Mở đầu Chương 2: Một số vấn đề lý luận & thực tiễn về cầu nhập khẩu urê cho nông nghiệp Chương 3: Thực trạng cung, cầu urê ở Việt Nam trong thời gian qua Chương 4: Xác định hàm cầu nhập khẩu urê của Việt Nam, dự báo lượng nhập khẩu urê trong các năm tới và kiến nghị Kết luận Kiến nghị về những nghiên cứu tiếp theo Danh mục các công trình đã công bố liên quan đến đề tài nghiên cứu Danh mục tài liệu tham khảo Phụ lục (kèm theo các chương trình tính toán) 12 CHƯƠNG 2: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CẦU NHẬP KHẨU URÊ CHO NÔNG NGHIỆP 2.1 Vai trò của urê với sản xuất nông nghiệp 2.1 Tầm quan trọng của phân vô cơ Cây trồng luôn đòi hỏi đủ chất dinh dưỡng cho sự phát triển và hoàn thiện chu kỳ sinh trưởng của chúng. Việc cung cấp các chất dinh dưỡng cho cây trồng cần phải cân bằng nhằm đạt hiệu quả tối ưu của từng chất dinh dưỡng sao cho đáp ứng được nhu cầu của từng loại cây trồng và từng loại đất. Có 13 yếu tố dinh dưỡng thiết yếu được chia làm 3 nhóm: nhóm cơ bản nhất là nhóm đa lượng gồm đạm (N), lân (P2O5) và kali (K2O) cây trồng cần nhiều; nhóm cây cần lượng trung bình là nhóm trung lượng gồm S, Mg, Ca và nhóm vi lượng gồm Zn, Cu, Fe, Mn, Mo, B, Cl. Mặc dù cây trồng nhận được các chất dinh dưỡng một cách tự nhiên từ chất hữu cơ và khoáng chất có trong đất nhưng điều đó thường xuyên không đáp ứng đủ nhu cầu của cây trồng.
Chúng ta phải cung cấp bổ sung các chất dĩnh dưỡng cho cây trồng bằng phân bón, một mặt nhằm đáp ứng nhu cầu các chất dinh dưỡng trong chu kỳ sinh trưởng và phát triển của cây trồng, mặt khác bổ sung và giữ cho đất khỏi cằn cỗi sau mùa vụ. Phân vô cơ là nguồn dinh dưỡng quan trọng, đã và đang góp phần chủ yếu làm tăng năng suất cây trồng cũng như ổn định độ phì nhiêu của đất. Nhờ đầu tư thâm canh phân bón và cấy các giống lúa mới, mà Việt Nam thuộc danh sách 10 nước có năng suất lúa cao nhất Thế giới. Kết quả theo dõi nhiều năm ở Việt Nam cũng cho thấy, cứ bón 1 kg nitơ sẽ bội thu từ 10 – 22 kg thóc hoặc 25-35 kg ngô hạt.
Nghiên cứu báo cáo của FAO năm 1987 chỉ ra rằng phân bón đóng góp vào việc tăng tổng sản lượng lớn hơn nhiều so với tăng diện tích và tăng vụ (bảng 2-1). Phân bón có vai trò đặc biệt trong việc cung cấp lương thực của thế giới. Việc sản xuất phân bón cùng với sự phát triển của sản xuất nông nghiệp trong thế kỷ XX đã tạo ra một sản lượng lương thực đáng kể có giá trị cho thế giới. Tuy vậy, khoảng trên 800 triệu người chiếm 13% dân số thế giới vẫn còn thiếu ăn.
13 Bảng 2-1: Đóng góp của các nhân tố đối với tăng sản lượng trồng trọt Đóng góp của nhân tố (%) Khu vực Tăng năng suất do phân bón Tăng diện tích Tăng vụ Châu Á 69 11 20 Châu Phi 57 26 17 Châu Mỹ Latinh 49 39 12 90 nước đang phát triển 63 22 15 Nguồn: FAO – 1987 Sự tiếp tục gia tăng dân số ở nhiều nước đòi hỏi thế giới phải cung cấp nhiều lương thực hơn nữa, nhằm đảm bảo lương thực trong từng nước và cả cho nhập khẩu của nước khác. Tổ chức nông nghiệp và lương thực thế giới (FAO) đã lường trước rằng hai phần ba lượng lương thực cần gia tăng của toàn thế giới sẽ phải dựa vào cải tạo đất đai đang canh tác. Bởi vậy, chúng ta cần nhận thức rõ ràng việc sử dụng phân vô cơ với những mức độ khác nhau là một yêu cầu cơ bản và lâu dài. FAO cũng dự đoán rằng 80% đất đai nông nghiệp trên thế giới sẽ cho năng xuất cao hơn nếu tình trạng dinh dưỡng của đất được cải thiện, trong đó giải pháp cơ bản là dùng phân bón.
Hơn 50 nước đã tham gia vào chương trình phân bón của FAO, tập trung chủ yếu vào vấn đề sản xuất lương thực. Các cuộc thử nghiệm này cho thấy rằng phân vô cơ đã đóng vai trò tích cực trong sản xuất lương thực dưới mọi điều kiện khí hậu và đất đai, đặc biệt là những thông tin về tỉ lệ áp dụng phân bón vô cơ tối ưu phù hợp với điều kiện từng địa phương trong đó có xét đến phương diện bảo vệ môi trường. Phân bón có vai trò giải quyết vấn đề thiếu lương thực và suy dinh dưỡng thường xuyên xảy ra ở nhiều nước đang phát triển ở Châu Á, Tiểu vùng Shahara Châu Phi và Mỹ La tinh. Thiếu lương thực đã gây ra những đợt chết đói đặc biệt nghiêm trọng ở Tiểu vùng Shahara Châu Phi, nơi có tới 43% dân số thường xuyên thiếu ăn.
Vùng này phụ thuộc rất lớn vào sự trợ giúp của phân bón như là một đầu 14 vào cơ bản cho sản xuất nông nghiệp, tuy nhiên mức sử dụng phân mới chỉ 10kg/ha so với 121 kg/ha ở Châu Âu. Nhìn chung các nước dùng càng ít phân bón càng thiếu lương thực, do đó ở Tiểu vùng Shahara năng suất lương thực càng ngày càng giảm. Theo ước tính của các chuyên gia vùng này phải cần tới gấp năm lần mức sử dụng phân bón so với mức sử dụng phân bón hiện nay thì mới có thể sản xuất được lượng lương thực đủ ăn. Nhu cầu tiêu dùng về lương thực của thế giới liên tục tăng, từ 1,8 tỉ tấn năm 1995/96 lên đến xấp xỉ 2 tỉ tấn năm 2004, là năm có sản lượng lớn nhất đạt gần 2 tỉ tấn.
Trong khi đó sản lượng lương thực lại tăng giảm thất thường và giảm mạnh vào những năm thời tiết xấu hoặc thiên tai. Sản lượng lương thực của thế giới kể từ năm 1999/2000 đến nay hầu như thường xuyên không đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng. Fresco, trợ lý tổng giám đốc văn phòng nông nghiệp của FAO, đến năm 2030 dân số thế giới sẽ đạt khoảng 8 tỷ người, hai phần ba trong số đó sống ở đô thị, khi đó nhu cầu về lương thực rất cao, trong ba thập kỷ tới sản lượng lương thực phải tăng 60% so với hiện nay. Hầu hết lượng lương thực gia tăng là do các nước đang phát triển cung cấp thông qua việc thâm canh tăng năng suất và sản lượng của nông nghiệp trên mỗi mùa vụ và mỗi ha canh tác.
Quá trình đô thị hóa làm giảm lực lượng lao động trong nông nghiệp đòi hỏi ngành nông nghiệp phải áp dụng những hình thức cơ giới hóa mới nhằm tăng cường khả năng canh tác của đất, tăng cường sử dụng hiệu quả tất cả các nguồn lực, đặc biệt là nước và gia tăng sử dụng phân vô cơ. Việc sử dụng phân bón hiện nay mới đáp ứng được 43% nhu cầu mỗi năm về dinh dưỡng cần thiết cho cây trồng. Trong tương lai con số này có thể đạt tới 84%. Hội nghị thượng đỉnh về lương thực Thế giới năm 1996, các chính phủ cam kết sẽ phấn đấu giảm 50% số người nghèo đói vào năm 2015, để đạt được điều đó chúng ta có thể phải gia tăng sử dụng phân vô cơ lên 8%, nhất là nước đông dân như Trung Quốc và Ấn Độ, và Châu Phi là vùng nóng ẩm có tỉ lệ xói mòn đất cao.
Theo số liệu của Hiệp hội sản xuất phân bón quốc tế (IFA), tiêu dùng phân vô cơ của thế giới năm 1995/96 đạt khoảng 131 triệu tấn chất dinh dưỡng (N, P2O5 và K2O), tương đương với 400 triệu tấn sản phẩm. Năm 2002/03 tiêu dùng lên tới 142,5 triệu tấn chất dinh dưỡng, năm 2003/04 tăng lên 145,5 triệu tấn và năm 2004/05 lên tới 149,8 triệu tấn, tức là khoảng trên 500 triệu tấn phân vô cơ các loại. 15 2000 S¶n xuÊt vμ tiªu dïng ngò cèc thÕ giíi Tiªu dïng 1950 1900 (triÖu tÊn) 1850 S¶n xuÊt 1800 1750 1700 1995 1997 1999 2001 2003 2005 n¨m Hình 2-1:Cung-cầu lương thực thế giới giai đoạn 1995-2005 2.2 Vai trò của phân đạm urê với sản xuất nông nghiệp Phân đạm là tên chung của các loại phân vô cơ cung cấp chất N cho cây. N đặc biệt quan trọng đối với cây trồng, nó là thành phần quan trọng để hình thành nên các axit amin, prôtêin tạo ra các sắc tố, diệp lục, nguyên sinh chất và hệ thống màng sinh học của tế bào cũng như hệ thống enzyme xúc tác sinh học cho mọi phản ứng trao đổi chất trong tế bào.
N có mặt trong axit nucleic là chất quyết định đặc tính di truyền của mọi cây trồng và tạo nên một số chất hữu cơ có hoạt tính sinh học cao như các chất kích thích tăng trưởng, các vitamin quan trọng và các chất kháng sinh. Bón đạm thúc đẩy quá trình tăng trưởng của cây, làm cho cây nảy chồi tốt, ra nhiều nhánh, tăng chiều cao của cây, lá có kích thước lớn và quang hợp mạnh. Phân đạm cần cho cây trong suốt quá trình sinh trưởng và phát triển, nhất là giai đoạn cây sinh trưởng mạnh, làm tăng năng suất cây trồng. Đối với cây lúa đạm là yếu tố dinh dưỡng quan trọng nhất; đạm là cơ sở cấu tạo nên prôtein, tế bào và mô cây, thúc đẩy quá trình quang hợp tích lũy chất hữu cơ; đạm giữ vai trò quan trọng đối với việc hình thành bộ rễ, thúc đẩy quá trình đẻ nhánh và sự phát triển thân, lá.
Bón đủ đạm lúa đẻ nhánh mạnh, đòng to, bông lớn cho năng suất cao. ở nước ta, trên tất cả các loại đất, với các giống lúa và các mùa vụ đều phải bón đạm mới đảm bảo cho năng suất cao, chất lượng sản phẩm tốt và hiệu quả kinh tế. Vào giai đoạn lúa sinh trưởng mạnh, nếu thiếu đạm lá chuyển sang 16 vàng hay xanh nhợt, lá nhỏ, chiều cao cây giảm, đẻ nhánh ít. Nếu thiếu đạm ở giai đoạn có đòng, khả năng trỗ kém, số hạt trên mỗi bông ít, nhiều hạt lép và năng suất thấp; nếu giai đoạn đẻ nhánh mà thiếu đạm thì năng suất lúa giảm nghiêm trọng.
Tuy nhiên, nếu thừa đạm trước trỗ 35-40 ngày và giai đoạn tượng đòng sẽ làm cho thân lá phát triển mạnh hơn bộ rễ, cây cao lá nhiều, thân nhỏ yếu, dễ bị sâu bệnh, đổ ngã và nhiều hạt lép, năng suất thấp. Đạm có vai trò làm tăng lượng protêin trong gạo, từ đó làm tăng chất lượng gạo, nhất là đối với giống lúa thơm và cao sản. Đồng thời với lượng đạm thích hợp còn ảnh hưởng tới tính chất vật lý và sức đề kháng sâu bệnh của cây lúa. Khi bón đạm cho lúa cần kết hợp làm cỏ, xới đất và sục bùn.