Chương 1: Giới thiệu Trình bày lý do lựa chọn nghiên cứu đề tài, mô tả về mục tiêu mà nghiên cứu hướng đến, cụ thể hóa mục tiêu bằng các câu hỏi nghiên cứu, giới hạn lại đối tượng và phạm vi nghiên cứu, cũng như trình bày tóm tắt về kết cấu của luận văn. 5 Chương 2: Cơ sở lý thuyết Trình bài các khái niệm chính trong nghiên cứu như nông hộ, khái niệm về hiệu quả kinh tế, lược khảo về các lý thuyết vận dụng trong nghiên cứu và lược khảo các nghiên cứu trước có liên quan đến đề tài để có cách tiếp cận giải quyết vấn đề đã đặt ra. Phương pháp nghiên cứu Trình bày về quy trình thực hiện nghiên cứu, trọng tâm là xây dựng giả thuyết nghiên cứu và đề xuất mô hình nghiên cứu, phương pháp đo lường biến phụ thuộc và các biến độc lập trong mô hình và kỳ vọng dấu. Chương 3 cũng trình bày về cách thu thập dữ liệu, quy mô của dữ liệu nghiên cứu và phương pháp phân tích dữ liệu để giải quyết vấn đề nghiên cứu.
Kết quả nghiên cứu Trình bày bày tổng quan về địa bàn nghiên cứu, trong đó có tình hình trồng mít của nông hộ trong những năm gần đây. Kết quả phân tích, ước lượng mô hình nghiên cứu sẽ được thảo luận cụ thể trong Chương 4. Kết luận và hàm ý chính sách Trình bày tóm tắt những kết luận chính mà nghiên cứu đã rút ra, trên cơ sở kết quả nghiên cứu đúc kết được, đề xuất các nhóm hàm ý chính sách nhằm giúp nông hộ cải thiện, nâng cao hiệu quả kinh tế trồng mít. Những hạn chế của nghiên cứu và hướng nghiên cứu tiếp theo cũng sẽ được trình bày trong Chương 5 này.
6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT Nội dung trọng tâm của Chương 2 trình bày các khái niệm chính sử dụng trong nghiên cứu, các lý thuyết được vận dụng trong nghiên cứu cũng như lược khảo các nghiên cứu trước để có hướng tiếp cận, xác định các yếu tố có ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế của nông hộ trồng mít. Nông hộ Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Thoa (2015) đã chỉ ra nông dân khác với doanh nghiệp do doanh nghiệp hoạt động với phương châm đạt được mục tiêu lợi nhuận, trong khi đó nông dân xem sản xuất nông nghiệp là phương thức mưu sinh, gắn liền với lối sống của họ ở vùng nông thôn. Người nông dân là thành phần gắn liền với với gia đình và gia đình hộ nông dân có thể xem đó là một đơn vị kinh tế độc lập. Do đó, nông hộ được hiểu là hộ gia đình nông dân, nông hộ được xác định là một đơn vị kinh tế cơ sở, nông hộ vừa có chức năng là một đơn vị sản xuất, đồng thời cũng vừa là một đơn vị tiêu dùng.
Bên cạnh đó, nông hộ được xem là hạt nhân của hệ thống xã hội ở vùng nông thôn do khu vực nông thôn chủ yếu là các hoạt động trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp nên tỷ trọng nông hộ rất cao. Hiệu quả kinh tế Dựa trên nghiên cứu của Farrell (1957), nhóm tác giả Nguyễn Văn Tiển & Phạm Lê Thông (2014) cho rằng hiệu quả kỹ thuật (Technical Efficiency - TE) là khái niệm phản ánh khả năng mà một đơn vị sản xuất có thể sản xuất ra một lượng đầu ra được cho trước từ một tập hợp các yếu tố đầu vào bé nhất, hay nói cách khác, TE là việc tương ứng với một trình độ công nghệ nhất định cho trước, TE chính là khả năng của việc tạo ra một mức đầu ra tối đa từ việc kết hợp một lượng đầu vào cho trước. Hiệu quả phân phối (Alocative Efficiency - AE) là khả năng đơn vị sản xuất xác định được một lượng đầu vào tối ưu mà ở đó giá trị sản phẩm biên của đơn vị đầu vào cuối cùng trong khâu sản xuất bằng với giá của đầu vào của đơn vị đó. Hiệu quả kinh tế (Economic Efficiency - EE) là thước đo tổng hợp của nhà sản xuất trong quá trình hoạt 7 động sản xuất kinh doanh, là sự kết hợp một cách hiệu quả giữa TE và AE trong quá trình sản xuất kinh doanh.
Còn theo Đoàn Hoài Nhân & Đỗ Văn Xê (2016), hiệu quả sản xuất là khả năng của nhà sản xuất tạo ra được một lượng đầu ra cho trước trong điều kiện nhà sản xuất sử dụng chi phí thấp nhất. Do đó, tỷ số giữa khoảng chi phí thấp nhất và khoảng chi phí thực tế để nhà sản xuất tạo ra lượng đầu ra cho trước được xem là hiệu quả sản xuất (Farrell, 1957). Hiệu quả này được đo lường thông qua ba chỉ tiêu gồm: TE, AE và cuối cùng là hiệu quả chi phí. Trong khi đó, nghiên cứu của Đặng Tường Anh Thư et al.
(2022) đã chỉ ra, hiệu quả kinh tế chính là thước đo kết quả tổng hợp của quá trình sản xuất của nhà sản xuất, được tổng hợp từ TE và AE của nhà sản xuất. Cụ thể, TE là khả năng mà nhà sản xuất kết hợp những đầu vào nhỏ nhất, cũng có nghĩa là sử dụng ít nhất lượng đầu vào để sản xuất ra một lượng đầu ra cho trước, hiệu quả sản xuất chính là khả năng nhà sản xuất có thể tạo ra một lượng đầu ra nhiều nhất từ một lượng đầu vào cho trước khi sử dụng một trình độ khoa học sản xuất nhất định. Trong khi đó, hiệu quả phân phối là việc nhà sản xuất sản xuất ra những sản phẩm mà chúng có giá trị sản phẩm biên bằng với giá trị của đầu vào, tức là nhà sản xuất đạt AE khi lựa chọn được mức đầu vào tối ưu (Farrell, 1957). Trên cơ sở tổng quan các nghiên cứu của Đặng Tường Anh Thư et al.
(2022), Đoàn Hoài Nhân & Đỗ Văn Xê (2016), Nguyễn Văn Tiển & Phạm Lê Thông (2014), trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, khái niệm hiệu quả kinh tế trồng mít của nông hộ được xác định cũng dựa trên nghiên cứu của Farrell (1957), chính là kết quả tổng hợp từ TE trồng mít và AE trồng mít. Những hộ trồng mít nếu thu được nhiều lợi nhuận hơn ứng với những lượng đầu ra và giá đầu vào cho trước sẽ được cho là có hiệu quả kinh tế cao hơn nhà sản xuất khác (Nguyễn Văn Tiển & Phạm Lê Thông, 2014). CÁC LÝ THUYẾT CÓ LIÊN QUAN 8 2. Lý thuyết hàm sản xuất Theo nghiên cứu của David Colman (1994), hàm sản xuất là một hàm số được xây dựng để thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố sản xuất đầu vào dựa trên một mức trình độ công nghệ nhằm tối đa hóa mức sản lượng đầu ra của một đơn vị sản xuất.
Hàm sản xuất thường được mô tả có dạng: Q = f(X1, X2, X3 …Xn). Trong đó: Q là mức sản lượng đầu ra mà một đơn vị sản xuất làm ra, được kỳ vọng là mức tối ưu nếu kết hợp hiệu quả các yếu tố đầu vào X1, X2, X3 …Xn là các yếu tố nguyên liệu đầu vào phục vụ cho quá trình sản xuất Trong trường hợp phổ biến, đầu vào nếu chỉ được giả định bao gồm vốn (viết tắt là K) và lao động (viết tắt là L) thì hàm sản xuất được viết lại dưới dạng đơn giản hơn, chỉ bao gồm 2 yếu tố đầu vào: Q= f (K,L) Hàm sản xuất dạng đơn giản, thường được sử dụng là dạng hàm Cobb-Douglas: Q = f (K,L) = a.Lβ Trong đó: α là hệ số co giản của sản lượng theo vốn β là hệ số co giản của sản lượng theo lao động a là hằng số hoặc hệ số chặn Luận văn vận dụng hàm sản xuất để xây dựng mô hình mô hình nghiên cứu, để có cơ sở xác định các yếu tố đầu vào trong quá trình sản xuất mít. Việc kết hợp các yếu tố đầu vào phù hợp như phân bón, lượng thuốc bảo vệ thực vật, nước tưới, cây giống, đất đai, công lao động… sẽ cho ra sản lượng mít cao, từ đó tác động tích cực, giúp cải thiện nâng cao hiệu quả kinh tế trồng mít của nông hộ. Lý thuyết hàm lợi nhuận Lợi nhuận được hiểu là phần chênh lệch giữa tổng doanh thu thu được với chi phí phải bỏ ra để đạt được mức doanh thu (David Colman, 1994).
Theo đó, giá trị lợi nhuận trong quá trình sản xuất được thể hiện qua công thức sau: Lợi nhuận = Doanh thu – Chi phí π = TR –TC * Điều kiện tối đa hóa lợi nhuận: π = TR-TC => max Hình 2.1: Mô hình tối đa hóa lợi nhuận Nguồn: David Colman (1994) * Điều kiện cần: MR = MC * Điều kiện đủ: + Nếu MR>MC thì tăng Q sẽ tăng π + Nếu MR<MC thì giảm Q sẽ tăng π + Nếu MR=MC thì Q là tối ưu Q*, π max 10 Các nhà sản xuất, các doanh nghiệp sẽ tiếp tục tăng sản lượng sản xuất ra đến khi doanh thu biên của nhà sản suất còn lớn hơn mức chi phí biên mà nhà sản xuất, doanh nghiệp phải bỏ ra (MR>MC). Nhà sản xuất chỉ dừng sản xuất ra đầu ra khi mức doanh thu biên bằng với mức chi phí biên tức là MR=MC. Tại đây nhà sản xuất xác định được mức sản lượng tối ưu nhằm giúp cho họ tối đa hóa lợi nhuận thu được từ quá trình sản xuất kinh doanh (π Max). Lý thuyết hàm lợi nhuận được vận dụng để xác định hiệu quả kinh tế trồng mít của nông hộ.
Những nông hộ trồng mít nếu thu hoạch sản lượng cao, bán được giá cao thì doanh thu sẽ cao. Tuy nhiên, còn kết hợp với việc lựa chọn các đầu vào, cắt giảm chi phí đầu vào thì mới dẫn đến lợi nhuận cao. Trong phạm vi đề tài, tỷ suất của lợi nhuận và chi phí được lựa chọn là thước đo đo lường hiệu quả kinh tế của việc trồng mít của nông hộ ở Tiền Giang (Nguyễn Quốc Nghi et al., 2009; Nguyễn Thùy Trang et al., 2018; Đặng Tường Anh Thư et al. CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 2.
Nghiên cứu trong nước Mục tiêu của của Nguyễn Quốc Nghi et al. (2009) là phân tích hiệu quả sản xuất mía nguyên liệu tại tỉnh Hậu Giang. Dữ liệu nghiên cứu bao gồm 120 nông hộ. Các chỉ tiêu như doanh thu, chi phí, lợi nhuận được xác định để phân tích.
Dựa trên phương pháp thống kê mô tả, so sánh giá trị trung bình, nhóm tác giả Nguyễn Quốc Nghi et al. (2009) đã so sánh năng suất, lợi nhuận của việc trồng mía giữa các vùng ở tỉnh Hậu Giang.