Chương 1: Cơ sở khoa học của quản lý Nhà nước về kinh tế nông nghiệp. - Chương 2: Hoạt động quản lý Nhà nước về kinh tế nông nghiệp của huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình giai đoạn 2011 - 2016. - Chương 3: Phương hướng, giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện quản lý Nhà nước về kinh tế nông nghiệp tại huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KINH TẾ NÔNG NGHIỆP 1.
Tổng quan về kinh tế nông nghiệp và kinh tế nông nghiệp cấp huyện 1. Khái niệm kinh tế nông nghiệp Kinh tế nông nghiệp là tổng thể quan hệ sản xuất trong nông nghiệp, biểu hiện bằng những hình thức sở hữu tư liệu sản xuất, những hình thức tiêu dùng các sản phẩm sản xuất ra với những hình thức tổ chức sản xuất, trao đổi, phân phối và cơ chế quản lý tương ứng của Nhà nước đối với toàn bộ nền nông nghiệp. Nói cách khác, kinh tế nông nghiệp là tổng thể các quan hệ kinh tế trong nông nghiệp. Trong nhiều thập kỷ trước thời kỳ đổi mới, quan điểm cơ bản về việc hình thành và phát triển kinh tế nông nghiệp ở nước ta là đề cao vai trò của sở hữu Nhà nước, dẫn tới thiết lập hàng loạt các xí nghiệp quốc doanh trong mọi lĩnh vực sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản, với sự tài trợ rất lớn của ngân sách Nhà nước.
Khu vực sản xuất thuộc các thành phần kinh tế không phải sở hữu Nhà nước kể cả sở hữu hợp tác xã cũng chỉ được coi là hình thức sở hữu quá độ. Các hình thức sở hữu tư nhân chưa được thừa nhận sự tồn tại và phát triển về mặt pháp lý. Cùng với việc áp dụng cơ chế quản lý kế hoạch hóa, tập trung bao cấp, sự vận động phát triển kinh tế nông nghiệp nước ta theo mô hình nêu trên tỏ ra kém hiệu quả; các tiềm năng đất đai và lao động chưa được khai thác triệt để; vật tư, tiền vốn bị sử dụng lãng phí và thất thoát nhiều; đời sống nông dân và bộ mặt của nông thôn chậm được cải thiện. Từ Đại hội lần thứ VI (12/1986), Đảng ta đã xác định nền kinh tế nước ta chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Sự chuyển đổi có ý nghĩa rất lớn về lý luận và thực tiễn nói trên của Đảng ta đòi hỏi hệ thống kinh tế nông nghiệp phải phát triển theo định hướng mới, với đặc trưng mới phù hợp, với các quy luật kinh tế thị trường và xu thế chung của thời đại. Mục tiêu của nền kinh tế nông nghiệp Mục tiêu của nền kinh tế nông nghiệp là bảo đảm an ninh lương thực quốc gia trước mắt và lâu dài. Tăng nhanh sản xuất nông sản hàng hóa và hàng hóa xuất 9 khẩu. Nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho dân cư nông nghiệp và nông thôn.
Bảo vệ môi trường sinh thái, giảm nhẹ thiên tai để phát triển bền vững. Nền nông nghiệp Việt Nam trải qua quá trình vận động, chuyển đổi từ sản xuất thủ công sang sản xuất theo hướng công nghiệp và hiện đại; chuyển nền nông nghiệp tự cung, tự cấp thành nền nông nghiệp hàng hoá và cao hơn là nền nông nghiệp thương mại hoá và xây dựng nền nông nghiệp sạch, hữu cơ nhằm đáp ứng các mục tiêu của phát triển bền vững [21, 27]. Một số tiêu chí đánh giá nền kinh tế nông nghiệp cấp huyện Các nghiên cứu và báo cáo của Nguyễn Thị Thanh Mai (2010); Nguyễn Thị Xuân Lan (2007), và Nguyễn Thái Bình Minh (2015) đề cập một số tiêu chí đánh giá nền kinh tế nông nghiệp ở cấp huyện như sau: 1. Gia tăng số lượng các cơ sở sản xuất nông nghiệp Số lượng các cơ sở sản xuất nông nghiệp là những nơi kết hợp các yếu tố nguồn lực, trực tiếp tham gia sản xuất nông nghiệp, dịch vụ nông nghiệp được tổ chức theo nhiều hình thức, quy mô, trình độ khác nhau.
Việc gia tăng số lượng các cơ sở sản xuất nông nghiệp nghĩa là tăng số lượng và quy mô của các hộ gia đình, các cá thể kinh doanh trang trại, tổ hợp tác, hợp tác xã nông nghiệp, các doanh nghiệp kinh doanh nông nghiệp. Gia tăng số lượng các cơ sở sản xuất nông nghiệp nhằm góp phần tạo ra nhiều sản phẩm đáp ứng nhu cầu sử dụng của người dân và yêu cầu ngày càng cao của thị trường, nâng cao mức sống cho người lao động. Các cơ sở sản xuất nông nghiệp cần được xem xét: kinh tế hộ, trang trại, tổ hợp tác, hợp tác xã và doanh nghiệp nông nghiệp. Sự gia tăng các cơ sở sản xuất nông nghiệp được thể hiện qua hai tiêu chí, gồm số lượng cơ sở sản xuất qua các năm và tốc độ tăng hay mức tăng cơ sở sản xuất qua các năm.
Sự gia tăng cơ sở sản xuất nông nghiệp còn thể hiện qua tính đa dạng trong phân loại cơ sở sản xuất, quy mô của các cơ sở sản xuất và sự biến động của quy mô các cơ sở sản xuất nông nghiệp qua thời gian. Chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp hợp lý Một trong những nội dung phản ánh hiệu quả quản lý kinh tế nông nghiệp là sự chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp hợp lý. Chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp hợp lý biểu hiện thành phần, tỷ trọng và mối quan hệ giữa các ngành và tiểu ngành trong nội bộ ngành nông nghiệp phù hợp với bối cảnh phát triển của xã hội. Chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp hợp lý là chuyển dịch vai trò, vị trí và tỷ lệ hợp thành của các ngành, lĩnh vực, bộ phận trong sản xuất nông nghiệp theo hướng hợp lý nhằm đạt được hiệu quả kinh tế cao.
Nền nông nghiệp có cơ cấu sản xuất hợp lý thường chuyển dịch theo các hướng sau: + Đối với toàn ngành nông nghiệp, cơ cấu ngành nông nghiệp chuyển dịch từ nền nông nghiệp độc canh, tự cung, tự cấp thành nền nông nghiệp hàng hoá và chuyển dịch cao hơn là sang nền nông nghiệp thương mại hoá. + Đối với ngành trồng trọt, xu hướng chuyển dịch là giảm dần diện tích cây lương thực, tăng diện tích cây ăn quả, cây rau, cây công nghiệp. + Đối với ngành chăn nuôi, cơ cấu được chuyển dịch theo hướng sử dụng các giống mới có năng suất, chất lượng; chuyển dịch sang đàn vật nuôi có giá trị kinh tế cao, có thị trường tiêu thụ ổn định thay cho những vật nuôi có giá trị kinh tế thấp. Các tiêu chí đánh giá chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp bao gồm: (i) Tỷ trọng sản xuất của các ngành, các bộ phận trong kinh tế nông nghiệp; (ii) Biến động của cơ cấu sản xuất nông nghiệp qua các năm, bao gồm biến động về quy mô và tỷ trọng thu nhập; (iii) Biến động về tỷ lệ giá trị sản xuất nông nghiệp trong nền kinh tế; (iv) Biến động tỷ lệ giá trị sản xuất của các phân ngành (lĩnh vực) trong nông nghiệp vực như chăn nuôi, trồng trọt, nuôi trồng, đánh bắt thủy sản, chế biến, lâm nghiệp, dịch vụ trong nông nghiệp và du lịch kết hợp sản xuất nông nghiệp.
Kết hợp với các tiêu chí trên là các tiêu chí phân bổ nguồn lực như chuyển biến về cơ cấu lao động giữa các ngành, phân ngành; cơ cấu vốn và cơ cấu ruộng đất. Gia tăng các yếu tố nguồn lực Đất đai sử dụng trong nông nghiệp Đất đai là tư liệu sản xuất chủ chốt, có vai trò hết sức quan trọng trong nông nghiệp. Diện tích đất đai là có hạn, là yếu tố khó làm gia tăng thêm, là yếu tố không bị hao mòn và đào thải khỏi quá trình sản xuất. Nếu được sử dụng hợp lý thì ruộng đất có chất lượng ngày càng tốt hơn, cho nhiều sản phẩm hơn trên một đơn vị diện tích canh tác.
Đất đai được sử dụng trong nông nghiệp tăng lên theo hướng tập trung, thâm canh theo yêu cầu phát triển sản xuất hàng hoá, phát triển nông nghiệp. Vốn trong nông nghiệp Vốn trong sản xuất nông nghiệp là yếu tố tổng hợp từ nhiều nguồn lực, được biểu hiện bằng tiền của các tư liệu lao động và đối tượng lao động được sử dụng vào quá trình sản xuất nông nghiệp. Theo nghĩa rộng, ruộng đất, cơ sở hạ tầng, lao động, trí thức, kỹ năng, nguyên liệu tham gia vào sản xuất nông nghiệp đều được xem là các loại vốn trong sản xuất nông nghiệp. Các biện pháp tạo vốn và nâng cao sử dụng vốn có hiệu quả trong nông nghiệp rất có ý nghĩa, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế nông nghiệp.
Cơ sở vật chất - kỹ thuật nông nghiệp Hệ thống cơ sở vật chất - kỹ thuật phục vụ nông nghiệp ngày càng hoàn thiện và phát triển bao gồm công cụ máy móc, hệ thống kết cấu hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp gồm giao thông, thuỷ lợi; hệ thống dịch vụ trồng trọt và chăn nuôi. Công nghệ trong sản xuất nông nghiệp Công nghệ theo nghĩa chung nhất là tập hợp những hiểu biết về các phương thức và phương pháp hướng vào cải tạo tự nhiên, phục vụ các nhu cầu của con người. Trong sản xuất nông nghiệp, công nghệ là kiến thức, kỹ thuật, phương thức, vật liệu sử dụng trong sản xuất. Công nghệ có thể là công nghệ truyền thống, bản địa hoặc công nghệ cao.
Sản xuất nông nghiệp càng phát triển càng hướng đến công nghệ cao. Nền nông nghiệp công nghệ cao là nền nông nghiệp được ứng dụng những công nghệ mới, hiện đại vào trong sản xuất. Công nghệ cao bao gồm tự động hóa, cơ giới hóa các khâu của sản xuất nông nghiệp, công nghệ thông tin, công nghệ 12 vật liệu mới, công nghệ sinh học, các giống vật nuôi, giống cây trồng mới có năng suất và chất lượng cao, công nghệ môi trường đảm bảo phát triển nông nghiệp bền vững. Các tiêu chí đánh giá gia tăng các yếu tố nguồn lực công nghệ cao bao gồm, cơ sở vật chất và công trình công nghệ cao; quy mô và lĩnh vực ứng dụng công nghệ cao; số lượng lao động chất lượng cao; năng lực và mức độ vận dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp; tổng vốn đầu tư và mức đầu tư trên diện tích; mức gia tăng hiệu quả nhờ đầu tư công nghệ cao.
Các hình thức liên kết kinh tế tiến bộ trong nông nghiệp Liên kết trong nông nghiệp là sự hợp tác của các đối tác trên chuỗi giá trị để đưa nông sản từ sản xuất đến nơi tiêu thụ nhằm tìm kiếm những cơ hội đem lại lợi nhuận từ sự liên kết này.