CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Chuỗi giá trị và những khái niệm liên quan 1. Ngành hàng Theo Fabre (1994), ngành hàng được coi là tập hợp các tác nhân kinh tế (hay các phần hợp thành các tác nhân) quy tụ trực tiếp vào việc tạo ra các sản phẩm cuối cùng.
Như vậy, ngành hàng đã vạch ra sự kế tiếp của các hành động xuất phát từ điểm ban đầu tới điểm cuối cùng của một nguồn lực hay một sản phẩm trung gian, trải qua nhiều giai đoạn của quá trình gia công, chế biến để tạo ra một hay nhiều sản phẩm hoàn tất ở mức độ của người tiêu thụ[35]. Như vậy, ngành hàng là một chuỗi các tác nhân được gắn kết chặt chẽ với nhau trong một quá trình từ sản xuất, vận chuyển, chế biến đến phân phối sản phẩm nhằm thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng của khách hàng. Ngành hàng cho phép mô tả từ nguồn tới ngọn một chuỗi liên tiếp các hoạt động sản xuất, chế biến, tiêu thụ và sự phối hợp hoạt động của từng tác nhân trong ngành hàng. Trong quá trình vận hành từ điểm sản xuất (nguồn) tới sản phẩm cuối cùng (ngọn) đã tạo ra sự dịch chuyển các luồng vật chất trong ngành hàng đó.
* Tác nhân: Tác nhân là các cá thể, tập thể trong các các hoạt động kinh tế, độc lập và tự quyết định hành vi của mình. Có thể hiểu rằng, tác nhân là những hộ, những doanh nghiệp, những cá nhân tham gia trong ngành hàng thông qua hoạt động kinh tế của họ. Tác nhân được phân ra làm hai loại (Fabre, 1994)[35]: - Tác nhân có thể là cá nhân (ví dụ: nông dân, hộ, hộ kinh doanh); - Tác nhân là đơn vị kinh tế (ví dụ: các doanh nghiệp, công ty, nhà máy). Theo nghĩa rộng người ta phân tác nhân thành từng nhóm để chỉ các chủ thể có cùng một hoạt động.
Ví dụ tác nhân “nông dân” để chỉ tập hợp tất cả các hộ nông dân; tác nhân “thương nhân” để chỉ tập hợp tất cả các hộ thương nhân; tác nhân “bên ngoài” chỉ tất cả các chủ thể ngoài phạm vi không gian phân tích[6]. Mỗi tác nhân trong ngành hàng có những hoạt động kinh tế riêng, đó chính là chức năng của nó trong chuỗi hàng. Tên chức năng thường trùng với tên tác nhân. Ví dụ, hộ sản xuất có chức năng sản xuất, hộ chế biến có chức năng chế biến, hộ bán buôn có chức năng bán buôn.
Một tác nhân có thể có một hay nhiều chức năng. Các chức năng kế tiếp nhau tạo nên sự chuyển dịch về mặt tính chất của luồng vật chất trong ngành hàng[35]. Các tác nhân đứng sau thường có chức năng hoàn thiện sản phẩm của các tác nhân đứng trước kế nó cho đến khi chức năng của tác nhân cuối cùng Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 4 ở từng luồng hàng kết thúc thì ta đã có sản phẩm cuối cùng của ngành hàng. Trong nghiên cứu này các tác nhân được hiểu là các các nhân, tổ chức kinh tế tham gia và liên quan đến chuỗi giá trị thịt bò.
Các tổ chức kinh tế bao gồm hộ nông dân, trang trại, thương lái, người chế biến,… * Luồng hàng: Những mạch hàng liên tiếp được sắp xếp theo trật tự từ tác nhân đầu tiên đến tác nhân cuối cùng sẽ tạo nên các luồng hàng trong một ngành hàng. Luồng hàng thể hiện sự lưu chuyển các luồng vật chất do kết quả hoạt động kinh tế của hệ thống tác nhân khác nhau ở từng công đoạn sản xuất, chế biến và lưu thông đến từng chủng loại sản phẩm cuối cùng (Fabre, 1994). Mọi luồng hàng đều bắt đầu từ một tác nhân ở khâu sản xuất đầu tiên và kết thúc ở một địa chỉ tiêu thụ cuối cùng[32]. * Mạch hàng: Mạch hàng là khoảng cách giữa hai tác nhân.
Mạch hàng chứa đựng quan hệ kinh tế giữa hai tác nhân và những hoạt động chuyển dịch về sản phẩm. Qua từng mạch hàng, giá trị của sản phẩm được tăng thêm và do đó giá cả cũng được tăng thêm do các khoản giá trị mới sáng tạo ra ở từng tác nhân [32], điều đó thể hiện sự đóng góp của từng tác nhân trong việc tạo nên giá trị gia tăng (VA) của ngành hàng. Mỗi tác nhân có thể tham gia vào nhiều mạch hàng. Mạch hàng càng phong phú, quan hệ giữa các tác nhân càng chặt chẽ, chuỗi hàng càng bền vững.
Điều đó cũng có nghĩa là nếu có một vướng mắc nào đó làm cản trở sự phát triển của mạch hàng nào đó thì sẽ gây ảnh hưởng có tính chất dây chuyền đến các mạch hàng sau nó và sẽ ảnh hưởng chung đến hiệu quả của luồng hàng và toàn bộ chuỗi hàng.2 Chuối cung ứng Hiện trên thế giới có rất nhiều quan niệm và định nghĩa khác nhau về chuỗi cung ứng. Theo Chopra and Meindl (2001), chuỗi cung ứng bao gồm tất cả các đơn vị kinh doanh tham gia một cách trực tiếp, hoặc gián tiếp trong việc đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Chuỗi cung ứng không chỉ bao gồm các nhà sản xuất, các nhà cung cấp mà còn những người vận chuyển, hệ thống bảo quản, những nhà bán lẻ và khách hàng[31]. Chuỗi cung ứng điển hình bao gồm tất cả các chức năng liên quan đến việc nhận và đáp ứng nhu cầu khách hàng.
Những chức năng này gồm phát triển sản phẩm mới, marketing, sản xuất, phân phối, tài chính và dịch vụ khách hàng (Porter, 1985)[4]. Theo Lambert and Ellram (1998) cho rằng chuỗi cung ứng là sự liên kết giữa các doanh nghiệp nhằm đưa sản phẩm hay dịch vụ ra thị trường. Cơ sở hoạt động của chuỗi cung ứng thể hiện như sau: Tiếp nhận đầu vào từ các nhà cung cấp -> tạo lập ra giá trị -> phân phối sản phẩm, dịch vụ tới khách hàng[13]. Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 5 Do vậy có thể nói rằng: Chuỗi cung ứng gồm tất cả các thành viên tham gia một cách trực tiếp (gồm nhà cung cấp, nhà sản xuất, phân phối, bán sỉ lẻ,.) hay gián tiếp (gồm marketing, tài chính, công nghệ thông tin, hay nhà cung cấp các DV hậu cần,.) vào các hoạt động nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng.
Chuỗi cung ứng không chỉ bao gồm nhà sản xuất, nhà cung cấp mà còn liên quan đến vận chuyển, nhà kho, nhà bán lẻ và khách hàng. Hoạt động của chuỗi tuy phức tạp nhưng các thành viên trong chuỗi luôn thống nhất về mục đích đó là phục vụ vì nhu cầu của khách hàng, khách hàng là trung tâm của các hoạt động[13]. * Cấu trúc chuỗi cung ứng: Có thể nhận thấy rằng một chuỗi cung ứng bất kỳ luôn bao gồm 3 thành phần cơ bản trong mối quan hệ qua lại. Thật vậy, theo Lambert and Ellram (1998) cho rằng một chuỗi cung ứng bao gồm hệ thống các thực thể và các kết nối giữa các thành viên trong chuỗi cung ứng.
Hay một chuỗi cung ứng về cơ bản bao gồm các thành phần đó là các pháp nhân (các doanh nghiệp cung ứng, doanh nghiệp sản xuất, tiêu thụ), các tổ chức, các mạng lưới và các thể nhân. Sự kết nối giữa các thành tố trên được xem là các kết nối hoặc các mối quan hệ (Harland, 1996)[14]. - Nhà cung cấp: Nhà cung cấp được xem như một thành viên bên ngoài - có năng lực sản xuất không giới hạn. Tuy nhiên, bởi vì những nhân tố không chắc chắn trong tiến trình chuyển phát, nhà cung cấp có thể sẽ không cung cấp nguyên liệu thô cho nhà sản xuất đúng lúc.
- Nhà sản xuất: Bao gồm các nhà sử dụng nguyên vật liệu đầu vào tạo ra sản phẩm, sử dụng nguyên liệu và các sản phẩm gia công của các nhà sản xuất khác để làm nên sản phẩm. - Nhà phân phối: Là các đơn vị mua lượng lớn sản phẩm từ các nhà sản xuất và phân phối các dòng sản phẩm đến khách hàng, còn được gọi là các nhà bán buôn. Nhà phân phối có thể tham gia vào việc mua hàng từ nhà sản xuất để bán cho khách hàng, đôi khi họ chỉ là nhà môi giới sản phẩm giữa nhà sản xuất và khách hàng. Bên cạnh đó chức năng của nhà phân phối là thực hiện quản lý tồn kho, vận hành kho, vận chuyển sản phẩm, hỗ trợ khách hàng và dịch vụ hậu mãi.
- Nhà bán lẻ: Họ là những người chuyên trữ hàng và bán với số lượng nhỏ hơn đến khách hàng. Họ luôn theo dõi nhu cầu và thị hiếu của khách hàng. - Khách hàng/người tiêu dùng: Những khách hàng hay người tiêu dùng là những người mua và sử dụng sản phẩm. Khách hàng có thể mua sản phẩm để sử dụng hoặc mua sản phẩm kết hợp với sản phẩm khác rồi bán cho khách hàng khác.
Các chuỗi cung ứng khác nhau cung ứng những sản phẩm khác nhau, tuy vậy, mục tiêu của chuỗi cung ứng vẫn là tối thiểu hóa chi phí và tối đa hóa lợi nhuận đem lại. Lợi nhuận của chuỗi là lợi nhuận của toàn chuỗi, tổng lợi nhuận được chia sẻ cho Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 6 tất cả các thành viên tham gia trong chuỗi chứ không riêng lẻ ở bất kỳ giai đoạn nào. Nguồn tạo ra lợi nhuận là từ khách hàng cuối cùng. Với sự tham gia của các thành phần như trên chuỗi cung ứng có thể đi vào hoạt động theo một hệ thống.
Tuy nhiên, sự khác nhau giữa các chuỗi cung ứng cũng hình thành nên các cấu trúc chuỗi khác nhau (Vũ Việt Hằng, 2006)[16]. Sự liên kết giữa các thành viên trong chuỗi cung ứng được thể hiện bằng dòng chảy của sản phẩm, tài chính và thông tin. Các dòng chảy này xuyên suốt và thống nhất trong suốt quá trình hoạt động của chuỗi. Dòng sản phẩm bao gồm các loại sản phẩm, số lượng, chất lượng, vận chuyển, tồn kho từ đầu chuỗi cho tới các khách hàng cuối cùng.
Theo dòng sản phẩm là dòng tài chính, đó là giá cả, chi phí, lợi nhuận cho các thành viên và cho toàn chuỗi. Từ nguồn thông tin về nhu cầu của thành viên trong chuỗi cung ứng, dòng chảy trong chuỗi cung ứng được bắt đầu từ nhà cung ứng các yếu tố đầu vào sản xuất, người sản xuất cung ứng tới nhà phân phối, nhà bán lẻ phân phối tới khách hàng cuối cùng, theo sản phẩm thông tin tài chính cũng được chuyển tới khách hàng cuối cùng. Đến đây là thanh toán của khách hàng và hoạt động của chuỗi tạo lập được giá trị, tạo lợi nhuận, phân phối lại cho các thành viên. Đồng thời là sự phản hồi lại thông tin của các thành viên trong chuỗi[16].
Các đặc điểm của một chuỗi cung ứng: - Phù hợp với chiến lược, mục tiêu kinh doanh.