Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 1. Cơ sở lý luận về hộ và hiệu quả kinh tế hộ 1. Một số vấn đề lý luận về hộ, hộ nông dân và kinh tế hộ nông dân 1. Khái niệm về hộ Đã có rất nhiều các học giải nghiên cứu về khái niệm về hộ như: - Theo Weberster - từ điển kinh tế năm 1990: hộ là những người cùng sống chung dưới một mái nhà, cùng ăn chung và có chung một ngân quỹ.
- Theo Martin năm 1988: hộ là đơn vị cơ bản liên quan đến sản xuất, tái sản xuất, đến tiêu dùng và các hoạt động khác. - Theo Raul, năm 1989: hộ là những người có cùng chung huyết tộc, có quan hệ mật thiết với nhau trong quá trình sáng tạo ra sản phẩm để bảo tồn chính bản thân mình và cộng đồng. - Theo Megê năm 1989: hộ là một nhóm người có cùng chung huyết tộc hoặc không cùng chung huyết tộc ở chung trong một mái nhà và ăn chung một mâm cơm. Như vậy, các cá nhân và các tổ chức khi nhìn nhận và quan niệm về hộ không giống nhau.
Tuy nhiên trong đó cũng có những nét chung để phân biệt về hộ, đó là: + Chung hay không cùng chung huyết tộc (huyết tộc và quan hệ hôn nhân). + Cùng chung sống dưới một mái nhà + Cùng chung một nguồn thu nhập (ngân quỹ) + Cùng ăn chung + Cùng tiến hành sản xuất chung [12]. Khái niệm hộ nông dân Theo Ellis năm 1988: hộ nông dân là hộ có phương tiện kiếm sống từ ruộng đất, sử dụng chủ yếu lao động gia đình vào sản xuất, luôn nằm trong một hệ thống kinh tế rộng lớn, nhưng về cơ bản được đặc trưng bởi sự tham gia từng phần vào thị trường với mức động hoàn hảo không cao. 4 - Đặc điểm của hộ nông dân Nông dân là một đơn vị kinh tế cơ sở vừa là đơn vị sản xuất, vừa là đơn vị tiêu dùng, vừa là một đơn vị kinh doanh, vừa là một đơn vị xã hội - Mối quan hệ giữa tiêu dùng và sản xuất biểu hiện ở trình độ phát triển của hộ từ tự cấp, tự túc hoàn toàn đến sản xuất hàng hoá hoàn toàn.
Từ đó quyết định quan hệ hộ nông dân và thị trường. - Các hộ nông dân ngoài hoạt động nông nghiệp còn tham gia vào các hoạt động phi nông nghiệp với các mức độ khác nhau[12]. Sự khác nhau giữa hộ nông dân và doanh nghiệp nông nghiệp Hộ nông dân là đơn vị kinh tế đặc biệt, nó khác với tầng lớp xã hội khác và với doanh nghiệp nông nghiệp, cụ thể: Bảng 1. Sự khác nhau giữa hộ nông dân và doanh nghiệp nông nghiệp Tiêu thức Hộ nông dân Doanh nghiệp NN Quy mô Nhỏ Lớn Người điều hành Chủ hộ Nhà kinh doanh Tự cung, tự cấp là chính, Mục đích sản xuất Dùng để bán một phần để bán Hoàn toàn mua trên Tư liệu sản xuất Chủ yếu là của hộ thị trường Chủ yếu sử dụng lao động Chủ yếu là lao động Lao động trong hộ, có thuê nhưng ít thuê ngoài Mức độ tham gia thị trường Thấp, từng phần Cao và toàn bộ Bản chất thị trường Hoàn hảo, thông tin Không hoàn hảo tham gia nhiễu loạn Nông nghiệp, hộ nông dân và nông dân có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, hộ nông dân nếu nói ngắn gọn là hộ sống ở nông thôn và có tiến hành sản xuất nông nghiệp.
Vì vậy muốn PT NN&NT không thể không bàn đến nông dân. Sở dĩ vậy là do: 5 - Nông dân có đời sống vô cùng khó khăn. - Cơ sở hạ tầng yếu kém. - Trình độ dân trí của nông thôn thấp.
- Nông dân nhất là với các nước chưa phát triển được coi là lực lượng chính trị, xã hội qua trọng trong các cuộc cách mạng. - Nông dân quản lý và sử dụng đại đa số nguồn lực như đất đai, lao động, tư liệu sản xuất … - Mức GDP trong nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn chiếm khoảng 35% so với tổng số GDP cả nước.[9] Vì những lý do trên khi nghiên cứu kinh tế hộ nông dân không thể không bàn tới nông dân. Kinh tế hộ nông dân và những nét đặc trưng của kinh tế hộ nông dân Kinh tế hộ nông dân đã có từ lâu và đã có nhiều biến động. Tuy nhiên cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất thì các hình thức tổ chức sản xuất và các quan hệ sản xuất cũng biến đổi theo, bản thân khái niệm về kinh tế hộ nông dân cũng có sự thay đổi và tương ứng với trình độ của nền sản xuất.
Những đòi hỏi sản xuất nông nghiệp trên đây xác định vị trí của kinh tế hộ nông dân và tính hiệu quả của nó. Đồng thời chính đặc thù của sản xuất nông nghiệp, kinh tế nông dân có những đặc trưng sau đây: Thứ nhất: kinh tế hộ nông dân là hình thức tổ chức sản xuất phù hợp với đặc điểm của sản xuất nông nghiệp mà đối tượng sản xuất là các sinh vật. Người nông dân - người chủ thực sự của quá trình sản xuất trực tiếp tác động vào quá trình sinh trưởng của cây trồng vật nuôi, không qua khâu trung gian, họ làm việc không kể giờ giấc, bám sát ruộng đồng nên đạt hiệu quả cao. Thứ hai: kinh tế hộ nông dân có khả năng sử dụng hợp lý lao động và tạo việc làm ở nông thôn.
Kinh tế hộ nông dân có cấu trúc lao động đa dạng, phức tạp, trong một hộ có nhiều loại lao động, vì vậy hộ vừa là chủ thể trực tiếp điều hành quản lý tất cả các khâu vừa trực tiếp điều hành quản lý tất cả 6 các khâu, vừa trực tiếp làm nhiều khâu công việc của quá trình sản xuất. Do sản xuất nông nghiệp mang tính thời vụ, nên thời gian nông nhàn ở nông thôn thường thiếu việc làm nghiêm trọng. Hiện nay ở nước ta, lao động trong nông nghiệp chỉ sử dụng khoảng 40% quỹ thời gian. Thực tiễn ở các nước trên thế giới và cả ở nước ta cho thấy kinh tế hộ nông dân là một trong những hình thức cơ bản để thực hiện kết hợp nông nghiệp với các ngành phi Nông nghiệp.
Hộ nông dân là chủ thể trực tiếp đối phó với tình trạng mất cân đối đất đai, lao động và việc làm ở nông thôn. Vì vậy, họ thường tìm cách sử dụng những điều kiện vật chất vốn có để kết hợp với sức lao động, tạo ra sản phẩm và thu nhập. Chính vì vậy, cùng một điều kiện về vốn, kinh tế hộ nông dân có ưu thế hơn trong việc phát triển các ngành nghề tạo công ăn việc làm trong điều kiện hiện nay. Thứ ba: kinh tế hộ nông dân có khả năng tự điều chỉnh rất cao.
Do có chung một cơ sở kinh tế, chung ngân sách gia đình, nên mọi thành viên trong gia đình đều chịu trách nhiệm và có lợi ích chung về kết quả cuối cùng, cũng như cùng chịu chung những thiệt hại về mùa màng do thiên tai, sâu bệnh hay những rủi ro trong tiêu thụ sản phẩm… việc điều chỉnh giữa tích luỹ, tiêu dùng đầu tư phát triển sản xuất thường được quyết định theo các mục tiêu của hộ, có khi dành cả một phần sản phẩm chủ yếu đầu tư cho sản xuất, song cũng có khi không đặt mục tiêu lợi nhuận lên hàng đầu. Tính cơ động này làm cho kinh tế hộ nông dân có khả năng thích ứng nhất định với sự thay đổi đầu vào, đầu ra của quá trình sản xuất. Do là đơn vị sản xuất gọn nhẹ, linh hoạt, lại làm chủ hoàn toàn quá trình sản xuất nên kinh tế hộ nông dân có khả năng thích nghi với cơ chế thị trường, tạo ra sức cạnh tranh trong sản xuất - kinh doanh Nông nghiệp. Thứ tư: kinh tế hộ nông dân là một đơn vị tự tạo nguồn lao động không chỉ tái sản xuất sức lao động mà còn tái sản xuất ra lao động kế tiếp từ thế hệ 7 này sang thế hệ khác.
Những kinh nghiệm sản xuất, những kỹ năng lao động, thậm chí cả tình yêu đối với ruộng đồng được tô luyện hàng ngày trong các hộ nông dân cho các nông gia tương lai. Thứ năm: kinh tế hộ nông dân tuy là một đơn vị kinh tế độc lập nhưng không đối lập với kinh tế hợp tác và kinh tế Nhà nước mà lại có tính chất mềm dẻo, có khả năng tồn tại với nhiều hình thức sở hữu khác nhau thông qua các hoạt động kinh tế đa dạng. Chính sự phát triển của kinh tế hộ nông dân đã làm nảy sinh nhu cầu liên doanh liên kết với nhau, hình thành các tổ chức kinh tế hợp tác, liên kết với kinh tế Nhà nước để làm tăng năng lực của mình. Thứ sáu: do có sự thống nhất giữa lao động quản lý và lao động sản xuất, nên kinh tế hộ nông dân giảm được tối đa chi phí quản lý và vì lao động tự giác nên không những nâng cao hiệu quả sản xuất.
Với những đặc trưng trên, kinh tế hộ nông dân chính là một hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh nông nghiệp tất yếu phù hợp với đặc điểm của sản xuất Nông nghiệp, đặc biệt phù hợp với các nước đang phát triển. Vai trò tự chủ của kinh tế hộ nông dân và nhu cầu hợp tác Kinh tế hộ nông dân là một đơn vị kinh tế tự chủ tức là hộ gia đình nông dân có quyền làm chủ trên cả 3 mặt: sở hữu, quản lý và phân phối. Chính sự thống nhất biện chứng giữa quan hệ sở hữu, quan hệ quản lý và quan hệ phân phối trong kinh tế hộ nông dân đã làm cho kinh tế hộ nông dân thực hiện được vai trò tự chủ của mình, thể hiện trên các phương diện: tự xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh, tự chịu trách nhiệm về lỗ - lãi, tự quyết định chuyển dịch cơ chế đầu tư cơ cấu sản xuất, tự quyết định việc liên kết liên doanh. Giữa vai trò tự chủ của kinh tế hộ nông dân và nhu cầu hợp tác có mối quan hệ biện chứng.
Sự phát triển của kinh tế hộ nông dân không loại trừ, mà chính là điều kiện, tiền đề cho sự ra đời các hình thức hợp tác. Kinh tế hộ nông dân trong quá trình phát triển, đặc biệt là phát triển lên sản xuất hành hoá đòi hỏi phải có sự liên doanh, liên kết hợp tác để khắc phục những hạn chế của chính mình.