục đích của sản xuất và phát triển kinh tế xã hội là đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về đời sống vật chất và tinh thần của mọi thành viên trong xã hội. Muốn vậy, sản xuất không ngừng phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu. Quan điểm về hiệu quả sản xuất trong điều kiện hiện nay là phải thoả mãn vấn đề tiết kiệm thời gian, tài nguyên trong sản xuất mang lại lợi ích xã hội và bảo vệ môi trường.
Chính vì vậy mà hiệu quả sản xuất của một quá trình nào đó cần được đánh giá toàn diện cả ba khía cạnh: Hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường. Khái niệm sản phẩm Theo quan điểm truyền thống: Sản phẩm là tổng hợp các đặc tính vật lý học, hoá học, sinh học. có thể quan sát được, dùng để thoả mãn những nhu cầu cụ thể của sản xuất hoặc đời sống. Theo quan điểm Marketing hiện đại: Sản phẩm là thứ có khả năng thoả mãn nhu cầu mong muốn của khách hàng, cống hiến những lợi ích cho họ và có thể đưa ra chào bán trên thị trường với khả năng thu hút sự chú ý mua sắm và tiêu dùng.
Theo đó, một sản phẩm được cấu tạo và hình thành từ hai yếu tố cơ bản sau đây: + Yếu tố vật chất. + Yếu tố phi vật chất. Theo quan niệm này, sản phẩm phải vừa là cái “đã có”, vừa là cái “đang và tiếp tục phát sinh” trong trạng thái biến đổi không ngừng của nhu cầu. Ngày nay, người tiêu dùng hiện đại khi mua một sản phẩm không chỉ chú ý đến khía cạnh vật chất, mà còn quan tâm đến nhiều khía cạnh phi vật chất, khía cạnh hữu hình và cả các yếu tố vô hình của sản phẩm.
Khái niệm về chất lượng sản phẩm Dưới quan điểm của người tiêu dùng, chất lượng sản phẩm phải thể hiện được các khía cạnh sau: (1) Chất lượng sản phẩm là tập hợp các chỉ tiêu, các đặc trưng nhằm thể hiện tính năng kỹ thuật hay tính hữu dụng của nó. (2) Chất lượng sản phẩm được thể hiện cùng với chi phí. Người tiêu dùng không chấp nhận mua một sản phẩm với bất kỳ giá nào. (3) Chất lượng sản phẩm phải được gắn liền với điều kiện tiêu dùng cụ thể của từng người, từng địa phương.
Phong tục tập quán của một cộng đồng có thể phủ nhận hoàn toàn những thứ mà thông thường người ta xem là có chất lượng. (4) Chất lượng sản phẩm còn thể hiện thông qua tính kịp thời cả về thời gian lẫn số lượng. Như vậy, chất lượng sản phẩm có thể được hiểu: “Chất lượng sản phẩm là tổng hợp những chỉ tiêu, những đặc trưng của sản phẩm thể hiện mức thỏa mãn những nhu cầu trong những điều kiện tiêu dùng xác định”. Hiểu một cách tổng quát, chất lượng là sự phù hợp với yêu cầu.
Sự phù hợp này phải được thể hiện trên cả 3 phương diện, mà người ta gọi tóm tắt là 3P, đó là: 1) Performance hay Perfectibility: hiệu năng, khả năng hoàn thiện 2) Price: giá thỏa mãn nhu cầu 3) Punctuallity: đúng thời điểm 1. Hiệu quả kinh tế sản xuất bưởi Diễn Hiện nay, có rất nhiều quan điểm về hiệu quả kinh tế, trong phạm vi Luận văn này quan điểm về hiệu quả kinh tế sản xuất bưởi đứng trên góc độ người sản xuất. Khái niệm hiệu quả kinh tế sản xuất bưởi được hiểu như sau: Hiệu quả kinh tế sản xuất bưởi là một phạm trù khoa học phản ánh trình độ khai thác, quản lý các yếu tố nguồn lực trong quá trình sản xuất bưởi nhằm đạt được kết quả sản xuất cao nhất với chi phí bỏ ra ít nhất. c 9 Trong sản xuất bưởi, mục tiêu của các nông hộ là tăng năng xuất và chất lượng sản phẩm, sử dụng có hiệu quả và tiết kiệm chi phí sản xuất.
Thông thường người sản xuất thường mong muốn tăng thêm sản lượng sản phẩm đầu ra trong điều kiện nguồn lực sản xuất sử dụng tiết kiệm nhất. Như vậy, tiêu chuẩn hiệu quả kinh tế đối với các hộ sản xuất bưởi là sự tối đa hoá kết quả và tối thiểu hoá chi phí. Phân tích hiệu quả kinh tế sản xuất bưởi cần tính toán các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế cũng như đo lường mức độ hiệu quả kinh tế mà các hộ đạt được trong quá trình sản xuất. Các phương pháp được sử dụng bao gồm: Hiệu quả kinh tế được đánh giá thông qua các chỉ tiêu tài chính: Bưởi là cây ăn quả dài ngày, mức đầu tư chi phí và thu nhập khác nhau qua từng năm.
Chu kỳ sản xuất cây bưởi gắn liền với chu kỳ sống của nó. Khi đánh giá hiệu quả kinh tế không chỉ xét trong một năm mà phải đánh giá qua nhiều năm và gắn với phát triển bền vững.