Tổng quan luận án
Luận án phó tiến sĩ khoa học triết học của nghiên cứu sinh Nguyễn Trọng Tuấn, chuyên ngành Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử (mã số 5.01.02), được thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội năm 1996, dưới sự hướng dẫn khoa học của Giáo sư, Tiến sĩ khoa học Triết học Nguyễn Duy Quý.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Nông nghiệp là ngành kinh tế chủ yếu của Việt Nam, giữ vai trò quyết định đối với sự ổn định chính trị, xã hội và củng cố an ninh quốc phòng. Trong các văn kiện chính thức, Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng xác định nhiệm vụ cơ bản là tập trung sức phát triển nông nghiệp, coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu và đưa nông nghiệp lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa; Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI tiếp tục khẳng định vị trí mặt trận hàng đầu của ngành này. Tuy nhiên, qua một thời gian dài tiến hành hợp tác hóa, sản xuất nông nghiệp không đạt được kết quả như mong muốn: năng suất lao động và sản lượng tăng chậm, tình trạng thiếu đói cục bộ ở một số thời điểm và địa phương chưa được giải quyết triệt để.
Thực tiễn chỉ bắt đầu chuyển biến khi Chỉ thị 100 và Nghị quyết Khoán 10 ra đời, tạo động lực kinh tế mới đưa sản lượng lương thực từ mức 17–18 triệu tấn/năm lên trên 27 triệu tấn quy thóc vào năm 1995, bảo đảm nhu cầu tiêu dùng trong nước và bước đầu phục vụ xuất khẩu. Kết quả này chứng minh rằng việc nhận thức và vận dụng quy luật quan hệ sản xuất (QHSX) phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất (LLSX) có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển kinh tế.
Khoảng trống nghiên cứu đặt ra là: quy luật QHSX phù hợp với trình độ phát triển của LLSX vốn là quy luật nền tảng chi phối mọi lĩnh vực đời sống xã hội, song việc áp dụng giản đơn, giáo điều trước đây là một trong những nguyên nhân đẩy nền kinh tế vào khủng hoảng. Trong bối cảnh chuyển sang nền kinh tế thị trường nhiều thành phần và đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, việc làm rõ những biểu hiện đặc thù và cơ chế tác động của quy luật này trong lĩnh vực nông nghiệp vẫn chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ và có hệ thống.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận án:
- Nghiên cứu những biểu hiện đặc thù của quy luật QHSX phù hợp với trình độ phát triển của LLSX trong lĩnh vực nông nghiệp nước ta thời kỳ đổi mới;
- Khẳng định tính đúng đắn trong đường lối đổi mới kinh tế của Đảng Cộng sản Việt Nam;
- Đề xuất một số phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy nông nghiệp phát triển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Nhiệm vụ nghiên cứu được đánh số và xác định cụ thể trong văn bản:
- Làm rõ nội dung lý luận của quy luật QHSX phù hợp với trình độ phát triển của LLSX;
- Phân tích các biểu hiện đặc thù và sự tác động của quy luật này trong lĩnh vực nông nghiệp ở Việt Nam thời kỳ đổi mới;
- Nêu ra phương hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy nền sản xuất nông nghiệp phát triển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và các biểu hiện đặc thù của quy luật trong lĩnh vực nông nghiệp.
- Phạm vi không gian và thời gian: Nghiên cứu thực tiễn nông nghiệp và nông thôn Việt Nam, tập trung vào giai đoạn từ khi thực hiện công cuộc đổi mới (từ sau Đại hội Đảng lần thứ VI năm 1986 đến năm 1995–1996), có đối chiếu và so sánh với thời kỳ hợp tác hóa nông nghiệp trước đổi mới.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu trước đây được điểm lại
Tác giả đã phân loại và điểm luận các công trình nghiên cứu lý luận và thực tiễn theo các nhóm tác giả:
- Các công trình kinh điển của Chủ nghĩa Mác – Lênin: Các luận điểm nền tảng trong bộ Tư bản luận cùng các bản thảo chuẩn bị cho bộ Tư bản của C. Mác; các tác phẩm của Ph. Ăng-ghen như Biện chứng tự nhiên, Chống Đuy-rinh, Nguồn gốc của gia đình, của sở hữu tư nhân và của Nhà nước; các tập trong Toàn tập của V.I. Lênin về phương thức sản xuất và tổ chức lao động xã hội.
- Các nghiên cứu của học giả Xô Viết: Covalinốp trong công trình Biện chứng của phương thức sản xuất ra đời sống xã hội; P. Gladunốp và các đồng nghiệp khi phân tích mối quan hệ giữa cái chung và cái đặc thù trong xây dựng chủ nghĩa xã hội và các đặc thù của sản xuất nông nghiệp.
- Các công trình nghiên cứu tại Việt Nam về thời kỳ quá độ và QHSX:
- Nguyễn Đức Bình với Về thời kỳ quá độ tiến lên CNXH bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa ở Việt Nam;
- Hồng Giao với Các hình thức kinh tế quá độ;
- Lê Xuân Tùng với Các thành phần kinh tế và cách mạng QHSX;
- Nguyễn Thanh Bình với Củng cố QHSX xã hội chủ nghĩa;
- Nguyễn Huy với Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn cách mạng QHSX;
- Đào Duy Huân với luận án phó tiến sĩ Củng cố và hoàn thiện QHSX xã hội chủ nghĩa trong nông nghiệp ở vùng đồng bằng sông Cửu Long (1988);
- Nguyễn Quang Hồng với luận án phó tiến sĩ Phát triển nông nghiệp theo định hướng XHCN trong thời kỳ quá độ ở Việt Nam (1988);
- Lê Cao Đoàn với luận án phó tiến sĩ Sự thống nhất của LLSX và QHSX và quá trình cải tiến nền nông nghiệp sản xuất nhỏ thành nền sản xuất lớn XHCN (1993);
- Hồ Văn Thông với các bài viết trên Tạp chí Cộng sản (số 2/1984 và số 2/1989) về quy luật QHSX phải phù hợp với trình độ và yêu cầu phát triển của LLSX ở nước ta.
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Tác giả chỉ ra rằng nhiều công trình trước đây mắc phải hạn chế do nhấn mạnh một chiều vai trò của QHSX xã hội chủ nghĩa, có khuynh hướng nóng vội, giản đơn, tách rời QHSX khỏi hiệu quả tăng trưởng của LLSX. Các nghiên cứu cũ chủ yếu tuyệt đối hóa quan hệ sở hữu tư liệu sản xuất mà chưa chú ý đầy đủ đến vai trò của quan hệ tổ chức quản lý và quan hệ phân phối sản phẩm.
Nhiều câu hỏi lớn chưa được luận giải thỏa đáng, chẳng hạn: vai trò của tổ chức quản lý và phân phối đối với việc củng cố QHSX ra sao; nguyên nhân vì sao khi xác lập QHSX tập thể nhưng LLSX vẫn không phát triển. Luận án lựa chọn giải quyết tác động của quy luật trong điều kiện nền kinh tế nông nghiệp nhiều thành phần, xác định mô hình kinh tế hộ gia đình là đơn vị kinh tế tự chủ và vạch ra con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp theo chiều sâu.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
Luận án dựa trên nền tảng thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử:
- Khung phân tích LLSX: Bao gồm người lao động (năng lực thực tiễn, kinh nghiệm, tri thức, trí tuệ) và tư liệu sản xuất (tư liệu lao động mà trọng tâm là công cụ lao động, cùng đối tượng lao động). Trong thời đại hiện nay, khoa học kỹ thuật và công nghệ sinh học thâm nhập sâu vào các yếu tố và trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp.
- Khung phân tích QHSX: Bao gồm ba mặt hữu cơ: quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất, quan hệ tổ chức quản lý sản xuất, và quan hệ phân phối sản phẩm lao động.
- Khung phân tích quy luật phù hợp: Sự phù hợp là trạng thái biện chứng chứa đựng mâu thuẫn bên trong; không có sự phù hợp tuyệt đối hay bất biến. LLSX là yếu tố động, thường xuyên biến đổi; QHSX là hình thức xã hội có tính bảo thủ tương đối. QHSX kìm hãm LLSX khi nó lạc hậu hoặc khi bị đẩy đi quá xa một cách chủ quan so với trình độ phát triển của LLSX.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử kết hợp với các phương pháp nghiên cứu cụ thể:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp lý luận;
- Phương pháp kết hợp lôgíc và lịch sử;
- Phương pháp khái quát hóa và trừu tượng hóa khoa học;
- Phương pháp so sánh, đối chiếu giữa các giai đoạn phát triển và giữa các mô hình kinh tế.
Nguồn tư liệu và dữ liệu
- Các tác phẩm kinh điển của C. Mác, Ph. Ăng-ghen, V.I. Lênin và Chủ tịch Hồ Chí Minh;
- Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III, IV, V, VI, VII và các Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng;
- Các công trình chuyên khảo, bài báo khoa học trên Tạp chí Triết học, Tạp chí Cộng sản, Tạp chí Thông tin lý luận;
- Số liệu thống kê xã hội học, số liệu kinh tế nông nghiệp giai đoạn 1945–1995.
Nội dung chính theo từng chương
Luận án có dung lượng 114 trang chính văn (không kể phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo), được kết cấu thành 2 chương và 4 tiết.
Chương I: Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và sự tác động của nó trong nông nghiệp
Chương I gồm hai tiết (§ 1 và § 2), tập trung giải quyết các vấn đề lý luận cốt lõi và làm rõ tính đặc thù của quy luật trong nông nghiệp.
§ 1. Thực chất của quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất
- Phân tích cấu trúc LLSX và QHSX: Tác giả khẳng định người lao động là yếu tố quan trọng nhất của LLSX vì con người trực tiếp chế tạo và sử dụng công cụ lao động. LLSX vận động qua các thời kỳ: công cụ thô sơ (lao động cơ bắp), cơ khí hóa (thay thế sức người bằng năng lượng tự nhiên và máy móc), và tự động hóa/tin học hóa. Trong QHSX, quan hệ sở hữu là nền tảng quy định tính chất quản lý và phân phối, song quan hệ quản lý và phân phối quyết định tính hiện thực của chế độ sở hữu. Nếu quản lý lỏng lẻo và phân phối bất hợp lý thì sở hữu công cộng chỉ mang tính hình thức và làm thất thoát tư liệu sản xuất.
- Quy luật về sự phù hợp biện chứng: Sự phù hợp giữa QHSX và LLSX luôn bao hàm mâu thuẫn. Trạng thái phù hợp đan xen giữa các yếu tố chủ đạo hiện tại, các yếu tố của giai đoạn trước đang mất dần tác dụng và các yếu tố mới bắt đầu nảy sinh. Mâu thuẫn giữa LLSX và QHSX là tất yếu khách quan; khi mâu thuẫn này được giải quyết thì trạng thái phù hợp mới cao hơn được xác lập.
- Vai trò của chủ thể: Chủ thể quản lý kinh tế nếu nhận thức sai quy luật, chủ quan nóng vội xóa bỏ các thành phần kinh tế phi công hữu, công hữu hóa gượng ép sẽ biến QHSX thành lực cản kìm hãm LLSX. Tác giả liên hệ với sự sụp đổ của mô hình xã hội chủ nghĩa cũ ở Liên Xô và Đông Âu, đồng thời phân tích việc chủ nghĩa tư bản hiện đại duy trì sự tồn tại nhờ biết điều chỉnh QHSX (chuyển sang độc quyền nhà nước, phát hành cổ phần cho công nhân, điều tiết kế hoạch hóa vĩ mô).
§ 2. Những biểu hiện đặc thù của quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất trong nông nghiệp
Tác giả hệ thống hóa 7 đặc thù cơ bản của sản xuất nông nghiệp:
- Sự phụ thuộc vào tự nhiên: Đối tượng và sản phẩm nông nghiệp đều gắn liền với tự nhiên, chịu tác động trực tiếp của khí hậu, thời tiết, thiên tai, dịch bệnh; đòi hỏi bố trí cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp với điều kiện sinh thái từng vùng.
- Tính chất công nghệ sinh học: Nông nghiệp là ngành sản xuất theo phương thức sinh học; việc áp dụng công nghệ sinh học (chọn tạo giống năng suất cao, chống chịu sâu bệnh, sinh thái hóa nông nghiệp) là nội dung cốt lõi của hiện đại hóa nông nghiệp.
- Đặc điểm của người lao động nông nghiệp: Người nông dân cư trú ở nông thôn, trình độ văn hóa và khoa học kỹ thuật thấp hơn công nhân công nghiệp, chịu ảnh hưởng của tập quán cổ truyền và tâm lý làng xã; đòi hỏi phát triển nông nghiệp phải gắn liền với nâng cao dân trí.
- Tính độc lập tương đối và vai trò của kinh tế hộ: Lao động nông nghiệp gắn với cơ thể sống, đòi hỏi trách nhiệm, lương tâm và tính tự giác cao; không thể áp dụng phương pháp quản lý, đánh kẻng chấm công nhật hay khoán việc cứng nhắc như công nghiệp. Kinh tế hộ gia đình là đơn vị kinh tế tự chủ, là "tế bào" cơ bản của sản xuất nông nghiệp.
- Ruộng đất là tư liệu sản xuất đặc biệt: Ruộng đất vừa là tư liệu lao động vừa là đối tượng lao động; chính sách ruộng đất phải bảo đảm giao quyền sử dụng lâu dài, ổn định cho người lao động.
- Chu kỳ sản xuất dài và tính rủi ro cao: Tái sản xuất nông nghiệp có chu kỳ dài, hiệu quả đầu tư chậm, đòi hỏi Nhà nước phải có chính sách hỗ trợ công cộng, trợ giá nông sản, ưu đãi lãi suất tín dụng và chuyển đổi chính sách thuế.
- Sự đan xen nhiều trình độ LLSX: Nông nghiệp không tự sản xuất ra công cụ lao động mà phụ thuộc vào công nghiệp chế tạo, tồn tại nhiều trình độ kỹ thuật khác nhau giữa các vùng, đòi hỏi phải đẩy mạnh công nghiệp hóa và xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn (giao thông, điện, thủy lợi).
Chương II: Tác động của quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất trong nông nghiệp nước ta thời kỳ đổi mới
Chương II gồm hai tiết (§ 1 và § 2), đánh giá thực trạng nông nghiệp Việt Nam và đề xuất các giải pháp triết học - kinh tế.
§ 1. Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong nông nghiệp nước ta hiện nay thực trạng và yêu cầu phát triển
- Thực trạng chuyển đổi: Luận án đánh giá bước chuyển từ cơ chế tập trung quan liêu sang cơ chế tự chủ thông qua Chỉ thị 100 và Nghị quyết Khoán 10. Quyền tự chủ của hộ nông dân được phục hồi, giải phóng sức sản xuất và đưa sản lượng lương thực tăng trưởng liên tục.
- Các mâu thuẫn và hạn chế nội tại:
- LLSX trong nông nghiệp vẫn chủ yếu dựa vào lao động thủ công thô sơ, cơ giới hóa thấp, phụ thuộc lớn vào thiên nhiên.
- Phân hóa xã hội ở nông thôn gia tăng: số liệu trong luận án chỉ ra rằng khoảng 90% người nghèo của cả nước sống ở nông thôn; trên 70% nông dân ở mức sống trung bình và nghèo; nhóm trên 20% hộ khá giàu phần lớn không giàu từ sản xuất thuần nông mà nhờ làm dịch vụ, buôn bán thương nghiệp.
- Các hợp tác xã kiểu cũ rơi vào khủng hoảng, nợ tồn đọng lớn, vốn liếng cạn kiệt, lúng túng trong việc tìm kiếm mô hình hoạt động mới.
§ 2. Phương hướng và một số giải pháp chủ yếu để đảm bảo sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất trong nông nghiệp nước ta hiện nay
Luận án đề xuất hệ thống 6 nhóm giải pháp:
- Đổi mới doanh nghiệp nhà nước (nông - lâm - ngư trường): Quá trình đổi mới cần trải qua hai giai đoạn. Giai đoạn đầu, giao khoán toàn bộ đất đai, tư liệu sản xuất cho hộ công nhân, chuyển ban quản lý sang làm dịch vụ cung ứng giống, kỹ thuật, vật tư, thủy lợi, tín dụng và tiêu thụ sản phẩm. Giai đoạn sau, khi các hộ phát triển thành các đơn vị sản xuất hàng hóa nhỏ, doanh nghiệp nhà nước chuyển thành tổ hợp hoặc liên hiệp do các thành viên tự bầu ban giám đốc quản lý.
- Đổi mới hợp tác xã và đa dạng hóa hình thức hợp tác: Đối với các HTX yếu kém, chỉ tồn tại hình thức, giải thể và chuyển thành các tổ hợp tác, nhóm liên gia tự nguyện. Đối với HTX hoạt động hiệu quả, chuyển sang HTX cổ phần, thực hiện chức năng làm dịch vụ trước, trong và sau sản xuất hỗ trợ kinh tế hộ.
- Phát triển kinh tế hộ gia đình: Xác định con đường phát triển kinh tế hộ qua 3 thời kỳ: (1) Hộ tự chủ sản xuất tự cấp tự túc; (2) Hộ tự chủ sản xuất kinh doanh hàng hóa nhỏ; (3) Hộ trở thành doanh nghiệp sản xuất hàng hóa lớn. Triển khai Luật Đất đai giao quyền sử dụng đất lâu dài (20 năm đối với đất sản xuất nông nghiệp, 40 năm đối với đất trồng cây công nghiệp dài ngày).
- Phát triển kinh tế tư nhân, tư bản tư nhân, tư bản nhà nước và thu hút đầu tư nước ngoài: Khuyến khích tư nhân và các dự án liên doanh có vốn đầu tư nước ngoài đầu tư vào nông - lâm - ngư nghiệp, công nghệ sinh học, chế biến và khai thác (như các dự án liên doanh chăn nuôi lợn tại Sông Bé, nuôi tôm ở Thái Bình, chế biến rau quả với đối tác Đài Loan, Nhật Bản).
- Phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp theo chiều sâu: Tập trung đầu tư cơ sở hạ tầng nông thôn (điện, đường, trường, trạm, thủy lợi, nước sạch); tăng cường nghiên cứu và ứng dụng công nghệ sinh học trong chọn tạo giống mới và bảo vệ thực vật sinh thái.
- Gắn phát triển nông nghiệp với nông thôn, nông dân và công bằng xã hội: Thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo, dạy nghề chuyển đổi việc làm cho lao động dôi dư ở nông thôn, ngăn chặn tệ nạn xã hội, xây dựng làng văn hóa mới và chăm sóc các gia đình chính sách, người có công.
Bảng tổng hợp đối chiếu hai giai đoạn phát triển nông nghiệp
| Tiêu chí phân tích |
Thời kỳ hợp tác hóa tập trung (trước đổi mới) |
Thời kỳ đổi mới (từ sau Khoán 10 đến 1995–1996) |
| Quan niệm về QHSX |
Tuyệt đối hóa công hữu (toàn dân, tập thể); dùng QHSX "tiên tiến" kéo LLSX |
QHSX phải phù hợp với trình độ thực tế của LLSX; chấp nhận đa dạng hóa sở hữu |
| Vị trí của kinh tế hộ |
Bị phủ nhận, coi là kinh tế phụ; lợi ích cá nhân hòa tan vào tập thể |
Là "tế bào", đơn vị kinh tế tự chủ cơ bản của nền kinh tế nông nghiệp |
| Hình thức tổ chức HTX |
Quản lý mệnh lệnh, tập trung chỉ huy, đánh kẻng chấm công nhật, khoán việc |
Chuyển sang làm dịch vụ hỗ trợ kinh tế hộ; phát triển HTX cổ phần, tổ hợp tác |
| Chính sách ruộng đất |
Tập trung hóa vào tập thể, người nông dân không có quyền tự chủ sử dụng |
Giao quyền sử dụng đất lâu dài (20 năm đất nông nghiệp, 40 năm đất cây lâu năm) |
| Sản lượng lương thực |
Mức thấp, dao động 17–18 triệu tấn/năm, thiếu đói cục bộ kéo dài |
Đạt trên 27 triệu tấn quy thóc (1995), bảo đảm tiêu dùng và có xuất khẩu |
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt lý luận
- Phân tích một cách có hệ thống quá trình phát triển của nhận thức lý luận triết học Mác – Lênin về quy luật QHSX phù hợp với trình độ phát triển của LLSX; chỉ ra rằng sự phù hợp là một quá trình biện chứng chứa đựng mâu thuẫn nội tại và không có sự phù hợp tuyệt đối, bất biến.
- Luận giải sâu sắc 7 đặc thù của sản xuất nông nghiệp từ góc độ triết học và kinh tế chính trị, làm rõ cơ sở khách quan quy định việc kinh tế hộ gia đình phải là đơn vị kinh tế tự chủ ("tế bào" kinh tế) chứ không thể áp đặt mô hình tổ chức đại công nghiệp một cách máy móc vào nông nghiệp.
- Xác lập luận điểm khoa học: Kinh tế hợp tác và doanh nghiệp nhà nước trong nông nghiệp chỉ đóng vai trò môi trường hỗ trợ gián tiếp cho kinh tế hộ phát triển.
Đóng góp mới về mặt thực tiễn
- Đánh giá thực trạng mâu thuẫn giữa LLSX và QHSX trong nông thôn Việt Nam những năm đầu đổi mới dựa trên các tư liệu thực tế và số liệu thống kê.
- Đề xuất mô hình tiến hóa 3 giai đoạn của kinh tế hộ nông dân (tự cấp tự túc $\rightarrow$ hàng hóa nhỏ $\rightarrow$ doanh nghiệp sản xuất hàng hóa lớn).
- Bước đầu vạch ra hệ thống giải pháp đồng bộ: tái cơ cấu nông trường quốc doanh thành các liên hiệp dịch vụ; chuyển đổi HTX sang HTX cổ phần dịch vụ; đa dạng hóa các thành phần kinh tế tư nhân và liên doanh quốc tế; kết hợp giữa công nghệ sinh học và công nghiệp hóa nông thôn gắn với xóa đói giảm nghèo.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của công trình
- Luận án được hoàn thành năm 1996, ở giai đoạn đầu của việc thi hành Luật Đất đai năm 1993 và các chính sách chuyển đổi hợp tác xã, do đó các phân tích về thị trường quyền sử dụng đất và tích tụ ruộng đất chủ yếu dừng lại ở mức độ dự báo lý luận và định hướng nguyên tắc.
- Dữ liệu khảo sát thực tế phân bố chủ yếu ở một số địa bàn trọng điểm (Đồng bằng sông Hồng, Nam Bộ, một số mô hình điểm ở An Giang, Sông Bé, Thái Bình) mà chưa bao quát hết các đặc thù sinh thái nông nghiệp tại các vùng miền núi cao, vùng sâu, vùng xa.
Hướng nghiên cứu tiếp
- Tiếp tục nghiên cứu cơ chế vận hành của thị trường ruộng đất trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nhằm chống nguy cơ bần cùng hóa nông dân và hiện tượng phát canh thu tô kiểu mới.
- Khảo sát sâu hơn sự chuyển hóa của kinh tế hộ sang các trang trại và doanh nghiệp nông nghiệp quy mô lớn trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn.
Giá trị tham khảo
Luận án có giá trị tham khảo chuyên môn đối với các đối tượng cụ thể:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên: Dùng làm tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu, giảng dạy các chuyên đề về Chủ nghĩa duy vật lịch sử, Kinh tế chính trị Mác – Lênin, đặc biệt là chương mục về quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong thời kỳ quá độ.
- Các nhà hoạch định chính sách kinh tế - xã hội: Cung cấp cơ sở lý luận triết học để xây dựng các chính sách về đất đai, đổi mới kinh tế tập thể, tái cấu trúc nông - lâm trường quốc doanh và phát triển các mô hình liên kết kinh tế trong nông thôn.
- Phần đáng chú ý nhất: Tiết 2 của Chương I (phân tích 7 đặc thù của sản xuất nông nghiệp) và Tiết 2 của Chương II (luận giải về ba thời kỳ phát triển của kinh tế hộ và lộ trình đổi mới HTX, nông lâm trường).
Câu hỏi thường gặp
1. Tại sao luận án khẳng định việc vội vã xóa bỏ các thành phần kinh tế tư nhân trước thời kỳ đổi mới là trái quy luật khách quan?
Theo phân tích của tác giả, quy luật đòi hỏi QHSX phải được thiết lập phù hợp với trình độ thực tế của LLSX. Trước đổi mới, LLSX ở nước ta còn ở trình độ rất thấp, công cụ thủ công thô sơ là chủ yếu, trình độ quản lý còn non kém. Việc nóng vội công hữu hóa toàn bộ tư liệu sản xuất dưới hai hình thức toàn dân và tập thể là biểu hiện của tư duy chủ quan, duy ý chí, muốn dùng QHSX "tiên tiến" đi trước để "kéo" LLSX phát triển. Khi trình độ quản lý không tương xứng, tư liệu sản xuất bị thất thoát, người lao động mất động lực, dẫn đến kìm hãm sản xuất.
2. Bảy đặc thù cơ bản của sản xuất nông nghiệp được luận án xác định là gì?
Bảy đặc thù bao gồm: (1) Phụ thuộc chặt chẽ vào tự nhiên, khí hậu, môi trường sinh thái; (2) Là ngành sản xuất theo phương thức sinh học, lấy công nghệ sinh học làm cốt lõi; (3) Người nông dân có trình độ văn hóa, kỹ thuật thấp hơn cư dân đô thị và mang tâm lý làng xã; (4) Lao động gắn với sinh thể sống, mang tính độc lập tương đối, lấy kinh tế hộ làm "tế bào"; (5) Ruộng đất là tư liệu sản xuất đặc biệt, vừa là tư liệu vừa là đối tượng lao động; (6) Chu kỳ sản xuất dài, rủi ro cao, đòi hỏi sự hỗ trợ và trợ giá của Nhà nước; (7) Tồn tại đan xen nhiều trình độ LLSX, không tự sản xuất công cụ mà phụ thuộc vào công nghiệp.
3. Kinh tế hộ gia đình được luận án phân chia thành những giai đoạn phát triển nào?
Tác giả phân chia con đường phát triển của kinh tế hộ nông dân thành 3 thời kỳ tương ứng với 3 giai đoạn của nền sản xuất nông nghiệp:
- Thời kỳ hộ tự chủ sản xuất (tương ứng với sản xuất tự cấp, tự túc);
- Thời kỳ hộ tự chủ sản xuất kinh doanh (tương ứng với sản xuất hàng hóa nhỏ);
- Thời kỳ hộ trở thành nhà doanh nghiệp nông nghiệp (tương ứng với nền sản xuất hàng hóa lớn phát triển).
4. Luận án đề xuất định hướng đổi mới các doanh nghiệp nhà nước (nông - lâm - ngư trường) như thế nào?
Luận án đề xuất lộ trình hai giai đoạn: Giai đoạn 1, chuyển giao đất đai, tư liệu sản xuất cho hộ công nhân theo phương thức khoán hoặc trả góp, chuyển ban quản lý từ chức năng quản lý mệnh lệnh hưởng lương nhà nước sang làm dịch vụ kỹ thuật, giống, phân bón, thủy lợi, tín dụng và tiêu thụ sản phẩm; Giai đoạn 2, khi các hộ gia đình phát triển thành các đơn vị sản xuất hàng hóa lớn, doanh nghiệp nhà nước sẽ chuyển đổi thành các tổ hợp liên hiệp mà thành viên là các doanh nghiệp hộ gia đình, do các thành viên tự bầu và kiểm soát ban giám đốc.
5. Số liệu thực tế nào được tác giả sử dụng để chứng minh sự phát triển của LLSX sau khi đổi mới QHSX?
Luận án dẫn chứng số liệu thực tế: sản lượng lương thực cả nước từ mức trì trệ 17–18 triệu tấn/năm trong thời kỳ bao cấp đã tăng lên đạt hơn 27 triệu tấn quy thóc vào năm 1995 sau khi áp dụng Chỉ thị 100 và Nghị quyết Khoán 10, đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng lương thực trong nước và có một phần dành cho xuất khẩu. Đồng thời, văn bản chỉ ra thực trạng xã hội: 90% người nghèo cả nước tập trung ở nông thôn, trên 70% nông dân ở mức sống trung bình và nghèo, và trên 20% hộ khá giàu ở nông thôn chủ yếu thu nhập từ làm dịch vụ, buôn bán thương nghiệp chứ không thuần túy từ sản xuất nông nghiệp.
Kết luận
Luận án phó tiến sĩ của tác giả Nguyễn Trọng Tuấn đã làm rõ mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, khẳng định sự phù hợp là một trạng thái động chứa đựng mâu thuẫn khách quan. Công trình đã luận giải một cách có hệ thống 7 đặc thù của sản xuất nông nghiệp và chứng minh vai trò nền tảng của kinh tế hộ gia đình với tư cách là đơn vị kinh tế tự chủ trong thời kỳ đổi mới. Các phương hướng và giải pháp do luận án đề xuất đã cung cấp luận cứ triết học và thực tiễn cho việc tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý, phát triển nền nông nghiệp hàng hóa nhiều thành phần và đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn tại Việt Nam.