Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1. Một số vấn đề liên quan về tích tụ ruộng đất Theo lý luận về sản xuất tư bản của C.Mác “Quá trình qui mô tư bản tăng lên được thực hiện bằng hai phương thức là tích tụ tư bản và tập trung tư bản” (Hoàng Thị Thu Huyền, 2015). Hai phương thức này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, cả hai đều tạo điều kiện và thúc đẩy lẫn nhau. Tích tụ tư bản là bằng nhiều hình thức khác nhau tích tụ đủ vốn trong một đơn vị kinh doanh cụ thể để thực hiện được các hoạt động mở rộng quy mô sản xuất, thay đổi bắt kịp các công nghệ mới áp dụng vào sản xuất, cũng như đổi mới các trang thiết bị, tận dụng các lợi thế kinh doanh theo vĩ mô.
Tích tụ ruộng đất có thể coi là một dạng tích tụ tư bản dưới hình thức hiện vật trong NN (Hoàng Thị Thu Huyền, 2015). Quá trình tích tụ tư bản với đất đai là tư liệu sản xuất chính để mở rộng sản xuất và phát huy lợi thế kinh tế theo quy mô. Tích tụ ruộng đất thực hiện trên thị trường đất đai. Đặc biệt tích tụ ruộng đất khác với dồn điền đổi thửa do trong quá trình sản xuất kinh doanh để đáp ứng được nhu cầu sản xuất kinh doanh hay mở rộng quy mô chủ đầu tư mua hoặc thuê lại quyền sử dụng đất với nguyên tắc “thuận mua vừa bán” hay chủ doanh nghiệp, chủ đầu tư trả bằng địa tô cho người cho thuê đất.
Dồn điền đổi thửa chỉ có tác dụng mở rộng qui mô của một thửa đất và giảm số thửa đất của hộ, khiến họ quản lý sản xuất thuận lợi và có hiệu quả cao hơn mà không làm tăng qui mô ruộng đất của hộ (Kim Văn Chinh, 2012). Nói chung có nhiều cách tiếp cận và quan điểm về tích tụ khác nhau, nhưng tất cả đều có những điểm chung là: 1) Tích tụ ruộng đất khắc phục được tình trạng manh mún đất đai khi tăng quy mô diện tích canh tác của hộ gia đình; 2) Hoạt động tích tụ không thể tách rời với thị trường đất đai mà cụ thể bao gồm thị trường chuyển nhượng quyền sử dụng đất và thị trường thuê đất; 6 3) Mục đích chung của các công tác dồn điền đổi thửa và tích tụ đất đai đều là nhằm giảm manh mún diện tích đất, nhưng bên cạnh đó tích tụ ruộng đất sẽ gắn với sự phân tầng về diện tích đất và mức sống của người dân khu vực nông thôn một cách trực tiếp. - Do đất đai là yếu tố, tư liệu sản xuất rất đặc biệt và không thể thay thế được cũng như có giới hạn nhất định, đất đai ở từng vùng sẽ có tính chất và đặc điểm sinh học khác nhau. Các yếu tố này sẽ được xem xét trong quá trình tích tụ đất đai trong NN, khó có thể tận dụng kinh tế theo quy mô.
Khác với tích tụ đất NN, khi tích tụ tư bản trong công nghiệp gần như sẽ không bị giới hạn bởi các yếu tố trên, từ đó hình thành các khu, các tập đoàn kinh tế ngày một lớn hơn trên phạm vi toàn cầu, tận dụng được tối đa lợi thế kinh tế theo quy mô. - Để tích tụ ruộng đất điều kiện liên quan đến hành lang pháp lý và hoạt động của thị trường đất đai là chủ yếu. - Hình thức liên kết, hợp tác giữa các chủ thể sở hữu để hình thành nên quy mô canh tác lớn hơn mà không làm thay đổi tình trạng sở hữu không được xem là tích tụ ruộng đất. Đối với đề tài này thì “Tích tụ ruộng đất được hiểu là sự tăng quy mô ruộng đất của một đơn vị sản xuất (nông hộ) theo thời gian”.
Theo quy định của luật đất đai 2003 và luật đất đai hiện hành 2013, hạn điền là 3 ha đối với đất trồng cây hàng năm, thì hộ canh tác lúa được coi là có tích tụ ruộng đất nếu có diện tích đất lúa tăng lên đến trên 3 ha ở thời điểm khảo sát hiện tại so với thời điểm khảo sát trước (Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, 2003; 2013). Tích tụ ruộng đất ở cấp độ nông hộ bao gồm nguồn (khai hoang, thừa kế, mua, thuê, nhận cầm cố) để tạo ra quy mô lớn để phục vụ cho mục đích sản xuất NN. Hành vi tích đất trên khác với hành vi đầu cơ tích tụ ruộng đất để thu lợi nhuận từ chênh lệch giá. Tích tụ ruộng đất và phân hóa ở nông thôn Hiện nay các nước đang phát triển đang nghiên cứu về phân phối thu nhập thì khoảng cách thu nhập đang ngày một gia tăng giữa khu vực nông thôn và thành thị hoặc ở ngay khu vực nông thôn.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, khu vực Châu Mỹ La Tinh có hệ số Gini cao nhất và phản ánh mức độ bất bình đẳng về thu nhập là lớn 7 nhất (Kim Văn Chinh, 2012). Một trong những lý do là ảnh hưởng của việc phân bổ đất và ngày càng có nhiều người bị mất đất. Như vậy, những nghiên cứu về đất đai trong NN và các vấn đề liên quan ở trên cho thấy: 1) Để có thể quyết định đầu tư hay mở rộng sản xuất người dân quan tâm đến quyền sở hữu và sử dụng đất đai của mình trên mảnh đất đó. Hình thức sở hữu không phải là vấn đề mà người dân quan tâm, mà điều quan trọng hơn cả là người dân có quyền như thế nào, thời hạn được sử dụng bao lâu đối với đất đai thuộc quyền sở hữu của mình.
2) Tích tụ ruộng đất để có quy mô lớn có thể là giải pháp cho tăng trưởng NN. 3) Quá trình tích tụ ruộng đất gắn với phát triển thị trường đất đai và giải quyết những vấn đề xã hội dẫn đến bất bình đẳng về thu nhập, mất đất, nghèo khó, thất nghiệp… 1. Các lý thuyết liên quan đến tích tụ ruộng đất Ricardo đã chỉ ra quy luật lợi tức giảm dần trong NN do đất đai là yếu tố sản xuất cố định. Theo Ricardo, để tăng quy mô sản xuất con người làm cho chất lượng đất ngày càng xấu đi, điều đó sẽ làm cho người nông dân thêm các chi phí để cải tạo đất làm cho chi phí sản xuất ngày càng tăng.
Những dự báo của Ricardo và cách giải quyết các lao động dư thừa trong xã hội nông thôn của các nhà kinh tế cổ điển khác chưa nêu được vai trò của khoa học công nghệ mới áp dụng vào trong quá trình sử dụng quỹ đất là động lực để đi đến các cuộc cách mạng năng lượng NN. Tuy nhiên, các triết lý và dự báo đó cũng đã cho thấy rằng nếu muốn đảm bảo nền an ninh lương thực và có thể duy trì các mục tiêu trong phát triển NN thì việc duy trì ổn định việc sử dụng khai thác quỹ đất (Nguyễn Đình Kháng - Nguyễn Văn Phúc, 2000). Theo Todaro thì phát triển NN trải qua ba giai đoạn tuần tự từ thấp đến cao, đó là từ nền NN tự cấp tự túc sang giai đoạn chuyển dịch cơ cấu NN theo hướng đa dạng hóa và tiến tới nền NN hiện đại. Giai đoạn đầu, hầu như các sản phẩm sản xuất ra được dùng nội bộ trong khu vực NN; sản phẩm chưa đa dạng, chủ yếu là các loại cây lương thực và một số con vật nuôi truyền thống; công cụ sản xuất thô sơ, phương pháp sản xuất truyền thống chủ yếu là độc canh; đất, lao động là những yếu tố sản xuất chủ yếu, đầu tư vốn còn thấp nên lợi nhuận giảm dần khi sản xuất mở rộng trên 8 diện tích đất không màu mỡ.
Giai đoạn chuyển dịch cơ cấu theo hướng đa dạng hóa, từ sản xuất tự cấp tự túc sang chuyên môn hoá. Đặc trưng cơ bản của giai đoạn này là cơ cấu cây trồng, vật nuôi phát triển theo hướng hỗn hợp và đa dạng, sử dụng giống mới kết hợp với phân bón hóa học và tưới tiêu làm tăng năng suất NN; sản lượng lương thực tăng đồng thời tiết kiệm được diện tích đất sản xuất và sản xuất hướng tới thị trường. Giai đoạn phát triển cao nhất của NN đó là một nền NN hiện đại. Đặc điểm cơ bản trong giai đoạn này là các trang trại được chuyên môn hóa, sản xuất được cung ứng hoàn toàn cho thị trường và lợi nhuận thương mại là mục tiêu của người sản xuất; yếu tố vốn và công nghệ trở thành các yếu tố quyết định đối với việc tăng sản lượng NN; dựa vào lợi thế về quy mô, áp dụng tối đa công nghệ mới, hướng vào sản xuất một vài loại sản phẩm chuyên biệt (Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam, năm 1998) Lý thuyết lợi thế theo quy mô - Economies of scale (David Beg, 2005) được đưa vào sử dụng trong NN để làm rõ các vấn đề liên quan đến năng suất, hiệu quả của sản xuất mang lại.
Mặc dù lý thuyết này không xuất phát từ NN. Có những yếu tố mà khi mở rộng quy mô sản xuất thì chi phí bình quân theo đơn vị giảm xuống, trong khi quy mô đầu ra được tăng lên. Các nguồn lực trong quá trình sản xuất, quy luật sinh ra lợi nhuận, năng suất biên, lợi nhuận biên, tối đa hóa lợi nhuận, tối thiểu hóa chi phí, tỷ lệ biên thay thế sản xuất, thị trường, giá cả nông sản…Đây đều là các yếu tố trong lý thuyết sản xuất nói chung đã được đề cập đến trong sản xuất NN. Tuy nhiên, trong sản xuất NN cũng có những điểm riêng biệt của mình; Đất đai vừa được coi là tư liệu lao động vừa là đối tượng lao động không thể thay thế được, ngoài ra còn các yếu tố khác như nguồn lực SXNN bao gồm tài nguyên thiên nhiên, môi trường tự nhiên đa dạng sinh học….
Lao động NN có tính thời vụ và chất lượng lao động NN thường thấp hơn các ngành công nghiệp và dịch vụ. Vốn đầu tư trong NN cũng mang tính thời điểm, tốc độ thu hồi vốn chậm và có tính rủi ro cao. Phát triển công nghệ sinh học là trung tâm của khoa học công nghệ trong NN, nó tạo ra giống phù hợp, giảm nguy cơ sâu bệnh, tham gia chế biến nông phẩm…(Nguyễn Đình Kháng - Nguyễn Văn Phúc, 2000). 9 Trong sản xuất NN, xác định hiệu quả kinh tế không đơn thuần là lợi nhuận mà nó còn phải đạt hiệu quả phân phối và hiệu quả kỹ thuật.