MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết Nông nghiệp nông thôn luôn là vấn đề trọng yếu của mỗi quốc gia, kể cả những nước đã đạt trình độ phát triển cao. Nó là một trong những hai ngành sản xuất vật chất quan trọng của nền kinh tế, là khu vực sản xuất chủ yếu, đảm bảo việc làm và đời sống xã hội, là thị trường rộng lớn cung cấp nguyên liệu và tiêu thụ sản phẩm của nền kinh tế, là nguồn nhân lực và tích lũy cho công nghiệp. Nó càng trở nên quan trọng đối với một quốc gia với gần 80% dân số sống ở nông thôn và gần 70% lao động làm việc trong các ngành thuộc lĩnh vực nông nghiệp như đất nước Việt Nam (Nguyễn Thị Châu, 2011).[5] Có thể khẳng định trong quá trình phát triển nông nghiệp nông thôn, kinh tế hộ gia đình giữ vai trò quan trọng không thể thiếu.
Nó là đơn vị kinh tế đặc thù và phù hợp với thực trạng phát triển sản xuất nông nghiệp ở nước ta hiện nay. Trong những năm qua, cùng với sự chuyển đổi mạnh mẽ về cơ cấu tổ chức quản lý kinh tế của Nhà nước, kinh tế hộ được coi trọng và nó đã thúc đẩy sự phát triển của ngành nông nghiệp nước ta, đưa nước ta từ chỗ thiếu lương thực thực phẩm trở thành nước có khối lượng gạo xuất khẩu đứng thứ hai trên thế giới. Mặc dù trong những năm qua kinh tế hộ đã đạt được những thành tựu to lớn như: Đưa giống cây trồng, vật nuôi có năng suất và chất lượng cao vào sản xuất, cơ sở hạ tầng phục vụ cho sản xuất nông nghiệp đã từng bước được cải thiện, nâng cấp cùng với các chính sách đầu tư ưu đãi của Đảng và Nhà nước. Tuy nhiên trong sản xuất nông nghiệp, kinh tế hộ nông dân vẫn còn nhiều mặt tồn tại: Sản xuất trong kinh tế hộ hiện nay chủ yếu là hoạt động sản xuất nông nghiệp, sản xuất theo hướng hàng hóa chưa phát triển mạnh, nó còn mang nặng tính tự cung tự cấp, hộ sản xuất thuần nông vẫn còn chiếm tỷ lệ cao trong cơ cấu nông nghiệp nông thôn yêu cầu ứng dụng khoa học, kỹ thuật vào sản xuất bị kìm hãm bởi diện tích đất manh mún, quy mô nhỏ do kết quả của việc chia đất bình quân.
Mâu thuẫn giữa tăng dân số và thiếu việc làm, kết hợp với tính thời vụ trong nông nghiệp tạo ra hiện tượng dư thừa lao động, dẫn đến năng suất lao động bình quân thấp. Tình trạng thiếu kiến thức, thiếu vốn đầu tư đang là tình trạng chung của các hộ gia đình nên khi có chính sách cho vay vốn hộ cũng không biết sử dụng sao cho có hiệu quả. Sản xuất nông nghiệp vẫn còn tình trạng lấy công làm lãi, năng suất vật nuôi cây trồng còn thấp và nhiều tiềm năng n 2 chưa được tận dụng triệt để, mức sống của người dân chưa cao. Đó là vấn đề đặt ra cần phải nghiên cứu và giải quyết trong thời điểm hiện nay.
Hùng Quốc là một thị trấn miền núi, biên giới thuộc huyện Trà Lĩnh, tỉnh Cao Bằng. Người dân nơi đây chủ yếu sống phụ thuộc vào nông nghiệp. Thị trấn có những điều kiện thuận lợi để phát triển nông nghiệp, tuy nhiên bên cạnh đó cũng có những khó khăn cần được giải quyết, để cuộc sống của người dân ấm no hơn. Để thấy được những thuận lợi, khó khăn trong việc phát triển kinh tế nông nghiệp tại địa phương tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu thực trạng và đề xuất một số giải pháp chủ yếu để phát triển kinh tế nông hộ của Thị trấn Hùng Quốc - huyện Trà Lĩnh - tỉnh Cao Bằng”.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 1. Mục tiêu nghiên cứu chung Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng phát triển kinh tế hộ nông dân thị trấn Hùng Quốc, đề xuất một số giải pháp chủ yếu, hữu hiệu nhằm thúc đẩy kinh tế nông hộ trong thị trấn phát triển. Mục tiêu cụ thể - Góp phần hệ thống hóa và làm rõ một số vấn đề lý luận về kinh tế nông hộ. - Đánh giá thực trạng phát triển kinh tế hộ nông dân và những nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế hộ nông dân.
- Đánh giá những thuận lợi, khó khăn trong quá trình phát triển kinh tế hộ của nông dân. - Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển kinh tế hộ trong thời gian tới của thị trấn. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học - Giúp cho sinh viên hiểu biết thêm về địa phương mình, các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển nông nghiệp tại địa phương.
- Có một cái nhìn tổng quát hơn về thực trạng sản xuất nông nghiệp trong thị trấn, từ đó đưa ra những giải pháp thiết thực góp phần phát triển kinh tế nông nghiệp của thị trấn. - Nâng cao năng lực, rèn luyện kỹ năng và phương pháp nghiên cứu khoa học cho sinh viên trước khi ra trường. Ý nghĩa thực tiễn Kết quả của đề tài là cơ sở để các nhà quản lý, các cấp lãnh đạo địa phương đưa ra những giải pháp phù hợp nhằm phát triển kinh tế nông nghiệp, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân tại thị trấn Hùng Quốc nói riêng và người dân nông thôn nói chung. Đề tài được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho địa phương trong quá trình phát triển kinh tế nông nghiệp trong thời gian tới.
n 4 PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở lý luận của đề tài 2. Một số khái niệm 2. Khái niệm về hộ Hộ là một tổ chức kinh tế - xã hội ra đời từ rất lâu, trải qua các giai đoạn phát triển khác nhau của xã hội cho tới nay nó vẫn tồn tại và phát triển.
Trong từng giai đoạn, hình thái kinh tế - xã hội khác nhau, hộ luôn là đối tượng thu hút sự quan tâm nghiên cứu của các nhà khoa học, tổ chức trên thế giới. Theo từ điển chuyên ngành kinh tế và từ điển ngôn ngữ: “Hộ là những người sống chung dưới một mái nhà, cùng ăn chung và cùng có chung ngân quỹ. Nhóm người đó bao gồm những người cùng chung huyết tộc và những nguời làm công”. Hộ là “đơn vị cơ bản, trong đó sản xuất kinh tế, tiêu thụ, thừa kế, nuôi con và nơi cư trú ẩn được tổ chức và thực hiện”; “Có thể có hoặc không có thể đồng nghĩa với gia đình”.Gee: “Hộ là một nhóm người cùng chung khuyết tộc, hay không cùng chung huyết tộc, ở chung một mái nhà, ăn chung một mâm cơm và có chung một ngân quỹ”.
Có thể nói trải qua mỗi thời kỳ khác nhau hộ và kinh tế hộ được biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, song vẫn có bản chất chung là: Sự hoạt động sản xuất kinh doanh của các thành viên trong gia đình, cố gắng làm sao tạo ra nhiều của cải vật chất để nuôi sống và tăng thêm tích lũy cho gia đình và xã hội. Khái niệm về hộ nông dân Tác giả Frack Ellis định nghĩa như sau: “Hộ nông dân là các hộ gia đình làm nông nghiệp, tự khiếm sinh nhai trên những mảnh đất của mình, sử dụng chủ yếu sức lao động của gia đình để sản xuất thường năm trong hệ thống kinh tế lớn hơn. Nhưng chủ yếu đặc trưng bằng sự tham gia cục bộ và các thị trường và có xu hướng hoạt động với mức độ không hoàn hảo cao”. Nhà khoa học Traiianop cho rằng: Hộ nông dân là đơn vị sản xuất rất ổn định và ông coi hộ nông dân là đơn vị tuyệt vời để tăng trưởng phát triển nông nghiệp.
Ở Việt Nam, theo nhà khoa học Lê Đình Thắng (1993) cho rằng: “Nông hộ là tế bào kinh tế, xã hội, là hình thức kinh tế cơ sở trong nông nghiệp và nông thôn”. n 5 Theo Đào Thế Tuấn (1997): “Hộ nông dân là những hộ chủ yếu hoạt động nông nghiệp và theo nghĩa rộng bao gồm cả nghề rừng, nghề cá và cả những hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn”. [4] Vì vậy nông hộ có những đặc điểm sau: - Phương tiện kiếm sống chủ yếu là từ ruộng đất. - Sử dụng lao động của gia đình là chủ yếu.
- Hoạt động của nông hộ bao gồm cả hoạt động nông nghiệp và phi nông nghiệp. Khái niệm về kinh tế hộ nông dân Theo “Kinh tế hộ nông dân” (2000) của TS.Đỗ Văn Viện và Th.s Đặng Văn Tiến thì: “Kinh tế hộ nông dân là hình thức tổ chức kinh tế cơ sở của nền sản xuất xã hội. Trong đó các nguồn lực sản xuất như đất đai, lao động, tiền vốn là tư liệu sản xuất được coi là của chung để tiến hành sản xuất, có chung ngân quỹ, ngủ chung một nhà, ăn chung, mọi quyết định trong sản xuất kinh doanh là tùy thuộc vào chủ hộ. Được nhà nước thừa nhận, hỗ trợ và tạo điều kiện để phát triển”.S - TS Trần Đình Đằng: “Kinh tế hộ nông dân là một hình thức kinh tế cơ bản và tự chủ trong nông nghiệp, được hình thành và tồn tại khách quan lâu dài dựa trên cơ sở sức lao động, đất đai và tư liệu sản xuất khác của gia đình mình là chính”.
Theo “ Kinh tế nông hộ và trang trại’’ của ông Đỗ Trung Hiếu thì: “kinh tế hộ nông dân là hình thức tổ chức kinh tế cơ sở của của nền sản xuất xã hội, trong đó nguồn lực như đất đai, tiền vốn và tư liệu sản xuất được coi là của chung để tiến hành sản xuất. Có chung ngân quỹ, ngủ chung một nhà, ăn chung; mọi quyết định trong sản xuất – kinh doanh và đời sống là tùy thuộc vào chủ hộ, được nhà nước thừa nhận, hỗ trợ và tạo điều kiện phát triển”. Đặc trưng của kinh tế hộ nông dân.[3] - Có sự thống nhất chặt chẽ giữa quyền lợi sở hữu với quá trình quản lý và sử dụng các yếu tố sản xuất. Sở hữu trong nông hộ là sản xuất chung, nghĩa là mọi thành viên trong nông hộ đều có quyền sở hữu với những tư liệu sản xuất vốn có, cũng như những tài sản khác của hộ.
Mặc khác do dựa trên cơ sở kinh tế chung và cùng nhau chung một ngân quỹ nên mọi người trong hộ đều có ý thức trách nhiệm n 6 rất cao và việc bố trí, sắp xếp công việc trong hộ cũng rất linh hoạt, hợp lý. Từ đó hiệu quả sử dụng lao động trong kinh tế nông hộ rất cao. - Lao động quản lý và lao động trực tiếp có sự gắn bó chặt chẽ.