Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ kinh tế của tác giả Nguyễn Thế Hòa với đề tài "Xác định hàm cầu nhập khẩu vật tư nông nghiệp của Việt Nam trong thời kỳ đổi mới (lấy ví dụ phân bón URÊ)" được bảo vệ năm 2007 tại Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, thuộc chuyên ngành Kinh tế, Quản lý & Kinh tế học kinh tế quốc dân (Kinh tế vi mô), mã số 5.05, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Đồng Xuân Ninh và PGS.TS. Hoàng Yến.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Sau 20 năm đổi mới kể từ Đại hội Đảng lần thứ VI (1986), sản xuất nông nghiệp Việt Nam đạt nhiều thành tựu lớn, từ tình trạng khủng hoảng, thiếu đói triền miên vươn lên thành quốc gia xuất khẩu gạo đứng thứ hai thế giới (trên 4 triệu tấn/năm). Tuy nhiên, ngành nông nghiệp phải đối mặt với thực trạng mất cân đối: giá trị nông sản đầu ra thấp trong khi giá các vật tư công nghiệp đầu vào, đặc biệt là phân bón urê, ở mức rất cao.
Đến năm 2003, sản xuất urê trong nước mới đáp ứng khoảng 7,1% nhu cầu canh tác, buộc cả nước phải nhập khẩu hơn 1,9 triệu tấn urê và chịu phụ thuộc hoàn toàn vào biến động giá thế giới cùng áp lực tăng giá dầu mỏ, khí đốt. Dù Nhà máy Phân đạm Phú Mỹ đi vào hoạt động từ tháng 9/2004 với công suất thiết kế 720.000 tấn/năm (đáp ứng 30–35% nhu cầu thị trường), cơ chế quản lý điều tiết giá giao cho nhà máy bán thấp hơn giá nhập khẩu 1%–5% tỏ ra không hiệu quả. Năm 2005, thị trường rơi vào khủng hoảng: các doanh nghiệp e ngại thua lỗ nên ngừng nhập khẩu, dẫn đến khan hiếm nguồn cung trầm trọng, phát sinh hiện tượng đầu cơ, phân bón giả tràn lan, làm suy giảm tiêu dùng urê và ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất cây trồng.
Bên cạnh đó, công tác dự báo nhu cầu urê của các cơ quan quản lý nhà nước thường xuyên sai lệch lớn so với thực tế do thiếu cơ sở định lượng. Khoảng trống nghiên cứu đặt ra là cần xây dựng một mô hình kinh tế lượng vi mô không gộp (disaggregated model) để xác định chính xác hàm cầu nhập khẩu urê, làm cơ sở khoa học thiết lập mô-đun dự báo lượng nhập khẩu phục vụ công tác điều hành vĩ mô.
Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát của luận án là phân tích thực trạng cung cầu urê tại Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, vận dụng lý thuyết cầu nhập khẩu của Leamer để xây dựng hàm cầu nhập khẩu không gộp đối với mặt hàng phân bón urê, thiết lập mô-đun dự báo lượng nhập khẩu cho các năm tiếp theo và đề xuất các giải pháp ổn định, phát triển thị trường urê.
Câu hỏi nghiên cứu
Luận án tập trung giải quyết 5 câu hỏi nghiên cứu cụ thể:
- Liệu có thể đưa biến cung urê trong nước vào mô hình cầu nhập khẩu urê; ý nghĩa thống kê của biến này cao hay thấp và mức độ ảnh hưởng của ngành sản xuất phân đạm nội địa đến cầu nhập khẩu urê như thế nào?
- Độ co giãn của cầu nhập khẩu urê theo giá và thu nhập thực tế của sản xuất nông nghiệp tại Việt Nam có điểm gì phù hợp hoặc khác biệt so với khung tổng quát cho hàng hóa gộp theo đề xuất của Goldstein và Khan?
- Những biến kinh tế vi mô nào tác động đáng kể đến cầu nhập khẩu urê; dòng urê nhập khẩu được xác định như thế nào và lượng nhập khẩu các năm tới được dự báo ra sao?
- Các hàng hóa thay thế urê nhập khẩu cùng các chương trình chuyển giao kỹ thuật canh tác nông nghiệp đóng vai trò như thế nào trong việc giảm cầu urê nhập khẩu mà vẫn duy trì tăng trưởng năng suất và sản lượng?
- Cần thực thi những chính sách vi mô và vĩ mô nào nhằm gia tăng khả năng thay thế urê nhập khẩu, hoàn thiện và phát triển thị trường urê tại Việt Nam?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Cầu nhập khẩu phân bón urê – một dạng cầu dẫn xuất (derived demand) đóng vai trò là yếu tố đầu vào thiết yếu của sản xuất nông nghiệp.
- Phạm vi không gian: Thị trường phân bón và sản xuất nông nghiệp Việt Nam trong mối quan hệ tương tác với thị trường phân bón khu vực và thế giới.
- Phạm vi thời gian: Chuỗi số liệu thực chứng giai đoạn 1986–2006; thực hiện dự báo lượng cầu nhập khẩu cho các năm 2007, 2008 và 2009.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu về mô hình cầu nhập khẩu
Tổng quan tài liệu trong luận án phân loại lý thuyết và mô hình thực chứng về cầu nhập khẩu thành hai trường phái chính:
- Mô hình cầu nhập khẩu vĩ mô (Macroeconomic / Macroeconometric models): Tiếp cận thông qua phương trình cân bằng thương mại và phương trình cán cân thanh toán. Biến phụ thuộc là mức cân bằng thặng dư thương mại, khả năng thanh toán hoặc tỷ lệ xuất nhập khẩu; biến giải thích gồm tỷ giá hối đoái thực tế, tổng thu nhập quốc dân, dự trữ ngoại hối, lãi suất, lạm phát. Hướng tiếp cận này giúp đánh giá chính sách vĩ mô nhưng cung cấp rất ít thông tin về các nhân tố vi mô quyết định từng dòng hàng cụ thể và khả năng dự báo mặt hàng không cao.
- Mô hình cầu nhập khẩu vi mô (Microeconomic / Econometric models): Tiếp cận từ lý thuyết hành vi người tiêu dùng và nhà sản xuất, giải quyết bài toán tối ưu hóa chi phí hoặc lợi ích. Goldstein và Khan (1985) đã khái quát rằng độ co giãn của cầu nhập khẩu gộp theo giá thường nằm trong khoảng $(-1; -0,5)$ và theo thu nhập trong khoảng $(1; 2)$. Dilip Dutta (2001) nghiên cứu hàm cầu nhập khẩu gộp của Ấn Độ (1971–1995) chỉ ra độ co giãn theo giá là $-0,47$, độ co giãn theo thu nhập là $1,48$ và chính sách tự do hóa thương mại có tác động với mức ý nghĩa $p = 0,14$. Aysen Tanyeri-Abur và Parr Rosson (1998, 2002) phát triển mô hình không gộp cho sản phẩm sữa và pho mát của Mexico giai đoạn 1996–2000, thu được độ co giãn giá và thu nhập của sữa tươi lần lượt là $-1,2$ và $1,66$; của pho mát là $-0,85$ và $1,53$.
Tại Việt Nam, Cao Thúy Xiêm nghiên cứu cầu nhập khẩu dưới dạng gộp có bổ sung biến dự trữ ngoại tệ và tỷ giá hối đoái nhưng độ lượng hóa chưa phản ánh rõ các quy luật kinh tế vi mô. Nguyễn Khắc Minh và nhóm nghiên cứu (2004) lượng hóa hàm cầu nhập khẩu ngắn hạn cho 9 nhóm mặt hàng (chất dẻo, dầu mỡ, giấy, hóa chất, ô tô, sợi, thép, thuốc trừ sâu, phụ liệu thuốc lá) giai đoạn quý I/1998 – quý II/2004, đạt kết quả phù hợp với khung Goldstein – Khan (ngoại trừ chất dẻo có độ co giãn theo giá thấp, đạt $-0,28$).
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Các công trình nghiên cứu mô hình không gộp trước đây của cả tác giả quốc tế (như Tanyeri-Abur và Rosson) lẫn trong nước (nhóm Nguyễn Khắc Minh) đều bỏ qua biến cung sản xuất nội địa ($S$), mặc dù các hàng hóa nghiên cứu có tính chất thay thế hoàn hảo hoặc thay thế cao với hàng nhập khẩu. Dựa trên gợi mở lý thuyết của Edward E. Leamer (1988), luận án lựa chọn lấp đầy khoảng trống này bằng cách:
- Thiết lập hàm cầu nhập khẩu không gộp cho phân bón urê dưới dạng hàm cầu dẫn xuất từ bài toán cực tiểu hóa chi phí sản xuất nông nghiệp.
- Đưa trực tiếp biến sản lượng cung cấp urê nội địa ($S$) vào mô hình kinh tế lượng để đo lường mức độ cạnh tranh và thay thế trực tiếp giữa hàng nội và hàng nhập khẩu.
- Xây dựng mô-đun dự báo lượng nhập khẩu cụ thể phục vụ công tác điều hành kế hoạch vật tư ngành nông nghiệp.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và mô hình phân tích
Luận án dựa trên lý thuyết kinh tế vi mô về cầu nhân tố sản xuất (derived demand) và mô hình cầu nhập khẩu của Leamer. Do urê là yếu tố đầu vào của sản xuất nông nghiệp, lượng cầu urê xuất phát từ bài toán cực tiểu hóa chi phí đầu vào của người sản xuất để đạt mức sản lượng đầu ra xác định với công nghệ cho trước.
Theo lý thuyết của Leamer, khi hàng hóa nhập khẩu và hàng hóa nội địa là hàng hóa thay thế hoàn hảo, hàm cầu nhập khẩu có dạng tổng quát:
$$M = f(S, Y, P, P_A)$$
Trong đó:
- $M$: Lượng hàng hóa nhập khẩu thực tế.
- $S$: Biến dịch chuyển hàm cung nội địa (năng lực sản xuất, sản lượng trong nước).
- $Y$: Thu nhập danh nghĩa hoặc quy mô sản lượng ngành sử dụng đầu vào (tổng sản lượng lương thực).
- $P$: Mức giá thực của hàng hóa nhập khẩu.
- $P_A$: Giá của hàng hóa nội địa thay thế không hoàn hảo.
Dạng hàm tuyến tính logarit (Cobb-Douglas / Log-log) được lựa chọn vì cho phép các hệ số hồi quy phản ánh trực tiếp độ co giãn không đổi theo giá, thu nhập và cung nội địa:
$$\ln(M_t) = \beta_0 + \beta_1 \ln(P_t) + \beta_2 \ln(Y_t) + \beta_3 \ln(S_t) + \beta_4 D_t + u_t$$
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp chung: Phương pháp luận duy vật biện chứng, phân tích logic kết hợp lịch sử, phân tích tổng hợp và so sánh thống kê mô tả.
- Phương pháp định lượng và kinh tế lượng:
- Kiểm định tính dừng và nghiệm đơn vị bằng kiểm định Dickey-Fuller (DF).
- Kiểm định tự tương quan bằng thống kê Durbin-Watson (DW).
- Kiểm định đồng tích hợp (Cointegration test) nhằm xác định mối quan hệ cân bằng dài hạn giữa lượng urê nhập khẩu và các biến giải thích vi mô.
- Ước lượng hồi quy bình phương nhỏ nhất (OLS) trên các mô hình hồi quy (4-16) và (4-17).
- Kỹ thuật dự báo kinh tế lượng trên chuỗi thời gian để ước lượng lượng cầu nhập khẩu trung bình giai đoạn 2007–2009.
Nguồn dữ liệu
Dữ liệu thứ cấp dạng chuỗi thời gian 1986–2006 được thu thập từ Tổng cục Thống kê, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Bộ Công Thương, Hiệp hội Phân bón Quốc tế (IFA), Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAO), Hiệp hội Sản xuất Phân bón Châu Âu (EFMA) và Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Mở đầu
Chương này trình bày tính cấp thiết của việc nghiên cứu thị trường và cầu nhập khẩu vật tư nông nghiệp giai đoạn Đổi Mới. Tác giả tổng quan bức tranh nhập khẩu ba loại vật tư nông nghiệp chủ lực của Việt Nam:
- Phân bón vô cơ: Nhu cầu hàng năm khoảng 7,5–7,7 triệu tấn, nhập khẩu chiếm 3,2–3,3 triệu tấn (gồm 1 triệu tấn urê, 700.000 tấn SA, 750.000 tấn DAP, 750.000 tấn kali). Từ 01/04/2000, chính phủ bãi bỏ thuế nhập khẩu và phụ thu đối với urê, SA, DAP, kali, áp thuế VAT 5% và duy trì thuế nhập khẩu phân NPK (5%) và phân lân (10%). Kim ngạch nhập khẩu urê tiêu tốn khoảng 300 triệu USD/năm.
- Hóa chất bảo vệ thực vật (BVTV): Gồm khoảng 450 hợp chất. Do trong nước chưa sản xuất được hoạt chất, kim ngạch nhập khẩu thuốc trừ sâu năm 2005 đạt 243 triệu USD và năm 2006 đạt 299 triệu USD.
- Giống lúa lai: Năng suất bình quân đạt 63 tạ/ha (cao hơn lúa thuần 10–15 tạ/ha), đóng góp thêm 0,8–1,0 triệu tấn thóc/năm trên diện tích khoảng 600.000 ha. Sản xuất trong nước mới đáp ứng 20%, 80% còn lại (khoảng 11.000 tấn/năm, tương đương 15–25 triệu USD) phải nhập khẩu tiểu ngạch từ Trung Quốc với các giống như Bồi tạp 49, Bồi tạp sơn thanh, Nhị ưu 838, Bắc ưu 64, Bắc ưu 903.
Chương 1 đồng thời xác lập mục tiêu, đối tượng, phương pháp luận, 5 câu hỏi nghiên cứu và kết cấu tổng thể của công trình.
Chương 2: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về cầu nhập khẩu urê cho nông nghiệp
Chương 2 cung cấp nền tảng lý thuyết sinh học nông nghiệp, kinh tế học vi mô và thực tiễn thị trường phân đạm toàn cầu:
- Vai trò sinh học và nông học: Trong 13 nguyên tố dinh dưỡng thiết yếu, đạm (N) là thành phần cấu tạo axit amin, protein, diệp lục tố và axit nucleic. Thống kê theo dõi tại Việt Nam cho thấy bón 1 kg N nguyên chất giúp bội thu 10–22 kg thóc hoặc 25–35 kg ngô hạt. Báo cáo của FAO (1987) khẳng định tỷ trọng đóng góp của phân bón vào tăng sản lượng trồng trọt vượt trội so với mở rộng diện tích:
| Khu vực |
Tăng năng suất do phân bón (%) |
Tăng diện tích (%) |
Tăng vụ (%) |
| Châu Á |
69 |
11 |
20 |
| Châu Phi |
57 |
26 |
17 |
| Châu Mỹ Latinh |
49 |
39 |
12 |
| 90 nước đang phát triển |
63 |
22 |
15 |
Phân đạm urê ($CO(NH_2)_2$) chứa hàm lượng nitơ cao nhất trong các loại phân đạm rắn (46% N), chiếm 59% tổng sản lượng phân đạm toàn cầu (tại Trung Quốc chiếm 53%, Ấn Độ chiếm 83%). Phản ứng thủy phân của urê trong đất diễn ra theo cơ chế:
$$CO(NH_2)_2 + H_2O + \text{urease} \rightarrow 2NH_3 + CO_2$$
-
Các nhân tố tác động đến cầu nhập khẩu urê:
- Chính sách hạn chế thương mại: Phân tích tác động của thuế nhập khẩu và hạn ngạch (quota). Quota làm biến mất thặng dư tiêu dùng và tạo ra lợi nhuận địa tô kinh tế cho nhóm nhập khẩu được cấp phép.
- Tỷ giá hối đoái thực tế ($R$): Xác định qua công thức $R = e \cdot (P^*{USD} / P{VND})$. Khi $R \le 1$, động cơ nhập khẩu triệt tiêu.
- Chiến lược phát triển: Nghị quyết Hội nghị TW 7 Khóa VII (25/07/1994) định hướng chuyển dịch từ thay thế nhập khẩu thuần túy sang hướng mạnh về xuất khẩu kết hợp thay thế nhập khẩu có chọn lọc đối với sản phẩm có hiệu quả.
- Sản phẩm thay thế urê: Phân chuồng (nguồn thải hàng năm tại Việt Nam khoảng 70–75 triệu tấn phân chuồng và 38 triệu tấn phân bắc); phân xanh; phân vi sinh cố định đạm (Nitragin, Rhidafo, Azotobacterin, Azozin); phân tổng hợp/hỗn hợp NPK (Bình Điền "Đầu Trâu", Phân bón Miền Nam "Con Ó", NPK Văn Điển, NPK Đồng Nai).
- Kỹ thuật canh tác: Chương trình "Ba giảm, ba tăng" tại Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) giúp nông dân tiết kiệm bình quân 49 kg lúa giống/ha và 28 kg phân đạm/ha (nhờ bảng so màu lá lúa); chương trình Quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) với 5 biện pháp kỹ thuật.
-
Cung cầu phân đạm tại các thị trường quốc tế lớn:
- Khu vực CEE và CIS (Nga): Sở hữu 34,5% trữ lượng khí đốt toàn cầu. Giai đoạn 1989/90 – 1995/96, sản lượng N giảm từ 20 triệu tấn xuống 11 triệu tấn, tiêu dùng nội địa giảm từ 15 triệu tấn xuống 4 triệu tấn, buộc Nga tăng mạnh xuất khẩu giá thấp sang Tây Âu.
- Tây Âu (EU15): 85% sản xuất đạm dựa trên khí đốt. Tái cấu trúc giai đoạn đầu thập niên 1990 làm đóng cửa 66 nhà máy, giảm 25% công suất với chi phí 1,5–2 tỷ Euro. Tỷ lệ nhập khẩu N/tiêu dùng N tăng từ 13,6% (1989/90) lên đỉnh điểm 26,2% (1994/95) rồi giảm xuống 23,5% (1997/98).
- Trung Quốc: Năng lực sản xuất đứng đầu thế giới (đạt 21,8 triệu tấn N và 12 triệu tấn urê năm 1998), 60% dựa trên than đá. Đã chuyển đổi từ kế hoạch hóa tập trung, phân bổ quota sang vận hành theo cơ chế thị trường từ cuối năm 1998.
Chương 3: Thực trạng cung, cầu urê ở Việt Nam trong thời gian qua
Chương 3 lượng hóa bức tranh thực tế về tiêu thụ và nguồn cung phân đạm tại Việt Nam từ năm 1986 đến 2006:
-
Thực trạng tiêu dùng urê:
- Tổng sản lượng lương thực có hạt tăng liên tục từ mức thiếu hụt trước năm 1990 lên trên 39 triệu tấn vào năm 2006.
- Tiêu dùng phân vô cơ tăng nhanh tương ứng: năm 1985/86 tiêu thụ ở mức thấp, đến năm 2004/2005 tổng lượng phân vô cơ tiêu thụ đạt trên 7 triệu tấn.
- Mức độ thâm canh đạm trên mỗi ha đất canh tác tăng mạnh, đưa năng suất lúa Việt Nam lọt vào nhóm 10 nước cao nhất thế giới. Tiêu thụ urê chiếm trên 60% tổng lượng phân đạm các loại.
-
Thực trạng cung ứng urê:
- Sản xuất nội địa: Trước tháng 09/2004, nguồn cung trong nước duy nhất là Nhà máy Phân đạm Hà Bắc (chạy bằng than đá) với sản lượng chỉ đáp ứng khoảng 7,1% nhu cầu (năm 2003 đạt hơn 100.000 tấn). Tháng 09/2004, Nhà máy Đạm Phú Mỹ (sử dụng khí đồng hành bể Cửu Long/Nam Côn Sơn) vận hành, nâng mức tự chủ phân đạm lên 30–35% (công suất thiết kế 720.000 tấn/năm).
- Nhập khẩu urê: Năm 1990, Việt Nam nhập khẩu 786.000 tấn urê; đến năm 2003, lượng nhập khẩu đạt kỷ lục 1,926 triệu tấn. Giai đoạn 2004–2006, lượng nhập khẩu dao động quanh mức 1,0–1,3 triệu tấn/năm.
- Biến động giá và thị trường: Giá urê FOB thế giới tại khu vực Baltic và Persian Gulf tăng vọt trong các năm 2004–2006 (do giá dầu thô vượt ngưỡng 60–70 USD/thùng). Cơ chế áp giá trần cho Đạm Phú Mỹ thấp hơn giá nhập khẩu khiến hệ thống thương mại đầu cơ, gây thiếu hụt nhân tạo và bất ổn thị trường năm 2005.
Chương 4: Xác định hàm cầu nhập khẩu urê của Việt Nam, dự báo lượng nhập khẩu urê trong các năm tới và kiến nghị
-
Phương hướng phát triển ngành sản xuất đạm trong nước:
Quy hoạch phát triển công nghiệp hóa chất phân bón bao gồm mở rộng Đạm Hà Bắc lên 500.000 tấn/năm, đưa Đạm Phú Mỹ chạy tối đa công suất (740.000 tấn/năm), triển khai xây dựng Nhà máy Đạm Ninh Bình (công nghệ khí hóa than cám, 560.000 tấn/năm) và Cụm Khí – Điện – Đạm Cà Mau (800.000 tấn/năm).
-
Xác định hàm cầu nhập khẩu urê:
- Dữ liệu chuỗi thời gian 1986–2006 gồm: Lượng urê nhập khẩu ($URE$), Giá thực của urê trên thị trường Việt Nam ($P$), Tổng sản lượng lương thực ($LT$), Lượng cung urê nội địa ($S$), Diện tích canh tác ($DT$) và Năng suất lúa ($NS$).
- Kết quả kiểm định nghiệm đơn vị (Dickey-Fuller) khẳng định các chuỗi số liệu dừng ở sai phân bậc một. Kiểm định Durbin-Watson khẳng định mô hình không bị tự tương quan nghiêm trọng. Kiểm định đồng tích hợp (Cointegration test) xác nhận tồn tại mối quan hệ cân bằng dài hạn vững chắc giữa lượng nhập khẩu và các biến giải thích vi mô.
- Mô hình hồi quy thực nghiệm đạt độ tin cậy thống kê cao với phương trình xác định dòng cầu nhập khẩu urê:
$$URE = e^{9,295} \cdot P^{\beta_1} \cdot LT^{\beta_2} \cdot S^{\beta_3} \cdot e^{\beta_4 D}$$
-
Phân tích các hệ số co giãn:
- Hệ số co giãn của cầu nhập khẩu theo giá thực mang dấu âm và có ý nghĩa thống kê, phản ánh đúng quy luật cầu nhân tố.
- Hệ số co giãn theo quy mô sản lượng lương thực (đại diện cho thu nhập thực tế ngành trồng trọt) mang dấu dương lớn hơn 1, cho thấy tốc độ tăng nhu cầu nhập khẩu urê cao hơn tốc độ tăng trưởng sản lượng lương thực trong giai đoạn thâm canh mở rộng.
- Hệ số co giãn theo biến cung nội địa mang dấu âm với mức ý nghĩa thống kê cao ($p < 0,01$), chứng minh sản xuất đạm trong nước thay thế trực tiếp và làm giảm áp lực nhập khẩu urê.
-
Dự báo lượng cầu nhập khẩu urê giai đoạn 2007–2009:
Dựa trên các kịch bản tăng trưởng sản lượng lương thực, dự báo giá dầu thô/giá urê thế giới và tiến độ nâng công suất Đạm Phú Mỹ, mô-đun lượng hóa dự báo lượng urê nhập khẩu trung bình hàng năm:
- Năm 2007: Dự báo lượng nhập khẩu khoảng 900.000 – 1.000.000 tấn.
- Năm 2008: Dự báo lượng nhập khẩu khoảng 850.000 – 950.000 tấn.
- Năm 2009: Dự báo lượng nhập khẩu khoảng 800.000 – 900.000 tấn (khi các dự án nội địa ổn định công suất).
-
Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp:
- Sản xuất nông nghiệp Việt Nam vẫn phụ thuộc lớn vào nguồn phân đạm thế giới.
- Kiến nghị nhóm giải pháp vi mô: Hoàn thiện hệ thống phân phối phân bón, triệt tiêu cơ chế bù giá hành chính không thực tế tại Đạm Phú Mỹ, khuyến khích sử dụng phân vi sinh, phân hữu cơ truyền thống và nhân rộng chương trình "Ba giảm, ba tăng".
- Kiến nghị nhóm giải pháp vĩ mô: Đẩy nhanh tiến độ các dự án nhà máy phân đạm (Ninh Bình, Cà Mau), điều hành linh hoạt công cụ thuế VAT và hạn ngạch phù hợp với lộ trình cam kết gia nhập WTO, xây dựng quỹ dự trữ lưu thông phân bón quốc gia để bình ổn giá.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận và học thuật
- Luận án đã vận dụng thành công lý thuyết kinh tế vi mô về cầu dẫn xuất kết hợp với khung mô hình cầu nhập khẩu của Leamer để xây dựng mô hình kinh tế lượng không gộp cho một loại vật tư nông nghiệp cụ thể (phân bón urê).
- Đóng góp học thuật quan trọng của luận án là đã giải quyết thành công việc đưa biến cung nội địa ($S$) vào mô hình cầu nhập khẩu mặt hàng thay thế hoàn hảo với ý nghĩa thống kê cao. Điều này khắc phục hạn chế của các nghiên cứu trước đây (như Aysen Tanyeri-Abur & Parr Rosson cho Mexico hay Nguyễn Khắc Minh cho Việt Nam) vốn bỏ qua biến cung nội địa khi ước lượng hàm cầu nhập khẩu.
- Xác định cụ thể các hệ số co giãn của cầu nhập khẩu urê đối với giá thực, quy mô sản lượng nông nghiệp và sản lượng cung ứng trong nước trong bối cảnh nền kinh tế chuyển đổi sang cơ chế thị trường.
Đóng góp về mặt thực tiễn và chính sách
- Xây dựng mô-đun lượng hóa toán học $URE = e^{9,295} \dots$ hỗ trợ các cơ quan hoạch định kế hoạch (Bộ Nông nghiệp & PTNT, Bộ Công Thương) lập dự báo khoa học và khách quan về lượng urê nhập khẩu hàng năm cho giai đoạn 2007–2009, giảm thiểu sự sai lệch của các phương pháp định tính trước đây.
- Đánh giá định lượng mức độ tổn thương và phụ thuộc của an ninh lương thực Việt Nam vào thị trường phân bón quốc tế.
- Đề xuất hệ thống giải pháp chính sách hoàn chỉnh: chuyển từ can thiệp giá hành chính sang điều tiết thị trường bằng dự trữ quốc gia; kết hợp chính sách phát triển công nghiệp hóa chất đầu vào với chuyển giao kỹ thuật canh tác tiết kiệm vật tư ("Ba giảm ba tăng", IPM, phân bón vi sinh).
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án
- Về phạm vi dữ liệu: Chuỗi số liệu phân tích định lượng chuyên sâu mới chỉ tập trung cho một chủng loại vật tư là phân bón urê; chưa xây dựng được mô hình kinh tế lượng tương tự cho các loại phân bón quan trọng khác như DAP, SA, Kali và NPK do hạn chế về chuỗi dữ liệu lịch sử đồng nhất.
- Về nguồn số liệu vật tư khác: Dữ liệu về hóa chất bảo vệ thực vật chỉ có số liệu tổng kim ngạch nhập khẩu (thuốc trừ sâu), thiếu dữ liệu giá và lượng chi tiết cho 450 hợp chất hoạt chất; dữ liệu giống lúa lai nhập khẩu từ Trung Quốc chủ yếu qua đường tiểu ngạch nên chưa được thống kê thành hệ thống chuỗi thời gian đầy đủ.
Hướng nghiên cứu tiếp theo
- Mở rộng mô hình hàm cầu nhập khẩu không gộp cho các chủng loại phân bón vô cơ khác (DAP, SA, Kali) và nhóm hóa chất bảo vệ thực vật khi có đủ điều kiện thống kê chuỗi dữ liệu.
- Nghiên cứu mô hình cân bằng tổng thể vi mô đánh giá tác động tương hỗ giữa việc tự do hóa nhập khẩu vật tư nông nghiệp theo cam kết WTO với thu nhập thực tế và phúc lợi của hộ nông dân trồng lúa tại hai vùng trọng điểm ĐBSCL và Đồng bằng sông Hồng.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu chuyên khảo có giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn cao:
- Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên ngành Kinh tế học, Kinh tế vi mô, Kinh tế nông nghiệp: Luận án cung cấp một nghiên cứu thực nghiệm mẫu mực về việc ứng dụng lý thuyết cầu dẫn xuất, mô hình Leamer và kỹ thuật kinh tế lượng chuỗi thời gian (kiểm định nghiệm đơn vị DF, kiểm định đồng tích hợp, ước lượng hồi quy OLS) cho các nghiên cứu cấp độ mặt hàng vi mô không gộp. Đặc biệt, phương pháp đưa biến cung nội địa vào hàm cầu nhập khẩu tại Chương 2 và Chương 4 là tài liệu tham khảo giá trị.
- Đối với cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Công Thương, Bộ Nông nghiệp và PTNT): Nội dung Chương 3 và Chương 4 cung cấp phương pháp luận và mô-đun dự báo cụ thể phục vụ công tác cân đối cung cầu vật tư chiến lược, xây dựng hạn ngạch thuế quan và hoạch định chính sách đầu tư phát triển ngành công nghiệp hóa chất phân bón quốc gia.
- Đối với các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh xuất nhập khẩu phân bón: Bức tranh phân tích thị trường toàn cầu (CEE, CIS, EU15, Trung Quốc) và mô hình biến động giá tại Chương 2 và Chương 3 giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực phân tích thị trường, quản trị rủi ro giá nguyên liệu và lập kế hoạch kinh doanh nhập khẩu.
Câu hỏi thường gặp
1. Tại sao tác giả lựa chọn phân bón urê làm trường hợp điển hình để nghiên cứu hàm cầu nhập khẩu vật tư nông nghiệp?
Phân bón urê là loại phân vô cơ chứa hàm lượng đạm cao nhất (46% N) và chiếm tới 59% tổng sản lượng phân đạm toàn cầu. Tại Việt Nam giai đoạn 1986–2006, urê là vật tư nông nghiệp nhập khẩu có khối lượng và kim ngạch lớn nhất (thường xuyên chiếm khoảng 300 triệu USD/năm), giữ vai trò quyết định đối với năng suất lúa và an ninh lương thực quốc gia. Đồng thời, chuỗi số liệu thống kê lịch sử về lượng nhập khẩu, giá cả và sản xuất nội địa của urê tương đối đầy đủ và liên tục so với các vật tư khác như thuốc BVTV hay giống lúa lai.
2. Điểm mới về mặt phương pháp kinh tế lượng của luận án so với các nghiên cứu trước đây là gì?
Các nghiên cứu hàm cầu nhập khẩu không gộp trước đây thường chỉ giả định hàng nội địa và hàng nhập khẩu là thay thế không hoàn hảo nên chỉ đưa biến giá và thu nhập vào mô hình. Luận án của tác giả Nguyễn Thế Hòa đã vận dụng lý thuyết của Leamer cho trường hợp hàng hóa thay thế hoàn hảo bằng cách đưa trực tiếp biến cung sản xuất trong nước ($S$) vào phương trình hồi quy. Kết quả kiểm định thống kê cho thấy biến này có ý nghĩa thống kê cao ($p < 0,01$), phản ánh chính xác tác động thay thế nhập khẩu khi các nhà máy trong nước như Đạm Phú Mỹ đi vào vận hành.
3. Những giải pháp kỹ thuật nông nghiệp nào được chứng minh giúp giảm áp lực nhập khẩu urê?
Luận án chỉ ra ba nhóm giải pháp kỹ thuật cụ thể: (1) Chương trình "Ba giảm, ba tăng" tại ĐBSCL giúp giảm trung bình 28 kg đạm/ha nhờ kỹ thuật bón phân theo bảng so màu lá lúa và tiết kiệm 49 kg giống/ha; (2) Chương trình Quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) giúp tối ưu hóa hệ sinh thái đồng ruộng; (3) Tận dụng nguồn phân hữu cơ truyền thống (70–75 triệu tấn phân chuồng/năm) kết hợp sử dụng các loại phân vi sinh cố định đạm (Nitragin, Rhidafo, Azotobacterin, Azozin).
4. Kết quả ước lượng độ co giãn trong luận án có quan hệ như thế nào với nhận định của Goldstein và Khan?
Goldstein và Khan (1985) đề xuất rằng độ co giãn theo giá của cầu nhập khẩu gộp thường nằm trong khoảng $(-1; -0,5)$ và theo thu nhập trong khoảng $(1; 2)$. Luận án xác định đối với một mặt hàng vật tư đầu vào không gộp như urê, độ co giãn theo quy mô sản lượng lương thực (đại diện cho thu nhập nông nghiệp) lớn hơn 1, phù hợp với xu thế thâm canh tăng vụ mạnh mẽ của nông nghiệp Việt Nam trong thời kỳ Đổi Mới, trong khi độ co giãn theo giá phản ánh tính chất của một yếu tố đầu vào thiết yếu ít co giãn trong ngắn hạn.
5. Sự cố thị trường phân bón năm 2005 tại Việt Nam phản ánh bất cập gì trong chính sách quản lý?
Năm 2005, giá dầu thô thế giới tăng cao đẩy giá urê nhập khẩu lên cao. Nhà nước giao nhiệm vụ cho Nhà máy Đạm Phú Mỹ bán giá thấp hơn giá nhập khẩu 1%–5% nhằm bình ổn thị trường. Tuy nhiên, mức chênh lệch này không kiểm soát được dòng lưu thông thực tế, dẫn đến việc các nhà nhập khẩu dừng nhập hàng vì sợ lỗ, gây ra thiếu hụt nguồn cung nghiêm trọng, kích thích đầu cơ và phân bón giả tràn lan. Điều này chứng minh biện pháp can thiệp giá hành chính trực tiếp đối với doanh nghiệp sản xuất không mang lại hiệu quả bình ổn thị trường.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thế Hòa là công trình nghiên cứu kinh tế lượng vi mô chuyên sâu, giải quyết thành công bài toán lượng hóa hàm cầu nhập khẩu phân bón urê tại Việt Nam giai đoạn 1986–2006. Bằng việc vận dụng sáng tạo khung lý thuyết Leamer và đưa thành công biến cung sản xuất nội địa vào mô hình thực chứng, công trình đã xác lập phương trình dòng cầu nhập khẩu $URE = e^{9,295} \dots$ và xây dựng mô-đun dự báo tin cậy cho giai đoạn 2007–2009. Các kết quả nghiên cứu và hệ thống kiến nghị chính sách trong luận án cung cấp cơ sở khoa học quan trọng cho công tác quản lý vĩ mô, quy hoạch công nghiệp phân bón và bảo đảm an ninh lương thực quốc gia trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế.